Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 6 - HẢI PHÒNG

Bản án số: 42/2025/HS-ST

Ngày 05-12-2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HẢI PHÒNG

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Xuân Vinh

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nghiệp - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 - Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thanh Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục rút gọn vụ án hình sự thụ lý số: 47/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục rút gọn số: 47/2025/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Lưu Phú T, sinh ngày 01 tháng 02 năm 1969; nơi sinh: Thành phố Hải Phòng; nơi cư trú: Tổ dân phố G, phường D, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lưu Phú L (đã chết) và bà Trần Thị C (đã chết); vợ là Vũ Thị N và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Tạm giữ từ ngày 26-10-2025 đến ngày 29-10-2025 được thay đổi sang biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
  2. Phạm Văn H, sinh ngày 24 tháng 02 năm 1981; nơi sinh: Tỉnh Hưng Yên; nơi cư trú: Tổ dân phố A, phường D, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn Đ và bà Trịnh Thị N1; vợ là Trần Thị C1 (đã ly hôn) và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Tạm giữ từ ngày 26-10-2025 đến ngày 29-10-2025 được thay đổi sang biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
  3. Đặng Văn V, sinh ngày 02 tháng 3 năm 1983; nơi sinh: Thành phố Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn T, xã K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn N2 (đã chết) và bà Vũ Thị B; vợ là Vũ Thị M và có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Tạm giữ từ ngày 26-10-2025 đến ngày 29-10-2025 được thay đổi sang biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
  4. Trần Văn K, sinh ngày 18 tháng 02 năm 1971; nơi sinh: Thành phố Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn T, xã K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn N3 (đã chết) và bà Bùi Thị T1; vợ là Đặng Thị L1 và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Tạm giữ từ ngày 26-10-2025 đến ngày 29-10-2025 được thay đổi sang biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
  5. Nguyễn Thị L2, sinh ngày 28 tháng 02 năm 1982; nơi sinh: Thành phố Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn T, xã K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn M1 và bà Lê Thị S; chồng là Đặng Văn Q và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Tạm giữ từ ngày 26-10-2025 đến ngày 29-10-2025 được thay đổi sang biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

Người chứng kiến:

Ông Phạm Văn T2; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ ngày 26/10/2025, Phạm Văn H, Lưu Phú T, Đặng Văn V, Trần Văn K đang ngồi chơi ở nhà Nguyễn Thị L2 thì cùng rủ nhau đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức đánh chắn và đề nghị L2 chia bài cho cả nhóm rồi trả tiền công cho L2. L2 đồng ý và lấy 02 đĩa sứ, 02 bộ bài chắn có sẵn ở trong nhà chia bài cho H, T, V, K đánh bạc tại phòng ngủ. Quy ước như sau: ù “xuông” 30.000 đồng, ù “bằng đầu” 100.000 đồng, “dịch” 10.000 đồng. Tức là trong một ván bài nếu một người ù “xuông” thì ba người chơi còn lại mỗi người phải trả cho người ù “xuông” 30.000 đồng, nếu ù “bằng đầu” thì ba người chơi còn lại mỗi người phải trả cho người ù “bằng đầu” 100.000 đồng, “dịch” 10.000 đồng tức là trong ván ù có các cước như tôm, lèo, chiếu, thông... sẽ được cộng thêm vào cước ù trong ván bài đó mỗi cước dịch là 10.000 đồng. Nếu người nào ù “bằng đầu” thì sẽ phải bỏ ra 10.000 đồng/ván để trả công cho L2. Quá trình đánh bạc, T sử dụng 2.000.000 đồng, thua 740.000 đồng; H sử dụng 1.910.000 đồng, thắng 500.000 đồng; V sử dụng 1.000.000 đồng, thua 250.000 đồng; K sử dụng 420.000 đồng, thắng 250.000 đồng; L2 được trả tiền công số tiền 240.000 đồng. Cả nhóm đánh bạc đến 15 giờ 20 phút cùng ngày thì bị Công an xã K, thành phố Hải Phòng bắt quả tang và thu giữ vật chứng như trên. Khi đánh bạc, không có ai canh gác, cảnh giới, không ai thu tiền hồ, cầm cố tài sản để đánh bạc.

Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 01/QĐ-VKS-KV6 ngày 21-11-2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Hải Phòng đã truy tố Lưu Phú T, Phạm Văn H, Đặng Văn V, Trần Văn K, Nguyễn Thị L2 phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Hải Phòng giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn, đề nghị Toà án:

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Bị cáo Lưu Phú T từ 12 tháng đến 15 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Bị cáo Phạm Văn H từ 12 tháng đến 15 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị L2 từ 15 tháng đến 18 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”.

Trừ cho các bị cáo T, bị cáo H và bị cáo L2 09 ngày cải tạo không giam giữ do các bị cáo đã bị tạm giữ 03 ngày trước đó (từ ngày 26-10-2025 đến ngày 29-10-2025). Đề nghị miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo T, H, L2.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Bị cáo Đặng Văn V số tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.

Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 35; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Bị cáo Trần Văn K số tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.

Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 02 bộ bài chắn và 02 đĩa sứ; tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 5.330.000 đồng.

Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2015/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Tại phiên toà, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và tội danh như Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Hải Phòng đã truy tố là đúng, bị cáo đề nghị Toà án xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, phấn đấu trở thành người công dân có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tài liệu, chứng cứ Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Hải Phòng, Kiểm sát viên thu thập; các bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó, các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đều hợp pháp.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[3] Về tội danh và điều luật Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Hải Phòng truy tố đối với các bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo Lưu Phú T, Phạm Văn H, Đặng Văn V, Trần Văn K, Nguyễn Thị L2 khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, với lời khai của người chứng kiến, phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và công bố công khai tại phiên tòa đã có đủ cơ sở xác định: Trong khoảng thời gian từ 13 giờ đến 15 giờ 20 phút ngày 26/10/2025 tại nhà Nguyễn Thị L2 ở thôn T, xã K, thành phố Hải Phòng, Nguyễn Thị L2 có hành vi giúp sức cho Lưu Phú T, Phạm Văn H, Trần Văn K, Đặng Văn V đánh bạc với tổng số tiền thu giữ trên chiếu bạc là 5.330.000 đồng. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi đánh bạc được thua bằng tiền là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

[4] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an tại địa phương, làm ảnh hưởng đến cuộc sống của nhiều gia đình, tạo dư luận xấu trong quần chúng nhân dân nên cần xét xử nghiêm nhằm mục đích giáo dục, cải tạo đối với các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo T là người thờ cúng liệt sỹ, bị cáo V có thời gian tham gia quân đội; do đó các bị cáo T, V được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; các bị cáo H, K, L2 được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[7] Về đồng phạm: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn. Các bị cáo T, H, K, V cùng nhau thực hiện tội phạm, không có sự phân công vai trò người chủ mưu, người khởi xướng nên các bị cáo này đều là người thực hành; bị cáo L2 là người chia bài, đóng vai trò là giúp sức cho các bị cáo khác đánh bạc.

[8] Về hình phạt: Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò, nhân thân và số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc, Hội đồng xét xử xét thấy: Tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc là 5.330.000 đồng. Bị cáo T sử dụng số tiền để thực hiện hành vi đánh bạc cao nhất, sau đó lần lượt đến bị cáo H, bị cáo V và bị cáo K nên bị cáo T phải chịu hình phạt cao nhất, sau đó lần lượt đến bị cáo H, bị cáo V và bị cáo K, bị cáo K có vai trò thấp nhất trong vụ án. Tuy nhiên, bị cáo T có nhiều tình tiết giảm nhẹ hơn so với bị cáo H; bị cáo V có nhiều tình tiết giảm nhẹ hơn bị cáo K nên cũng cần xem xét khi lượng hình đối với bị cáo T và bị cáo V. Đối với bị cáo L2, bị cáo biết hành vi đánh bạc là vi phạm pháp luật nhưng đồng ý để các bị cáo khác sử dụng nhà của mình làm địa điểm đánh bạc, chuẩn bị bài, đĩa sứ để làm công cụ cho các bị cáo khác phạm tội và trực tiếp chia bài cho các bị cáo khác, nhận tiền công từ việc chia bài, bị cáo đóng vai trò giúp sức tích cực nên hình phạt của bị cáo phải tương xứng và cao hơn hình phạt của các bị cáo còn lại. Các bị cáo đều chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên có thể xem xét áp dụng Điều 36 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo T, H, L2, khoan hồng cho các bị cáo được cải tạo ngoài xã hội, tạo điều kiện để các bị cáo cải tạo, tu dưỡng trở thành công dân có ích cho xã hội. Đối với bị cáo V và bị cáo K, tại phiên tòa, các bị các đều xin được phạt tiền và có khả năng nộp phạt; xét thấy, việc áp dụng hình phạt chính là phạt tiền cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục và phòng ngừa tội phạm nên cần áp dụng Điều 35 Bộ luật Hình sự xử phạt tiền đối với bị cáo V và bị cáo K.

[9] Về khấu trừ thu nhập: Các bị cáo T, H và L2 đều không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo. Các bị cáo phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ theo quy định tại khoản 4 Điều 36 Bộ luật Hình sự.

