Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2025/HNGĐ-PT

Ngày 18 - 12 - 2025

V/v "Ly hôn, tranh chấp nuôi con"

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Trường Sơn.

Các Thẩm phán: Bà Trần Thanh Hải và bà Hoàng Ngọc Liễu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ: Bà Khà Thị Liên - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ (Cơ sở C) xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 35/2025/TLPT-HNGĐ ngày 05 tháng 11 năm 2025. Do Bản án sơ thẩm số: 25/2025/HNGĐ-ST ngày 25 tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 12 - Phú Thọ bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 44/2025/QĐPT-HNGĐ ngày 01 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Bùi Phương M, sinh năm 1997. Căn cước công dân: [...] do Cục CSQLHC về TTXH cấp ngày 28/6/2021. HKTT: xóm K, xã N, tỉnh Phú Thọ. Tạm trú tại: Khu E, tập thể A, phường H, tỉnh Phú Thọ (có mặt).
  2. Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh B, sinh năm 1995. Căn cước công dân: [...] do Cục CSQLHC về TTXH cấp ngày 11/8/2021.Trú tại: Khu E, xã C, tỉnh Phú Thọ (có mặt).
  3. Người kháng cáo: Nguyên đơn chị Bùi Phương M.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  1. Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn chị Bùi Phương M trình bày:

    Về quan hệ hôn nhân:

    Chị M và anh Nguyễn Thanh B có đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện tại UBND thị trấn C, huyện C ngày 26/7/2023 (Nay là UBND xã C, tỉnh Phú Thọ). Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc với nhau được một thời gian ngắn thì nảy sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống. Sau khi sinh con vào tháng 8 năm 2023 chị M bị trầm cảm nên đến tháng 02 năm 2024 chị M phải về nhà bố mẹ đẻ tại xóm K, xã N để ở và điều trị, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay, trong khoảng thời gian ly thân anh B cũng không gọi điện, hỏi han, thỉnh thoảng chị vẫn về thăm con. Nay chị M nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể hàn gắn, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh B.

    Về con chung:

    Chị M và anh B có một con chung tên là Nguyễn Diệu H, sinh ngày 18/8/2023, hiện tại con đang ở với anh B và ông bà nội. Khi ly hôn nguyện vọng của chị M muốn được trực tiếp nuôi con bởi vì chị có đủ thời gian chăm sóc, bù đắp cho con. Hiện tại sức khỏe của chị M đã ổn định và chị đang làm tại Phòng khám răng hàm mặt tại phường H, thu nhập hàng tháng từ 7 triệu - 8 triệu đồng nên có đủ khả năng kinh tế để nuôi con. Nếu được quyền nuôi con chị M sẽ để con ở với ông bà ngoại ở xóm K, xã N, tỉnh Phú Thọ, hàng ngày chị sẽ đi về cùng với ông bà chăm sóc con, chị đi làm cách nhà khoảng 20km nên có thể đi về trong ngày. Chị M cũng thừa nhận trong khoảng thời gian chị bị ốm, anh B và ông bà nội đã chăm sóc con chu đáo, anh B rất yêu thương con, tuy nhiên chị M vẫn mong Tòa xem xét để chị được trực tiếp nuôi con. Chị M yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con 3.000.000 đồng/1 tháng cho đến khi cháu H đủ 18 tuổi.

    Về tài sản chung và công nợ chung:

    Không có nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

    Về án phí:

    Chị tự nguyện nộp toàn bộ án phí ly hôn.

  2. Tại bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa bị đơn anh Nguyễn Thanh B trình bày:

    Về quan hệ hôn nhân:

    Anh B xác nhận thời gian, điều kiện kết hôn và có đăng ký kết hôn như lời khai chị M là đúng. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc với nhau được một thời gian ngắn thì này sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống. Sau khi sinh con chị M bị trầm cảm và được khoảng 4 tháng thì chị M về nhà ngoại ở xóm K, xã N để điều trị thỉnh thoảng mới về thăm con, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Trong khoảng thời gian ly thân giữa hai bên vẫn mâu thuẫn căng thẳng và không thể hàn gắn được tình cảm, nay chị M làm đơn ly hôn, anh B đồng ý ly hôn.

    Về con chung:

    Anh B và chị M có một con chung tên là Nguyễn Diệu H, sinh ngày 18/8/2023, hiện tại con đang ở với anh B và ông bà nội, sức khỏe tốt. Nguyện vọng của anh B muốn được trực tiếp nuôi con bởi vì anh có đủ khả năng kinh tế. Kể từ khi chị M bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống anh và gia đình vẫn chăm sóc cháu H rất tốt. Nay quan điểm anh B cũng xin được trực tiếp nuôi con và chưa đề nghị chị M cấp dưỡng nuôi con.

    Về tài sản chung, công nợ chung:

    Không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.

