Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 12 - ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2025/HS-ST

Ngày 16-12-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thống.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Thiện Bửu;
  2. Ông Trần Duy Hồ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Kim Lài - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Ngô Hữu Ý - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở chính Tòa án nhân dân khu vực 12- Đồng Tháp (điểm cầu trung tâm) và trụ sở 1 Tòa án nhân dân khu vực 12- Đồng Tháp (điểm cầu thành phần) tiến hành xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 37/2025/TLST-HS, ngày 16 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2025/QĐXXST-HS, ngày 14 tháng 11 năm 2025, đối với các bị cáo:

  1. Huỳnh Văn S (tên gọi khác; Dế N), sinh ngày 21/6/2002 tại tỉnh Đồng Tháp; giới tính: Nam; nơi cư trú: Khóm T, thị trấn T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp (nay ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp); trình độ học vấn: Không biết chữ; nghề nghiệp: Làm thuê; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Huỳnh Văn H, sinh năm 1977 và bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1977; anh, em ruột có 02 người, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; vợ, con: Chưa có; tiền sự: Ngày 31/12/2021, bị Công an thị trấn T (nay Công an xã T) ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản (chưa nộp phạt); tiền án: Chưa có; tạm giữ: Ngày 09/8/2025; tạm giam: Từ ngày 12/8/2025 đến nay, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam H1 (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
  2. Trương Văn T (tên gọi khác: C, Gà Đ), sinh ngày 19/9/2002, tại tỉnh Đồng Tháp; giới tính: Nam; nơi cư trú: ấp A, xã T, tỉnh Đồng Tháp; trình độ học vấn: Không biết chữ; nghề nghiệp: Làm thuê; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Trương Văn G1, sinh năm 1980 và bà Phạm Thị A, sinh năm 1983; anh, em ruột có 03 người, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; vợ, con: Chưa có; tiền sự, tiền án: Không; nhân thân: Ngày 12/5/2023 Công an thị trấn T (nay Công an xã T) ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 2.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản (chưa nộp phạt); Ngày 16/01/2024, bị Tòa án nhân dân huyện Hồng Ngự (nay là Tòa án nhân dân khu vực 12- Đồng Tháp) xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong vào ngày 01/9/2024 (những hành vi này xảy ra sau ngày 22/12/2022, nên không xem là tiền án và tiền sự); Tạm giữ, tạm giam: Không. Hiện bị cáo đang bị áp dụng bị pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại:

  1. Nguyễn Văn X, sinh ngày 01/01/1978 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
  2. Nguyễn Văn M, sinh ngày 01/01/2007 (có đơn xin xét xử vắng mặt);

Cùng nơi cư trú: Ấp P, xã T, tỉnh Đồng Tháp.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Nguyễn Thị G, sinh năm 1977 (vắng mặt);
  2. Liên Thị Thùy L, sinh năm 1985 (vắng mặt);

Cùng nơi cư trú: Ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp.

- Người làm chứng:

  1. Nguyễn Thị Bích T1, sinh ngày 01/01/1978 (vắng mặt);
  2. Nguyễn Thị T2, sinh ngày 01/01/1991 (vắng mặt);

Cùng nơi cư trú: Ấp M, xã T, tỉnh Đồng Tháp.

Tại điểm cầu trung tâm, gồm có: Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên và Thư ký phiên tòa

Tại điểm cầu thành phần, gồm có: Bị cáo Huỳnh Văn S, Trương Văn T; cán bộ hỗ trợ tư pháp đồng chí Trần Hoài T3 và Đinh Văn C.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 02 giờ ngày 22 tháng 12 năm 2022 Trương Văn T đến nhà của Huỳnh Văn S chơi. Tại đây, S rủ T đi tìm tài sản để lấy trộm, T đồng, S vào nhà lấy một cây kéo mang theo trên người. Sau đó T điều khiển xe gắn máy hiệu Max màu đỏ (không nhớ biển số), chở S đi đến ấp C, xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp (nay là ấp M, xã T, tỉnh Đồng Tháp) phát hiện một căn nhà không khóa cửa, S xuống xe đi vào bên trong trộm tài sản, còn T đứng bên ngoài cảnh giới.