[10] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự quy định “người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Tuy nhiên, xét thấy các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện các bị cáo T, H và L2 không có thu nhập ổn định; các bị cáo V và bị cáo K đã bị áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo là đúng quy định của pháp luật.

[11] Về xử lý vật chứng: 02 bộ bài chắn và 02 đĩa sứ là công cụ, phương tiện phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy; số tiền 5.330.000 đồng là số tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

[12] Về án phí và quyền kháng cáo đối với bản án:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

QUYẾT ĐỊNH:

Vì các lẽ trên,

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự,

Tuyên bố bị cáo Lưu Phú T phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt: Bị cáo Lưu Phú T 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội Đánh bạc; trừ cho bị cáo 09 ngày cải tạo không giam giữ do bị cáo đã bị tạm giữ 03 ngày trước đó (từ ngày 26-10-2025 đến ngày 29-10-2025); bị cáo Lưu Phú T còn phải chấp hành 11 tháng 21 ngày cải tạo không giam giữ.

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự,

Tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn H 12 tháng cải tạo không giam giữ về tội Đánh bạc; trừ cho bị cáo 09 ngày cải tạo không giam giữ do bị cáo đã bị tạm giữ 03 ngày trước đó (từ ngày 26-10-2025 đến ngày 29-10-2025); bị cáo Phạm Văn H còn phải chấp hành 11 tháng 21 ngày cải tạo không giam giữ.

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự,

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị L2 phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị L2 15 tháng cải tạo không giam giữ về tội Đánh bạc; trừ cho bị cáo 09 ngày cải tạo không giam giữ do bị cáo đã bị tạm giữ 03 ngày trước đó (từ ngày 26-10-2025 đến ngày 29-10-2025); bị cáo Nguyễn Thị L2 còn phải chấp hành 14 tháng 21 ngày cải tạo không giam giữ.

Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an thành phố H nhận được quyết định thi hành án.

Miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo Lưu Phú T, Phạm Văn H và Nguyễn Thị Lệ . Các bị cáo T, H, L2 phải thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ theo quy định tại khoản 4 Điều 36 Bộ luật Hình sự.

Giao các bị cáo Lưu Phú T, Phạm Văn H cho Ủy ban nhân dân phường D, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo.

Giao bị cáo Nguyễn Thị L2 cho Ủy ban nhân dân xã K, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo.

Trong trường hợp các bị cáo Lưu Phú T, Phạm Văn H và Nguyễn Thị L2 thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định Điều 100 Luật Thi hành án hình sự như sau:

“Người chấp hành án có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 30 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian chấp hành án, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.

Người chấp hành án khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục; trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người chấp hành án khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người chấp hành án vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã, đơn vị quân đội được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.

Việc giải quyết trường hợp người chấp hành án thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc trong quân đội thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật này.

Người chấp hành án không được xuất cảnh trong thời gian chấp hành án.”

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự,

Tuyên bố bị cáo Đặng Văn V phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt tiền bị cáo Đặng Văn V 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng.

- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, Điều 51; Điều 35; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự,

Tuyên bố bị cáo Trần Văn K phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt tiền bị cáo Trần Văn K 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng.

- Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: Huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với các bị cáo Lưu Phú T, Phạm Văn H, Nguyễn Thị L2, Đặng Văn V và Trần Văn K.

- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 02 bộ bài chắn và 02 đĩa sứ.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 5.330.000 (Năm triệu ba trăm ba mươi nghìn) đồng.

(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 24-11-2025 giữa Công an thành phố H và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6 - Hải Phòng và Ủy nhiệm chi ngày 25-11-2025 của Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố H tại Kho bạc Nhà nước khu vực III).

- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2015/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc các bị cáo Lưu Phú T, Phạm Văn H, Nguyễn Thị L2, Đặng Văn V và Trần Văn K, mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo:

Các bị cáo có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND khu vực 6 - Hải Phòng;
  • - VKSND TP Hải Phòng;
  • - TAND TP Hải Phòng;
  • - Công an thành phố Hải Phòng;
  • - Cơ quan CSĐT Công an thành phố Hải Phòng;
  • - Cơ quan THAHS Công an thành phố Hải Phòng;
  • - Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng;
  • - UBND phường Dương Kinh, TP Hải Phòng;
  • - UBND xã Kiến Minh, TP Hải Phòng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Xuân Vinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 42/2025/HS-ST ngày 05/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HẢI PHÒNG về hình sự về tội đánh bạc

  • Số bản án: 42/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lưu Phú T và dồng phạm phạm tội Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger