|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9- HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 42/2025/HS - ST Ngày: 08-12-2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9- HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Chu Thị Thu Hương
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Thành
Ông Nguyễn Văn Bạn
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Sáng - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 9- Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9- Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9- Hải Phòng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 35/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2025/QĐXXST - HS ngày 20 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:
- Trần Hữu T, sinh năm 1979 tại xã A, thành phố Hải Phòng; Nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: Thôn Đ, xã A, thành phố Hải Phòng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 3/12; Con ông Trần Hữu V và bà Trần Thị B; Có vợ: Ngô Thị L. Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2010. Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 41 ngày 18/01/2016 của Công an huyện Q, tỉnh Bắc Ninh, hình thức cảnh cáo về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 16 ngày 06/9/2021 của Công an xã A, huyện N, tỉnh Hải Dương xử phạt tiền về hành vi Trộm cắp tài sản. Ngày 06/9/2021, bị cáo T đã chấp hành xong quyết định xử phạt.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại: UBND phường C, thành phố Hải Phòng- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Nguyễn Tiến H – Phó Chủ tịch phường C, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Trần Thế K, sinh năm 1975. Địa chỉ: Thôn A, xã A, thành phố Hải Phòng. Có mặt.
Những người làm chứng:
- Trần Sỹ N, sinh năm 1977. Vắng mặt.
- Nguyễn Văn L1, sinh năm 1963. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 13/8/2023, T đi bộ từ nhà ở thôn Đ, xã A, thành phố Hải Phòng đến nhà anh Trần Thế K(là anh họ T) mượn xe máy nhãn hiệu Wave alpha, màu xanh đen, BKS 34K2-2814 để đi lại. Sau đó, T điều khiển xe đi khu vực cánh đồng Bãi Chua thuộc tổ dân phố K, phường C(nay là UBND phường C, thành phố Hải Phòng) với mục đích cắt trộm dây cáp điện. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, T đến nơi, để xe trên bờ ruộng, cầm theo máy mài đi đến rìa bờ mương cách trạm biến áp khoảng hơn 10 m thì thấy vị trí này có ống sun màu da cam nổi trên mặt nước, T nhặt một chiếc que ở gần đó, chọc qua ống sun thì thấy bên trong có dây cáp điện bọc bằng vỏ nhựa màu đen. T dùng máy mài cắt đôi ống sun cùng ây cáp điện ở vị trí này ra. Tiến cắt tổng được 06 đoạn với tổng chiều dài là 26,5 m và lôi ra cất giấu tại bụi cỏ rìa bờ mương cách vị trí cắt dây cáp điện khoảng 20m về phía bờ mương bê tông. Sau khi cất giấ dây cáp điện vừa cắt trộm được, T đi xe máy quay về nhà anh Trần Thế K mượn thùng xe tự chế buộc vào sau xe mô tô rồi quay lại, dừng xe ở cầu bê tông bắc qua mương nước. Khoảng 13 giờ cùng ngày, T đi bộ ra vị trí cất giấu dây cáp điện đã cắt trộm trước đó rồi kéo lần lượt 06 đoạn dây cáp điện để lên thùng xe đi về. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi đến cầu S trên đường tránh đi Quốc lộ A thuộc địa bàn phường C, thành phố Hải Phòng thì bị Công an phường C và người dân kiểm tra, phát hiện thu giữ vật chứng.
Tại Kết luận định giá tài sản số 109/KL-HĐ ĐGTS ngày 08/9/2025 cảu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Hải Phòng kết luận: 06(sáu) đoạn dây cáp điện ngầm, hình tròn, đường kính 05cm, vỏ dây bằng nhựa màu đen, trên vỏ dây có ký hiệu “CADI-SUN ELECTRIC CABLE****0.6/1KV CU/XLPE/PVC-DSTA 3x120 +1x70mm2", bên trong có 04 lõi kim loại màu đồng có chiều dài lần lượt là 2,15m-2,2m-2,4m-7,7m-9,3m(tổng chiều dài là 26,5m) tại thời điểm định giá tháng 8 năm 2025 có giá trị là 20.000.000đồng.
Tại bản cáo trạng số số 10 ngày 07/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9- Hải Phòng truy tố Trần Hữu T về tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà:
Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát và đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị Tòa án: Tuyên bố cáo Trần Hữu T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173, Điều 38, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 48 BLHS.
Xử phạt bị cáo Trần Hữu T từ 21 tháng đến 24 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Về hình phạt bổ sung: không áp dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Trần Hữu T phải bồi thường cho UBND phường C số tiền 20.000.000đồng.
Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu, tiêu hủy 06(sáu) đoạn dây cáp điện ngầm, hình tròn, đường kính 05cm, vỏ dây bằng nhựa màu đen, trên vỏ dây có ký hiệu "CADI-SUN ELECTRIC CABLE****0.6/1KV CU/XLPE/PVC-DSTA 3x120 +1x70mm2”, bên trong có 04 lõi kim loại màu đồng có chiều dài lần lượt là 2,15m-2,2m-2,4m-7,7m-9,3m(tổng chiều dài là 26,5m); 01 máy mài cầm tay nhãn hiệu Dewwalt, màu vàng đen, gắn phin màu xanh đen, nhãn hiệu makita 18v, có gắn lưỡi mài đã qua sử dụng.
Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành hải Phòng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9- Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo Trần Hữu T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, những người làm chứng, kết luận định giá và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 13/8/2025, tại bờ mương thuộc khu vực cánh đồng B, tổ dân phố K, phường C, thành phố Hải Phòng, Trần Hữu T có hành vi lén lút dùng máy mài cắt trộm 06 đoạn dây cáp điện trị giá 20.000.000đồng thuộc sở hữu và quản lý của UBND phường C, thành phố Hải Phòng. Khi T đang trên đường mang về thì bị phát hiện và thu giữ.
Do đó đủ căn cứ xác định Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9- Hải Phòng truy tố bị cáo Trần Hữu T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đã lợi dụng thời điểm tài sản không có người trông coi nên lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của UBND phường C có tổng giá trị 20.000.000đồng. Bị cáo có nhân thân xấu, từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp và tàng trữ trái phép chất ma túy, bản thân lười lao động, mục đích chiếm đoạt tài sản về bán lấy tiền tiêu xài. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo mới đủ giáo dục bị cáo trở thành người có ích, đồng thời răn đe, giáo dục phòng ngừa chung.
Tuy vậy, khi áp dụng hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử cũng xem xét tới các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ sau: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình. Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS.
[4] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo có điều kiện kinh tế gia đình khó khăn, không có tài sản riêng nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là đại diện theo pháp luật UBND phường C yêu cầu bị cáo bồi thường giá trị tài sản bị mất số tiền 20.000.000 đồng là có căn cứ nên cần được chấp nhận.
[6] Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an thành phố H đã trả lại cho anh Trần Thế K 01 chiếc xe máy nhãn hiệu QQave alpha, BKS 34K2-2814, màu xanh đen, số khung HC08E001548, số máy 08072Y015128 và 01 thùng xe tự chế, làm bằng kim loại, kích thước thùng là 1,5x0,7x04m là phù hợp với khoản 2 Điều 47 BLHS, điểm b khoản 3 Điều 106 BLTTHS nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Đối với 06(sáu) đoạn dây cáp điện ngầm, hình tròn, đường kính 05cm, vỏ dây bằng nhựa màu đen, trên vỏ dây có ký hiệu “CADI-SUN ELECTRIC CABLE****0.6/1KV CU/XLPE/PVC-DSTA 3x120 +1x70mm2", bên trong có 04 lõi kim loại màu đồng có chiều dài lần lượt là 2,15m-2,2m-2,4m-7,7m-9,3m(tổng chiều dài là 26,5m) là vật chứng không sử dụng được và 01 máy mài cầm tay nhãn hiệu Dewwalt, màu vàng đen, gắn pin màu xanh đen, nhãn hiệu makita 18v, có gắn lưỡi mài đã qua sử dụng là công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội hiện không có giá trị nên cần tịch thu và tiêu hủy là phù hợp với điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS, các điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS.
[7] Đối với anh Trần Thế K, là người cho bị cáo T mượn xe mô tô và thùng xe tự chế, không biết việc T sử dụng vào việc phạm tội nên không xem xét xử lý.
[8] Về án phí: Bị cáo T bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm i, s khoản 1 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 47; Điều 48 của BLHS; Điều 584; Điều 585 BLDS; các điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của BLTTHS; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Trần Hữu T phạm tội "Trộm cắp tài sản".
Xử phạt bị cáo Trần Hữu T 21(hai mươi mốt) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.
- Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Trần Hữu T phải bồi thường số tiền 20.000.000đồng cho UBND phường C, thành phố Hải Phòng.
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 06(sáu) đoạn dây cáp điện ngầm, hình tròn, đường kính 05cm, vỏ dây bằng nhựa màu đen, trên vỏ dây có ký hiệu "CADI-SUN ELECTRIC CABLE****0.6/1KV CU/XLPE/PVC-DSTA 3x120 +1x70mm2”, bên trong có 04 lõi kim loại màu đồng có chiều dài lần lượt là 2,15m-2,2m-2,4m-7,7m-9,3m(tổng chiều dài là 26,5m); 01 máy mài cầm tay nhãn hiệu Dewwalt, màu vàng đen, gắn pin màu xanh đen, nhãn hiệu makita 18v, có gắn lưỡi mài đã qua sử dụng.
nhãn hiệu Dewwalt, màu vàng đen, gắn pin màu xanh đen, nhãn hiệu makita 18v, có gắn lưỡi mài đã qua sử dụng.
(Tình trạng cụ thể của vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản giữa cơ quan CSĐT- Công an thành phố H và Phòng THADS khu vực 9- Hải Phòng ngày 17/11/2025).
- Về án phí: Buộc bị cáo Trần Hữu T phải chịu 200.000đồng(hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.000.000đồng(một triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chu Thị Thu Hương |
Bản án số 42/2025/HS - ST ngày 08/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9- HẢI PHÒNG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 42/2025/HS - ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9- HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn T phạm tội Trộm cắp tài sản
