|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 TỈNH QUẢNG TRỊ Bản án số: 42/2025/HS-ST Ngày 17-12-2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Mạnh Lưu
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Tri
Ông Lê Hữu Tuấn
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Xuân Hồng – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 7, tỉnh Quảng Trị.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tố Quỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 12 năm 2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân khu vực 7 - Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 43/2025/TLST-HS ngày 25/11/2025 và theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2025/QĐXXST-HS ngày 04/12/2025, đối với bị cáo:
Trần Văn T, sinh ngày 04/10/1997 tại tỉnh Quảng Trị; Nơi cư trú: Thôn T, xã L, tỉnh Quảng Trị; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: lớp 9/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Trần Văn L (đã chết) và bà Lê Thị T1, sinh năm 1972; Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ ba; Tiền sự: không;
Tiền án (có 01 tiền án): Ngày 29/6/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị (nay là TAND khu vực 7, tỉnh Quảng Trị) xử phạt 18 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số 33/2022/HS-ST, tổng hợp hình phạt chung của hai tội buộc bị cáo phải chấp hành là 33 tháng tù (Chấp hành xong hình phạt ngày 06/02/2024).
Nhân thân: Ngày 09/10/2017, bị Công an thị trấn L, huyện H, tỉnh Quảng Trị (cũ) xử phạt 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 33/QĐ-XPVPHC (đã thi hành xong ngày 26/10/2017)
Ngày 09/5/2018, bị Công an thị trấn L, huyện H, tỉnh Quảng Trị (cũ) xử phạt 1.000.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 19/QĐ-XPVPHC (chưa thi hành nhưng đã hết thời hiệu)
Ngày 23/6/2021, bị Công an thị trấn L, huyện H, tỉnh Quảng Trị (cũ) xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 09/QĐ-XPHC (đã thi hành xong ngày 12/4/2022)
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 13/4/2025, tạm giam từ ngày 22/4/2025 đến nay tại Trại tạm giam số 01, Công an tỉnh Q; Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Cháu Lê Thái B, sinh ngày 04/01/2011; Địa chỉ: Thôn T, xã L, tỉnh Quảng Trị; Có mặt
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đồng thời là người đại diện hợp pháp của cháu Lê Thái B: Bà Lê Thị T1, sinh năm 1972; Địa chỉ: Thôn T, xã L, tỉnh Quảng Trị (là mẹ đẻ của cháu Lê Thái B); Có mặt.
- Người làm chứng: Anh Nguyễn N, sinh năm 1994; Địa chỉ: Địa chỉ: Thôn V, xã L, tỉnh Quảng Trị; Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ 45 phút ngày 13/4/2025, T ở nhà của mình tại khóm T, thị trấn L, huyện H, tỉnh Quảng Trị (nay là thôn T, xã L, tỉnh Quảng Trị) thì nảy sinh ý định mua ma túy để sử dụng. Do quen biết với Nguyễn N, sinh năm 1994, trú tại khóm V, thị trấn L, huyện H, tỉnh Quảng Trị (nay là thôn V, xã L, tỉnh Quảng Trị) nên T sử dụng tài khoản Messenger "Trần Văn T" gọi đến tài khoản "N" nhờ N chỉ chỗ mua ma túy thì N đồng ý và hẹn gặp ở nhà N. Khoảng 09 giờ cùng ngày, T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 74AH .058.04 đến nhà N chở N đến quán C ở khóm V, thị trấn L, huyện H, tỉnh Quảng Trị để lấy xe mô tô Nam gửi trước đó. Sau khi lấy xe, mỗi người điều khiển xe của mình theo đường T đến bờ sông S thuộc thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Quảng Trị (nay là xã L, tỉnh Quảng Trị) rồi đưa xe mô tô lên đò sang Lào. Khi đến đất Lào, N dẫn T đến một ngôi nhà sàn ở bên đường đứng đợi khoảng 02 phút thì nhìn thấy một thanh niên người Lào không quen biết (quá trình điều tra không xác định được lai lịch) đi từ trên nhà sàn xuống. Theo hướng dẫn của N, T đưa cho người này 2.000.000 đồng để mua ma túy. Lúc này, N bỏ một túi xách bằng vải màu đen (loại túi đeo chéo) vào kẹp giá xe phía trước xe của N rồi giao cho người thanh niên nói trên điều khiển xe đi. Do không thấy N giao dịch mua bán ma túy nên T hỏi N "Nam, mi không lấy à?” thì N trả lời "Hắn tự biết".
T và N đứng đợi khoảng 10 phút thì nam thanh niên quay lại trả xe cho N, sau đó đưa cho T 01 túi ni lông màu xanh và 01 túi ni lông màu hồng, loại túi Zip được quấn chung bằng nhiều lớp băng keo trong suốt. T không mở ra kiểm đếm mà cầm ở tay, lúc này T thấy N mở cốp xe, bên trong cốp xe có 01 cuộn băng keo màu đen nên T cầm lấy bỏ vào túi quần Jean đang mặc rồi rủ N và người bán ma túy cho mình lên nhà sàn cùng sử dụng ma túy thì N và người thanh niên đồng ý.
Người thanh niên dẫn T và N lên nhà sàn, T lấy từ túi nilong màu xanh vừa mua được khoảng 10 đến 12 viên ma túy dạng viên nén màu hồng rồi cho một người đàn ông không quen biết đang ở trong nhà sàn 02 viên sau đó cùng người thanh niên sử dụng hết số ma túy vừa lấy ra, N không sử dụng.
Số ma túy còn lại, T cất giấu cụ thể như sau: 01 túi ni lông màu hồng, mặt ngoài in chữ A màu trắng, T nhặt 01 mảnh giấy báo ở nhà sàn gói lại, lấy cuộn băng keo màu đen lấy trong cốp xe của N trước đó quấn túi ni lông màu hồng lại rồi bỏ vào túi ở tay áo ấm đang mặc; 01 túi ni lông màu xanh, ở mặt ngoài miệng túi có một đường viền ngang màu đỏ, T lấy các lớp băng keo trong đã mở ra trước đó quấn túi ni lông màu xanh cầm ở tay trái rồi cùng N trở về Việt Nam theo đường cũ.
Khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, khi xuống đò đến bờ sông S phía Việt Nam, N điều khiển xe đi trước, T đi sau; khi đến đường mòn hướng từ bờ sông S lên thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Quảng Trị (nay là xã L, tỉnh Quảng Trị) cách bờ sông S khoảng 100m thì bị tổ công tác Đồn Biên phòng T2 phối hợp với lực lượng chức năng tuần tra kiểm soát địa bàn phát hiện. Khi phát hiện lực lượng chức năng, T ném 01 túi ni lông màu xanh, loại túi Zip đang cầm ở tay trái về phía bên phải đường theo hướng di chuyển thì bị lực lượng chức năng khống chế. Tổ công tác yêu cầu T đến nhặt túi nilong màu xanh nói trên mở ra kiểm tra, phát hiện bên trong chứa 165 viên nén màu hồng, hình trụ tròn và 02 viên nén màu xanh, hình trụ tròn (nghi là ma túy tổng hợp). Kiểm tra bên trong túi ở tay áo ấm T đang mặc phát hiện 01 túi ni lông màu hồng, mặt ngoài in chữ A màu trắng, loại túi Zip, được gói bằng một mảnh giấy báo bên ngoài quấn nhiều lớp băng keo màu đen, bên trong chứa 172 viên nén màu hồng, hình trụ tròn và 02 viên nén màu xanh, hình trụ tròn (nghi là ma túy tổng hợp).
Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ các viên nén có đặc điểm nêu trên, niêm phong trong 02 phong bì ký hiệu lần lượt MT1, MT2 và thu giữ các đồ vật có liên quan.
- Quá trình điều tra Nguyễn N khai nhận ngày 13/4/2025 T có liên lạc nhờ chỉ chỗ mua ma túy nhưng N từ chối, đồng thời rủ T cùng sang Lào để mua gỗ thì T đồng ý. Cả hai cùng sang Lào đến nhà sàn của một thanh niên không quen
biết. N thấy T đưa tiền cho người thanh niên, người này nhận tiền rồi mượn xe mô tô của N điều khiển đi khoảng 10 phút rồi quay lại trả xe cho N. Khi nhận lại xe, Nam bận kiểm tra xe nên không biết việc T và người thanh niên nói trên trao đổi gì, sau đó, T rủ N và thanh niên người Lào lên nhà sàn cùng sử dụng ma túy thì N đi theo, tuy nhiên do không có nhu cầu sử dụng ma túy nên N xuống khỏi nhà sàn để đi khu vực lân cận xem gỗ. N không cùng sử dụng ma túy với T, không biết T lấy ma túy chia nhỏ ra cất giấu và đem về Việt Nam. Đối với lời khai của Trần Văn T về việc Nguyễn N đưa T sang Lào mua ma túy, Cơ quan điều tra đã tiến hành các hoạt động điều tra cần thiết nhưng không có cơ sở để kết luận.
Kết luận giám định số 457/KL-KTHS ngày 16/4/2025 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: Mẫu các viên nén hình trụ tròn, màu hồng (được đựng trong phong bì giấy ký hiệu MT1) gửi đến giám định là ma tuý, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu là 14,65g; Mẫu các viên nén hình trụ tròn, màu hồng (được đựng trong phong bì giấy ký hiệu MT2) gửi đến giám định là ma tuý, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu là 14,52g.
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục IIC, STT: 247 Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
Mẫu 04 viên nén hình trụ tròn, màu xanh được niêm phong gửi đến giám định không có chất ma túy. Tổng khối lượng mẫu là 0,35 gam.
Về vật chứng:
- Tạm giữ của Trần Văn T: 337 viên nén màu hồng và 04 viên nén màu xanh, hình trụ tròn, bề mặt mỗi viên có in chìm chữ WY. Sau giám định hoàn lại số lượng ma túy và toàn bộ bao gói đựng trong 01 túi niêm phong ký hiệu mã số 457/2025/PC09 có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q; 01 túi nilong màu xanh, loại túi Zip, mặt ngoài miệng túi có đường viền ngang màu đỏ, kích thước (09 x 6,5)cm, đã qua sử dụng; Nhiều lớp băng keo trong suốt không xác định được hình dạng, kích thước, đã qua sử dụng; 01 túi nilong màu hồng, mặt ngoài in chữ A màu trắng, loại túi Zip, kích thước (09 x 6,5)cm, đã qua sử dụng; Nhiều lớp băng keo màu đen không xác định được hình dạng, kích thước, đã qua sử dụng; 01 mảnh giấy báo, không xác định được hình dạng, kích thước, đã qua sử dụng; 01 áo ấm bằng vải màu đen, tay áo dài, đã qua sử dụng; 01 thẻ sim Vinaphone, trên sim in dãy số [...] 11604020931.
- Tạm giữ 02 que test thử nhanh chất ma túy dùng để thử nhanh chất túy trong nước tiểu của Trần Văn T và Nguyễn N.
- Đã tạm giữ và đã trả lại cho cháu Lê Thái B 01 điện thoại di động màn hình
cảm ứng, vỏ lưng máy màu xanh, nhãn hiệu OPPO, đã qua sử dụng.
- Đã tạm giữ và đã trả lại cho bà Lê Thị T1 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu sơn trắng, số khung RLHJA3936RY202937, số máy JA70E-0581235, biển kiểm soát 74AH - 058.04, đã qua sử dụng và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 74 003828 do Công an huyện H (cũ) cấp ngày 11/10/2024.
Bản cáo trạng số: 13/CT-VKSHH ngày 24 tháng 11 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7, tỉnh Quảng Trị đã truy tố Trần Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7, tỉnh Quảng Trị giữ nguyên nội dung Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Trần Văn T từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm 06 tháng tù.
Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Tịch thu, tiêu hủy:
Số lượng ma túy hoàn lại sau giám định và toàn bộ bao gói đựng trong 01 túi niêm phong ký hiệu mã số 457/2025/PC09 có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q; 01 túi nilong màu xanh, loại túi Zip, mặt ngoài miệng túi có đường viền ngang màu đỏ, kích thước (09 x 6,5)cm, đã qua sử dụng; Nhiều lớp băng keo trong suốt không xác định được hình dạng, kích thước, đã qua sử dụng; 01 túi nilong màu hồng, mặt ngoài in chữ A màu trắng, loại túi Zip, kích thước (09 x 6,5)cm, đã qua sử dụng; Nhiều lớp băng keo màu đen không xác định được hình dạng, kích thước, đã qua sử dụng; 01 mảnh giấy báo, không xác định được hình dạng, kích thước, đã qua sử dụng; 01 áo ấm bằng vải màu đen, tay áo dài, đã qua sử dụng; 01 thẻ sim Vinaphone, trên sim in dãy số [...] 11604020931; 02 que test thử nhanh chất ma túy dùng để thử nhanh chất túy trong nước tiểu của Trần Văn T và Nguyễn Nam
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo trình bày lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi mà mình thực hiện là vi phạm pháp luật, hiện bị cáo đang bị bệnh. Mong Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình, có cơ hội làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7, tỉnh Quảng Trị, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi bị truy tố: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với kết quả điều tra và các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để kết luận: Ngày 13/4/2025, tại khu vực đường mòn thuộc địa phận hôn T, xã L, tỉnh Quảng Trị, Trần Văn T bị lực lượng chức năng phát hiện, bắt quả tang có hành vi tàng trữ 337 viên nén màu hồng, hình trụ tròn nhằm mục đích sử dụng. Kết luận giám định số 457/KL-KTHS ngày 16/4/2025 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: 337 viên nén màu hồng hình trụ tròn (được đựng trong phong bì giấy ký hiệu MT1, MT2) gửi đến giám định là ma tuý, loại Methamphetamine, tổng khối lượng mẫu là 29,17 gam. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục IIC, STT: 247 Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
Hành vi của Trần Văn T phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, với tình tiết định khung “... Methamphetamine ... có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam”, được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự, như cáo trạng Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
Đối với việc Trần Văn T khai Nguyễn N là người chỉ dẫn và đi cùng T sang Lào mua ma túy, Nguyễn N trình bày không biết sự việc T mua ma túy, khi T liên lạc nhờ chỉ chỗ mua ma túy thì N từ chối và chỉ rủ T sang Lào đi mua gỗ, Cơ quan điều tra đã tiến hành các hoạt động điều tra cần thiết nhưng không có cơ sở để kết luận, kết quả xét nghiệm chất ma túy ngày 14/4/2025 đối với Nguyễn N là âm tính với chất ma tuý, thể hiện khi đi cùng T sang Lào, N không có sử dụng ma túy do đó không có cơ sở để xử lý đối với hành vi của Nguyễn N.
[3]. Xét tính chất, hành vi phạm tội tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 29/6/2022, Trần Văn T bị Tòa án nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị (nay là TAND khu vực 7, tỉnh Quảng Trị) xử phạt 18 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 15
tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tổng hợp hình phạt chung của hai tội buộc bị cáo phải chấp hành là 33 tháng tù theo Bản án số 33/2022/HS-ST, bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 06/02/2024, đến ngày 13/4/2025 tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã bị kết án, chưa được xoá án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị kết án tội phạm về ma túy và nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng không lấy đó làm bài học để cải tạo bản thân mà còn tái phạm. Để nhằm đáp ứng công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm về tệ nạn ma túy đang diễn biến ngày càng phức tạp trên địa bàn nên cần áp dụng khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự buộc bị cáo phải chấp hành cải tạo tại cơ sở giam giữ một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.
Cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo công tác thi hành án hình sự.
[4]. Về xử lý vật chứng:
Số lượng ma túy hoàn lại sau giám định đựng trong 01 túi niêm phong, có mã số 457/2025/PC09 có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ
Các vật chứng khác: 01 túi nilong màu xanh, loại túi Zip, mặt ngoài miệng túi có đường viền ngang màu đỏ, kích thước (09 x 6,5)cm, đã qua sử dụng; Nhiều lớp băng keo trong suốt không xác định được hình dạng, kích thước, đã qua sử dụng; 01 túi nilong màu hồng, mặt ngoài in chữ A màu trắng, loại túi Zip, kích thước (09 x 6,5)cm, đã qua sử dụng; Nhiều lớp băng keo màu đen không xác định được hình dạng, kích thước, đã qua sử dụng; 01 mảnh giấy báo, không xác định được hình dạng, kích thước, đã qua sử dụng (được hoàn lại sau giám định đựng trong hai túi niêm phong BG1-SGĐ và BG2-SGĐ); 01 thẻ sim Vinaphone, trên sim in dãy số [...] 11604020931; 02 que test thử nhanh chất ma túy dùng để thử nhanh chất túy trong nước tiểu của Trần Văn T và Nguyễn Nam H không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu huỷ; 01 áo ấm bằng vải màu đen, tay áo dài, đã qua sử dụng, bị cáo không có yêu cầu nhận lại nên cần tịch thu, tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, vỏ lưng máy màu xanh,
nhãn hiệu OPPO, đã qua sử dụng mà Trần Văn T dùng liên lạc với Nguyễn N, điện thoại nêu trên T mượn của cháu Lê Thái B, quá trình điều tra xác định không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan cảnh sát Điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là cháu Lê Thái B là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu sơn trắng, số khung RLHJA3936RY202937, số máy JA70E-0581235, biển kiểm soát 74AH - 058.04, đã qua sử dụng thuộc sở hữu của bà Lê Thị T1 (mẹ của bị cáo T); Ngày 13/4/2025, bà T1 không biết Trần Văn T lấy xe của mình đi mua ma túy nên Cơ quan cảnh sát Điều tra đã trả lại chiếc xe cùng Giấy chứng nhận đăng ký xe cho bà T1 là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
[5]. Về các vấn đề khác:
Đối với Nguyễn N: Quá trình điều tra xác định ngày 13/4/2025, N có đi cùng bị cáo Trần Văn T sang Lào. Tuy nhiên N khai mục đích đi sang Lào để mua gỗ, không thừa nhận việc đi cùng T mua ma túy, Cơ quan điều tra đã tiến hành đối chất giữa N với T và các hoạt động điều tra cần thiết nhưng không có căn cứ xác định N liên quan đến hành vi phạm tội của T nên không xem xét trách nhiệm hình sự.
Đối với người thanh niên bán ma túy cho Trần Văn T và người đàn ông cùng T sử dụng ma túy: Cơ quan điều tra đã tiến hành các hoạt động điều tra, nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ để xử lý theo quy định.
Trần Văn T khai nhận trước khi sang Lào mua ma túy vào ngày 13/4/2025, T một mình sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà ở của mình, khi sang Lào mua ma túy T tiếp tục sử dụng chất ma túy cùng người đàn ông không rõ lai lịch, kết quả thử nhanh chất ma túy trong nước tiểu của T ngày 13/4/2025 cho kết quả dương tính với Methamphetamine nên Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Q có Công văn số C991/CV-CSMT ngày 07/11/2025 gửi Công an xã L để xem xét, xử lý vi phạm hành chính theo thẩm quyền.
[6]. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt Trần Văn T 08 (Tám) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (13/4/2025).
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Tịch thu, tiêu hủy: Số lượng ma túy hoàn lại sau giám định và toàn bộ bao gói đựng trong 01 túi niêm phong ký hiệu mã số 457/2025/PC09 có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q; 01 túi nilong màu xanh, loại túi Zip, mặt ngoài miệng túi có đường viền ngang màu đỏ, kích thước (09 x 6,5)cm, đã qua sử dụng; Nhiều lớp băng keo trong suốt không xác định được hình dạng, kích thước, đã qua sử dụng; sau giám định được niêm phong trong 01 túi ký hiệu mã số BG1-SGĐ có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q; 01 túi nilong màu hồng, mặt ngoài in chữ A màu trắng, loại túi Zip, kích thước (09 x 6,5)cm, đã qua sử dụng; Nhiều lớp băng keo màu đen không xác định được hình dạng, kích thước, đã qua sử dụng; 01 mảnh giấy báo, không xác định được hình dạng, kích thước, đã qua sử dụng; sau giám định được niêm phong trong 01 túi ký hiệu mã số BG2-SGĐ có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q; 01 áo ấm bằng vải màu đen, tay áo dài, đã qua sử dụng; 01 thẻ sim Vinaphone, trên sim in dãy số [...] 11604020931 và 02 que test thử nhanh chất ma túy dùng để thử nhanh chất túy trong nước tiểu của Trần Văn T và Nguyễn N.
Toàn bộ vật chứng trên hiện đang được Phòng Thi hành án dân sự khu vực 7 - Quảng Trị quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/12/2025 giữa Phòng Thi hành án dân sự khu vực 7 - Quảng Trị và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Buộc Trần Văn T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (17/12/2025).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Mạnh Lưu |
Bản án số 42/2025/HS-ST ngày 17/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7, TỈNH QUẢNG TRỊ về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 42/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn Thành - Tàng trữ trái phép chất ma tuý