  3. Người làm chứng:
    1. Ông Nguyễn Văn P - Trưởng khu E, xã C cho biết: Chị Bùi Phương M và anh Nguyễn Thanh B kết hôn và cưới hỏi theo phong tục địa phương. Sau khi kết hôn chị M sinh con được khoảng 03 tháng thì bỏ về nhà bố mẹ đẻ để lại con cho anh B và bố mẹ anh B nuôi từ đó đến nay, còn mâu thuẫn vợ chồng chỉ nghe anh B nói liên quan đến vấn đề tiền bạc còn cụ thể như nào ông không nắm rõ. Sau khi chị M về nhà ngoại, anh B và bố mẹ anh đã nuôi dạy cháu Diệu H rất chu đáo, cháu khỏe mạnh. ngoan ngoãn và phát triển tốt, hiện tại cháu đang học ở Trường mầm non S cách nhà anh B khoảng 300m, thuận lợi cho việc đi học của cháu. Còn chị M từ sau khi về ngoại ở cũng thỉnh thoảng mới quay về thăm con.
    2. Bà Nguyễn Thị H1 - Mẹ đẻ của anh B cho biết: Chị M và anh B kết hôn vào ngày 26/7/2023. Ngày 18/8/2023 vợ chồng sinh con là cháu Nguyễn Diệu H. Sau khi sinh con được khoảng 4 tháng thì chị M tự ý bỏ về nhà ngoại để con cho B và gia đình bà H1 nuôi từ đó đến nay, còn cụ thể mâu thuẫn giữa M và B như nào bà không nắm rõ. Khi chị M bỏ về nhà ngoại cũng không nói gì với gia đình bà về việc chăm sóc cháu H. Khoảng nửa tháng sau khi về thì chị M mới thông tin là bị trầm cảm. Gia đình bà H1 nuôi cháu H từ lúc cháu được 4 tháng tuổi đến nay, hiện tại sức khỏe của cháu rất tốt. Khoảng 02 tháng chị M mới sang thăm con một lần, mỗi lần chơi với con được vài tiếng lại về. Nguyện vọng của gia đình nếu chị M anh B ly hôn thì xin Tòa giao cháu H cho anh B trực tiếp nuôi dưỡng, bởi hiện tại cháu H đang học lớp 2 tuổi Trường Mầm non S gần nhà nên việc đưa đón cháu thuận tiện. Mặt khác từ khi đẻ ra cháu bị thiếu tháng nên việc chăm sóc rất vất vả, gia đình bà đã chăm sóc cháu chu đáo và dành nhiều tình cảm, đồng thời anh B cũng đủ điều kiện kinh tế để nuôi cháu mà không đề nghị chị M cấp dưỡng nuôi con cùng.

Tại Bản án số: 25/2025/HNGĐ-ST ngày 25 tháng 9 năm 2025 của TAND khu vực 12 - Phú Thọ đã quyết định:

Căn cứ các Điều 51, 55, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 2 Điều 8 Nghị quyết 04/2019/NQ - HĐTP về việc áp dụng án lệ. Án lệ số 54/2022/AL về “Xác định quyền nuôi con dưới 36 tháng tuổi trong trường hợp người mẹ không trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con” được lựa chọn từ Quyết định giám đốc thẩm số 01/2019/HNGĐ-GĐT ngày 27/2/2019 và được công bố theo Quyết định số 323/QĐ-CA ngày 14 tháng 10 năm 2022 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/ QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội (Sửa đổi bổ sung Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015).

Căn cứ điểm a, khoản 5 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Bùi Phương M và anh Nguyễn Thanh B.
  2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Diệu H, sinh ngày 18/8/2023 cho anh Nguyễn Thanh B trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu Diệu H đủ 18 tuổi và có khả năng lao động hoặc đến khi có sự thay đổi khác. Anh B chưa yêu cầu chị M phải cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn.
  3. Về tài sản chung, công nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 07/10/2025, nguyên đơn chị Bùi Phương M kháng cáo Bản án sơ thẩm số: 25/2025/HNGĐ-ST ngày 25/9/2025 của TAND khu vực 12 - Phú Thọ và đề nghị được quyền nuôi con chung là cháu Nguyễn Diệu H, sinh năm 2023.

Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn là người kháng cáo giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và nội dung kháng cáo.

* Đại diện VKSND tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm:

Về tố tụng:

Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Thẩm phán và Thư ký Tòa án cấp phúc thẩm đã chấp hành đúng, đầy đủ các quy định của BLTTDS về thụ lý vụ án, thời hạn chuẩn bị xét xử. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.