Khi vào trong nhà, S thấy ông Nguyễn Văn X và anh Nguyễn Văn M, sinh ngày 01/01/2007 (15 tuổi 11 tháng 21 ngày) đang ngủ trong mùng. S dùng kéo rạch mùng và lấy trộm các tài sản gồm: 01 điện thoại di động Vivo Y15a, màu xanh; 01điện thoại di động Oppo A15 màu đen; 01 quần short jean màu xanh; 01 sợi thắt lưng màu xanh; 01 ví da màu đen. Sang kiểm tra trong ví thấy có 700.000 đồng, lấy tiền bỏ vào túi quần của mình và ném quần short, thắt lưng, ví da cách hiện trường khoảng 20 mét, sau đó lên xe để T chở về nhà của S. Khi về đến nhà, S đưa cho T 200.000 đồng và 02 điện thoại di động vừa lấy trộm được, nhờ T mang đi bán.

Đến khoảng 06 giờ cùng ngày, T mang hai điện thoại di động đến tiệm Đ1 (thuộc khóm T, thị trấn T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp - nay là ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp) bán được 6.000.000 đồng. T đưa lại cho S 3.000.000 đồng, giữ lại 3.000.000 đồng để cả hai tiêu xài cá nhân. Sau đó, S bỏ trốn khỏi địa phương, ngày 05 tháng 6 năm 2023 Cơ quan điều tra ra Quyết định truy nã, đến ngày 09 tháng 8 năm 2025 S bị bắt.

* Vật chứng vụ án, Cơ quan điều tra đã thu giữ và xử lý:

  • - 01 cái mùng màu hồng, có 04 vết cắt. Trong đó, chiều dài cái mùng có 02 vết cắt gồm vết cắt thứ nhất có chiều dài 53 cm, vết cắt thứ hai có chiều dài 31 cm; chiều rộng cái mùng có 02 vết cắt gồm vết cắt thứ nhất có chiều dài 33 cm, vết cắt thứ hai có chiều dài 32 cm; 01 quần short jean màu xanh; 01 sợi thắt lưng bằng vải màu xanh; 01 cái ví da màu đen (tất cả đều qua sử dụng); 01 cây kéo bằng kim loại màu đen, cán kéo được bọc bằng nhựa, có kích thước dài 23,5 cm (đã qua sử dụng) là tài sản của bà Nguyễn Thị G (mẹ của bị cáo S), bị cáo S sử dụng cây kéo vào mục đích phạm tội thì bà G không biết. Ngày 16 tháng 9 năm 2025 Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Nguyễn Văn X, anh Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị G.
  • - Đối với xe gắn máy hiệu Max màu đỏ (không rõ biển số) bị cáo T điều khiển chở bị cáo S đi trộm cắp tài sản. Bị cáo T đã bán cho người khác (không rõ họ tên địa chỉ), nên không đề cặp.

* Tại bản Kết luận định giá tài sản số 02/KLHĐĐGTS-TTHS, ngày 06/01/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H, kết luận:

  • - 01(một) điện thoại di động Vivo Y15a 4-64GB, màu xanh (đã qua sử dụng; có biên nhận thu tiền, không có vật chứng) trị giá 1.745.000 đồng.
  • - 01(một) điện thoại di động Oppo A15 (đã qua sử dụng; không có vật chứng). Không đủ cơ sở xác định giá.
  • - 01(một) cái quần short jean vải màu xanh (đã qua sử dụng) trị giá 5.000 đồng;
  • - 01(một) sợi thắt lưng, màu xanh (đã qua sử dụng) trị giá 10.000 đồng.
  • - 01 (một) ví màu đen (đã qua sử dụng), trị giá 5.000 đồng.

Tổng trị giá tài sản là: 1.765.000 đồng.

* Về trách nhiệm dân sự: Tại biên bản thỏa thuận trách nhiệm dân sự, ngày 06/10/2025, bị hại Nguyễn Văn M yêu cầu 2 bị cáo Huỳnh Văn S và Trương Văn T bồi thường thiệt hại là 3.000.000 đồng; bị hại Nguyễn Văn X yêu cầu 2 bị cáo Huỳnh Văn S và Trương Văn T bồi thường thiệt hại là 3.700.000 đồng. Tất cả thống nhất, trong đó: Bị cáo S có trách nhiệm bồi thường 3.500.000 đồng; bị cáo T có trách nhiệm bồi thường 3.200.000 đồng.

Kết quả bồi thường: Bị cáo S đã bồi thường đủ số tiền 3.500.000 đồng; bị cáo T đã bồi thường được 200.000 đồng, còn lại 3.000.000 đồng chưa bồi thường. Bị hại Nguyễn Văn M đã nhận đủ số tiền 3.000.000 đồng; bị hại X đã nhận 700.000 đồng, còn lại 3.000.000 đồng bị cáo T có trách nhiệm tiếp tục bồi thường cho bị hại Xô.

Quá trình điều tra, các bị cáo Huỳnh Văn S và Trương Văn T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đã thực hiện.

Tại bản cáo trạng số: 05/CT-VKS-KV12, ngày 15 tháng 10 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12- Đồng Tháp truy tố các bị cáo Huỳnh Văn S và Trương Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12- Đồng Tháp thực hành quyền công tố khẳng định hành vi của các bị cáo Huỳnh Văn S và Trương Văn T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Huỳnh Văn S và Trương Văn T về tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm i khoản 1 Điều 52, Điều 17 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Huỳnh Văn S từ 09 tháng đến 12 tháng tù.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm i khoản 1 Điều 52, Điều 17 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trương Văn T từ 09 tháng đến 12 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo sống bằng nghề làm thuê, không có thu nhập ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Đối với chị Liên Thị Thùy L chủ tiệm điện thoại Nhật Trường mua điện của bị cáo Trương Văn T mang đến bán, nhưng chị L không biết đây là tài sản do phạm tội mà có và việc bị cáo Huỳnh Văn S lấy cây kéo bằng kim loại của bà G để thực hiện hành vi phạm tội, bà G không biết, nên không có căn cứ để xem xét trách nhiệm hình sự đối với chị Lê Thị Thùy L1 và bà Nguyễn Thị G, do đó không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý.

- Về vật chứng vụ án:

Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã ra quyết định xử lý: Trả lại cho bị hại Nguyễn Văn X 01 cái mùng màu hồng, có 04 vết cắt. Trong đó, chiều dài cái mùng có 02 vết cắt gồm vết cắt thứ nhất có chiều dài 53 cm, vết cắt thứ hai có chiều dài 31 cm; chiều rộng cái mùng có 02 vết cắt gồm vết cắt thứ nhất có chiều dài 33 cm, vết cắt thứ hai có chiều dài 32 cm; 01 quần short jean màu xanh; 01 sợi thắt lưng bằng vải màu xanh; 01 cái ví da màu đen (tất cả đều qua sử dụng); Trả lại cho bà Nguyễn Thị G 01 cây kéo bằng kim loại màu đen, cán kéo được bọc bằng nhựa, có kích thước dài 23,5 cm (đã qua sử dụng) là tài sản của bà Nguyễn Thị G (mẹ của bị cáo S), bị cáo S sử dụng cây kéo vào mục đích phạm tội thì bà G không biết. Ngày 16 tháng 9 năm 2025 Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Nguyễn Văn X, anh Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị G. Xét thấy, việc xử lý vật chứng của Cơ quan điều tra là phù hợp với quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, nên không đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử lý.

Đối với xe gắn máy hiệu Max màu đỏ (không rõ biển số) bị cáo T điều khiển chở bị cáo S đi trộm cắp tài sản. Bị cáo T đã bán cho người khác (không rõ họ tên địa chỉ) với giá 1.000.000 đồng. Xét thấy, đây là phương tiện bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự buộc bị cáo nộp lại số tiền bán xe 1.000.000 đồng để tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

- Về trách nhiệm dân sự: Tại biên bản thỏa thuận trách nhiệm dân sự, ngày 06/10/2025, bị hại Nguyễn Văn M yêu cầu 2 bị cáo Huỳnh Văn S và Trương Văn T bồi thường thiệt hại là 3.000.000 đồng, bị hại Nguyễn Văn X yêu cầu bồi thường thiệt hại là 3.700.000 đồng, tổng giá trị tài sản 6.700.000 đồng. Tất cả thống nhất,

trong đó: bị cáo S có trách nhiệm bồi thường 3.500.000 đồng; bị cáo T có trách nhiệm bồi thường 3.200.000 đồng. Hiện nay, bị cáo S đã bồi thường đủ số tiền 3.500.000 đồng; bị cáo T đã bồi thường được 1.700.000 đồng, còn lại 1.500.000 đồng chưa bồi thường. Bị hại Nguyễn Văn M đã nhận đủ số tiền 3.000.000 đồng; bị hại X đã nhận 2.200.000 đồng, còn lại 1.500.000 đồng bị cáo T có trách nhiệm tiếp tục bồi thường cho bị hại Xô. Tại phiên tòa, bị cáo T đồng ý bồi thường tiếp cho bị hại Nguyễn Văn X phần còn lại là 1.500.000 đồng nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo Huỳnh Văn S và Trương Văn T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà mình đã thực hiện. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, nhưng vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân mà các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Cụ thể: Cụ thể: Vào khoảng 02 giờ ngày 22 tháng 12 năm 2022, do không có nghề nghiệp ổn định, bị cáo S rủ bị cáo T cùng đi trộm cắp tài sản. Cả hai đã lén lút lấy trộm tài sản tại nơi ở của ông Nguyễn Văn X và anh Nguyễn Văn M (15 tuổi 11 tháng 21 ngày), thuộc ấp C, xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp (nay là ấp M, xã T, tỉnh Đồng Tháp) gồm: 01 điện thoại di động Vivo Y15a, màu xanh;

01 quần short jean màu xanh; 01 sợi thắt lưng màu xanh; 01 ví da màu đen, 700.000 đồng (Nguyễn Văn X); 01 điện thoại di động Oppo A15 màu đen (Nguyễn Văn M), các bị cáo chia nhau tiêu xài cá nhân. Sau đó Huỳnh Văn S bỏ trốn khỏi địa phương, đến ngày 09 tháng 8 năm 2025 S bị bắt và thừa nhận cùng Trương Văn T trộm cắp tài sản.

Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 02/KLHĐĐGTS-TTHS, ngày 06/01/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H thì tổng giá trị các bị cáo chiếm đoạt của các bị hại là 2.465.000 đồng

Căn cứ vào lời thừa nhận của các bị cáo, lời khai của bị hại và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ căn cứ để kết luận hành vi của bị cáo Huỳnh Văn S và Trương Văn T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát.

Điều 173. Tội trộm cắp tài sản

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

Hành vi tội phạm các bị cáo gây ra đã xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác, mặt khác còn làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an ở địa phương. Hiện nay tình hình trộm cắp trên cả nước xảy ra ngày càng nhiều với thủ đoạn hết sức tinh vi. Nhằm để ổn định trật tự trị an ở địa phương, góp phần vào công cuộc phòng, chống và ngăn ngừa tội phạm, Hội đồng xét xử xét thấy phải xử phạt các bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc để thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.

[3] Về nhân thân bị cáo:

Bị cáo Huỳnh Văn S có nhân thân xấu, từng bị xử phạt hành chính (phạt tiền) về hành vi trộm cắp tài sản (chưa nộp phạt) lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Bị cáo Trương Văn T sau khi cùng bị cáo S thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, chưa bị xử lý thì sau đó tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội khác, bị xử phạt tù về tội trộm cắp tài sản và xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản. Hành vi tội phạm của các bị cáo thể hiện sự thiếu ý thức trong tu dưỡng rèn luyện nhân cách, thể hiện bản chất xem thường pháp luật nên phải xử phạt các bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là thành khẩn khai báo và thể hiện sự ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội đã thực hiện, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội đã tự nguyện khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội do các bị cáo gây ra; các bị cáo không biết chữ, nhận thức pháp luật còn hạn chế, Hội đồng xét xử áp dụng để giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt thể hiện tính nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Cả 2 bị cáo đều bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự (phạm tội đối với người dưới 16 tuổi), Hội đồng xét xử áp dụng khi lượng hình đối với các bị cáo.

[5] Trong vụ án có đồng phạm, nhưng thuộc dạng đồng phạm giản đơn, Hội đồng xét xử căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội từng bị cáo thực hiện để quyết định hình phạt cho tương xứng.

Bị cáo Huỳnh Văn S là người khởi xướng việc thực hiện hành vi phạm tội và chính bị cáo là người trực tiếp lấy trộm tài sản. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội nên xử phạt bị cáo mức hình phạt thật nghiêm khắc hơn sơ với bị cáo T thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.

Đối với bị cáo Trương Văn T, khi bị cáo Huỳnh Văn S rủ rê thực hiện hành vi trộm tài sản bán để lấy tiền tiêu xài cá nhân thì bị cáo đồng ý và thực hiện ngay, bị cáo tham gia với vai trò giúp sức, đứng canh đường cho bị cáo S vô lấy trộm tài sản và đem đi lấy trộm tài sản. Hành vi phạm tội của bị cáo cũng nguy hiểm cho xã hội nên phải xử lý nghiêm theo quy định pháp luật.

[6] Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra, căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự áp dụng đối với từng bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy, phải xử phạt các bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống cộng đồng một thời gian nhất định, để có đủ điều kiện cải tạo, giáo dục cho các bị cáo thấy được lỗi lầm của mình, phấn đấu trở thành con người tốt có ích cho gia đình và xã hội. Có như thế mới thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật. Đồng thời, nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho những ai có ý định phạm tội như các bị cáo.

[7] Đối với chị Liên Thị Thùy L chủ tiệm điện thoại Nhật Trường mua điện của bị cáo Trương Văn T mang đến bán, nhưng chị L không biết đây là tài sản do phạm tội mà có và việc bị cáo Huỳnh Văn S lấy cây kéo bằng kim loại của bà G để thực hiện hành vi phạm tội bà G không biết, nên không có căn cứ để xem xét trách nhiệm hình sự đối với Lê Thị Thùy L1 và bà Nguyễn Thị G do đó Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.

[8] Về vật chứng vụ án:

Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ đã ra quyết định xử lý:

Trả lại cho bị hại Nguyễn Văn X: 01 cái mùng màu hồng, có 04 vết cắt. Trong đó, chiều dài cái mùng có 02 vết cắt gồm vết cắt thứ nhất có chiều dài 53 cm, vết cắt thứ hai có chiều dài 31 cm; chiều rộng cái mùng có 02 vết cắt gồm vết cắt thứ nhất có chiều dài 33 cm, vết cắt thứ hai có chiều dài 32 cm; 01 quần short jean màu xanh; 01 sợi thắt lưng bằng vải màu xanh; 01 cái ví da màu đen (tất cả đều qua sử dụng);

Trả lại cho bà Nguyễn Thị G 01 cây kéo bằng kim loại màu đen, cán kéo được bọc bằng nhựa, có kích thước dài 23,5 cm (đã qua sử dụng) là tài sản của bà Nguyễn Thị G (mẹ của bị cáo S), bị cáo S sử dụng cây kéo vào mục đích phạm tội thì bà G không biết.

Xét thấy, việc xử lý vật chứng của Cơ quan điều tra là phù hợp với quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.

Đối với xe gắn máy hiệu Max màu đỏ (không rõ biển số) bị cáo T điều khiển chở bị cáo S đi trộm cắp tài sản. Bị cáo T đã bán cho người khác (không rõ họ tên địa chỉ) với giá 1.000.000 đồng. Xét thấy, đây là phương tiện bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự buộc bị cáo nộp lại số tiền bán xe 1.000.000 đồng để tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

[9] Về trách nhiệm dân sự:

Tại biên bản thỏa thuận trách nhiệm dân sự, ngày 06/10/2025, bị hại Nguyễn Văn M yêu cầu 2 bị cáo Huỳnh Văn S và Trương Văn T bồi thường thiệt hại là 3.000.000 đồng, bị hại Nguyễn Văn X yêu cầu bồi thường thiệt hại là 3.700.000 đồng, tổng giá trị tài sản 6.700.000 đồng. Tất cả thống nhất, trong đó: bị cáo S có trách nhiệm bồi thường 3.500.000 đồng; bị cáo T có trách nhiệm bồi thường 3.200.000 đồng. Hiện nay, bị cáo S đã bồi thường đủ số tiền 3.500.000 đồng; bị cáo T đã bồi thường được 1.700.000 đồng, còn lại 1.500.000 đồng chưa bồi thường. Bị hại Nguyễn Văn M đã nhận đủ số tiền 3.000.000 đồng; bị hại X đã nhận 2.200.000 đồng, còn lại 1.500.000 đồng bị cáo T có trách nhiệm tiếp tục bồi thường cho bị hại Xô. Tại phiên tòa, bị cáo T đồng ý bồi thường tiếp cho bị hại Nguyễn Văn X phần còn lại là 1.500.000 đồng nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[10] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo sống bằng nghề làm thuê, không có thu nhập ổn định, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Từ các phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy nội dung luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ và phù hợp pháp luật.

[11] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc các bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm i khoản 1 Điều 52, Điều 17 và Điều 58 Bộ luật Hình sự.

    Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn S 10 (mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/8/2025.

  2. Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm i khoản 1 Điều 52, Điều 17 và Điều 58 Bộ luật Hình sự.

    Tuyên bố bị cáo Trương Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    Xử phạt bị cáo Trương Văn T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù.

  3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 584, 585, 586 và Điều 589 Bộ luật Dân sự.

    Buộc bị cáo Trương Văn T bồi thường cho bị hại anh Nguyễn Văn X số tiền là 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng).

  4. Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

    Buộc bị cáo Trương Văn T nộp lại số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng) để tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

  5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc các bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.

Buộc bị cáo Huỳnh Văn S phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Buộc bị cáo Trương Văn T phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm, tổng cộng là 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng).

  1. Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm thi hành án cho đến khi thi hành án xong.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

  2. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 16/12/2025). Riêng bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND khu vực 12- Đồng Tháp
  • - Phân trại tạm giam Hồng Ngự;
  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đồng Tháp;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Minh Thống

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2025/HS-ST ngày 16/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - ĐỒNG THÁP về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 42/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bản án
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger