TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 - HƯNG YÊN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 42/2025/HNGĐ - ST
Ngày 08/12/2025.
“V/v xin ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HƯNG YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đào Duy T.
Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Quang T1 và bà Vũ Thị T2.
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị L – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hưng Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị H - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 12 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 92/2025/TLST – HNGĐ, ngày 07/10/2025, về việc “Xin ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Chị Mai Thị Thu P, sinh năm: 1994.
Quê quán: Phường P, tỉnh Bắc Ninh.
Nơi thường trú: thôn A, xã H, huyện K, Hưng Yên
Nay là thôn A. xã T, tỉnh Hưng Yên.
-
Bị đơn: Anh Đinh Duy M, sinh năm: 1977.
Nơi thường trú: thôn A, xã H, huyện K, Hưng Yên
Nay là thôn A. xã T, tỉnh Hưng Yên.
Hiện đang cai nghiện ma túy tại Cơ sở cai nghiện ma túy số A - Hà Nội.
(Đều vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn chị Mai Thị Thu P trình bày:
Chị kết hôn với anh Đinh Duy M, sinh năm 1977, trú tại thôn A, xã H, huyện K, tỉnh Hưng Yên (nay là thôn A. xã T, tỉnh Hưng Yên) trên cơ sở tự do tìm hiểu và hoàn toàn tự nguyện, anh chị đã đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện K, tỉnh Hưng Yên (nay là xã T) ngày 25/8/2020.
Quá trình chung sống, vợ chồng hạnh phúc được thời gina đầu thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh M nghiện hút chất ma túy, không tu chí làm ăn, chị P khuyên bảo nhiều lần nhưng anh M không thay đổi dẫn đến vợ chồng thường xuyên đánh, cãi chửi nhau. Đến năm 2024 mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, chị P đã bỏ về nhà mẹ đẻ sinh sống. Tháng 11/2024 anh M phải đi cai nghiện bắt buộc tại cơ sở cai nghiện ma túy số 1- Hà Nội. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị đề nghị được ly hôn với anh M.
Bị đơn anh Đinh Duy M, trình bày: Về hoàn cảnh và điều kiện kết hôn, quá trình chung sống, tình trạng hôn nhân như chị P trình bày là đúng. Tuy nhiên anh khẳng định không biết nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn, theo anh việc anh nghiện chất ma túy là đã có trước khi kết hôn, chị P biết nhưng vẫn chấp nhận kết hôn với anh. Nay chị P xin ly hôn anh có nguyện vọng vợ chồng đoàn tụ, nhưng nếu chị P cương quyết xin ly hôn thì tùy chị P và pháp luật quyết định.
Về con chung: Cả hai khẳng định vợ chồng không có con chung.
Về tài sản chung, công nợ chung, đất canh tác nông nghiệp 03, công sức đóng góp với gia đình hai bên gia đình: Cả hai khẳng định không có gì liên quan, không yêu cầu Tòa án đặt ra giải quyết.
Kết quả xác minh tại UBND xã T cung cấp: Vợ chồng anh M, chị P đã đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện K, tỉnh Hưng Yên (nay là xã T) ngày 25/8/2020 (Số 32/2020). Về nguyên nhân do anh, chị không gửi đơn để hòa giải nên UBND xã không nắm được nguyên nhân mâu thuẫn. Về con chung, anh, chị chưa có con chung.Về tài sản chung, công nợ chung, đất canh tác nông nghiệp 03, công sức đóng góp với gia đình hai của vợ chồng anh chị địa phương không nắm rõ. Đề nghị Toà giải quyết nguyện vọng ly hôn của chị P theo quy định của pháp luật.
Quá trình giải quyết cả nguyên đơn, bị đơn đều đề nghị và có đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt.
Tại phiên tòa hôm nay:
- - Nguyên đơn, bị đơn đều có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Hưng Yên phát biểu ý kiến:
- 1. Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn, bị đơn, người làm chứng đã tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
- 2. Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào Điều 144; khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025; khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56, Điều 57 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Toà án.
Về quan hệ hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị Mai Thị Thu P được ly hôn với anh Đinh Duy M. Về con chung: Không có con chung nên không đặt ra giải quyết. Về tài sản chung; công nợ chung; đất canh tác nông nghiệp 03 và công sức đóng góp của hai vợ chồng: Không đặt ra giải quyết. Về án phí, chị P phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà Hội đồng xét xử xét thấy:
-
[1] Về tố tụng: Ngày 08/10/2025, chị Mai Thị Thu P có đơn khởi kiện anh Đinh Duy M, xin được ly hôn. Anh Đinh Duy M hiện đang cai nghiện tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 1 - Hà Nội nhưng có hộ khẩu thường trú tại xã H, huyện K, tỉnh Hưng Yên (nay là xã T). Như vậy, Tòa án nhân dân khu vực 3 - Hưng Yên thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 28; Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2025. Nghị quyết 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 về việc thành lập Tòa án nhân dân tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực.
Tại phiên tòa, nguyên đơn; bị đơn vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, căn cứ Điều 227; Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
- [2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Mai Thị Thu P kết hôn với anh Đinh Duy M trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã H (nay là xã T),tỉnh Hưng Yên vào ngày 25/8/2020 (Số 32/2020), do đó đã xác lập quan hệ vợ chồng hợp pháp. Chị P khẳng định quá trình chung sống, anh M không tu chí làm ăn, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, dẫn đến ly thân từ năm 2024, anh M nghiện ma túy làm ảnh hưởng đến kinh tế, hạnh phúc gia đình, hiện anh M phải đi cai nghiện tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 1 - Hà Nội phù hợp với lời khai của chính anh M. Quá trình giải quyết, anh M cho rằng việc anh nghiện chất ma túy không phải là nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn nên anh có mong muốn vợ chồng đoàn tụ. Nguyện vọng xin đoàn tụ của anh M là chính đáng nhưng xét cuộc sống, hạnh phúc gia đình anh, chị đang ở trong tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, anh M không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của người chồng theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân gia đình; khoản 3 Điều 4 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao, nên căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, cho chị P được ly hôn với anh M.
- [3] Về con chung: Vợ chồng anh, chị không có con chung nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
- [4] Về tài sản chung, công nợ chung, đất canh tác nông nghiệp 03, công sức đóng góp của vợ chồng đối với hai bên gia đình: Do chị P và anh M đều không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
- [5] Về án phí: Căn cứ theo khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức nộp án phí, lệ phí Toà án, chị P phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
- [6]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điều 28, Điều 35, Điều 39; Điều 144; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56, Điều 57 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Toà án. Xử;
- Về hôn nhân: Cho chị Mai Thị Thu P được ly hôn với anh Đinh Duy M.
- Về nuôi con chung: Không đặt ra giải quyết.
- Về tài sản chung; công nợ chung, công sức đóng góp chung với hai bên gia đình và về đất canh tác nông nghiệp 03: Không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Chị Mai Thị Thu P phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Đối trừ với số tiền tạm ứng án phí chị đã nộp theo Biên lai thu số 0001880 ngày 08/10/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên, chị P đã thi hành xong phần án phí.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định.
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh Hưng Yên;
- - VKSNDKV3 – Hưng Yên;
- - THADS tỉnh Hưng yên;
- - Các đương sự;
- - UBND xã T,
- - Lưu: Hồ sơ, Vp.
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Đào Duy T
4
Bản án số 42/2025/HNGĐ - ST ngày 08/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HƯNG YÊN về xin ly hôn
- Số bản án: 42/2025/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án HNGD số 42 ngày 8/12/2025 về xin ly hôn giữa chị P và anh M