Về nội dung:

Đề nghị Hội đồng xét xử, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn chị Bùi Phương M. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số: 25/2025/HNGĐ-ST ngày 25/9/2025 của TAND khu vực 12 - Phú Thọ.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. [1] Về tố tụng:

    Cấp sơ thẩm đã xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, thụ lý và giải quyết vụ án đúng thẩm quyền về loại việc và lãnh thổ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

    Ngày 25/9/2025 Tòa án nhân dân khu vực 12 - Phú Thọ xét xử sơ thẩm; Ngày 07/10/2025 nguyên đơn kháng cáo. Đơn kháng cáo trong thời hạn luật định nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

  2. [2] Về nội dung vụ án:

    2.1. Về quan hệ hôn nhân: chị Bùi Phương M và anh Nguyễn Thanh B có quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, tình cảm không thể hàn gắn nên đều có nguyện vọng xin được ly hôn. Căn cứ vào Điều 51, Điều 55 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 Cấp sơ thẩm xử công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị M và anh B là đúng quy định của pháp luật.

    2.2. Xét kháng cáo của nguyên đơn về yêu cầu xin được nuôi con.

    Chị Bùi Phương M và anh Nguyễn Thanh B có một con chung là Nguyễn Diệu H, sinh ngày 18/8/2023, hiện cháu đang sinh sống cùng với anh B và ông bà nội tại khu E, xã C, tỉnh Phú Thọ.

    Trong quá trình giải quyết vụ án anh B và chị M đều đã cung cấp cho Tòa chứng cứ chứng minh khả năng kinh tế, điều kiện về chỗ ở, về thời gian đảm bảo để được nuôi con.

    Tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: "... Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con...".

    Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy trong vụ án này chị Bùi Phương M đã về nhà bố mẹ đẻ sinh sống, để lại cháu H mới được 04 tháng tuổi cho anh Nguyễn Thanh B nuôi dưỡng từ đó cho đến nay, chỉ thỉnh thoảng mới về thăm con. Trong quá trình nuôi dưỡng con anh B và bố mẹ anh đã quan tâm chăm lo đời sống cho cháu H, được ăn học đầy đủ, nuôi dưỡng cháu có sức khỏe tốt, không có xảy ra hiện tượng anh B có hành vi bạo lực, hành hạ, ngược đãi, đánh đập đối với con, chưa làm tổn thương, ảnh hưởng về mặt tâm lý hoặc hạn chế về khả năng sự phát triển bình thường đối với cháu. Hiện tại, cháu Diệu H khỏe mạnh, ngoan ngoãn, phát triển tốt và đang học tại trường mầm non cách nhà anh B khoảng 300m, rất thuận lợi cho việc đi học của cháu. Hơn nữa tại phiên tòa chị M cũng xác định nếu được quyền nuôi con thì sẽ đưa cháu H về sống cùng bà ngoại tại xã N, tỉnh Phú Thọ, cách nơi ở và làm việc của chị M khoảng 0km. Do đó việc giao cháu H cho chị M nuôi dưỡng tại thời điểm này sẽ gây nên sự xáo trộn trong cuộc sống của cháu.

    Mặt khác, theo kết quả khám bệnh ngày 21/12/2023 của Bệnh viện Đ đã kết luận chị Bùi Phương M bị trầm cảm mức độ nặng, lo âu mức độ nhẹ, có rối loạn giấc ngủ. Ngày 25/01/2024 chị M khám lại tại Bệnh viện Đ đã kết luận: Trầm cảm mức độ nặng (lưu ý: có ý nghĩ tự sát), lo âu mức độ vừa, có rối loạn giấc ngủ. Như vậy sau 01 tháng điều trị, bệnh tình của chị M không thuyên giảm mà diễn biến nặng hơn và cũng từ đó đên nay chị M cũng không cung cấp được cho Tòa án bất kỳ tài liệu chứng cứ nào chứng minh bản thân đã khỏi bệnh hay bệnh tình đã ổn định.

    Cấp sơ thẩm nhận định tính chất, các tình tiết, sự kiện pháp lý trong vụ án này tương tự như các tình tiết, sự kiện pháp lý trong Án lệ số 54/2022/AL về “Xác định quyền nuôi con đưới 36 tháng tuổi trong trường hợp người mẹ không trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con” nên đã giao cháu Nguyễn Diệu H cho anh Nguyễn Thanh B trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp và đảm bảo quyền lợi của cháu.

    Từ những phân tích và nhận định nêu trên Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn chị Bùi Phương M, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.

[3] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên chị M phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định khoản 1 Điều 29 Nghị Quyết 326/2016/ UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 29 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn chị Bùi Phương M.
  2. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số: 25/2025/HNGĐ-ST ngày 25 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Phú Thọ.
  3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.
  4. Về án phí: Chị Bùi Phương M phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình phúc thẩm, được đối trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0003157 tại Thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ ngày 09/10/2025. Xác nhận chị M đã nộp đủ án phí.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án (Ngày 18/12/2025)./.

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tối cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - TAND khu vực 12 – Phú Thọ;
  • - Phòng THADS khu vực 12 – Phú Thọ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Trường Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43/2025/HNGĐ-PT ngày 18/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 43/2025/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 18/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn: Chị Bùi Phương Mai Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh Bình Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger