TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – SƠN LA TỈNH SƠN LA Bản án số: 41/2025/HS - ST Ngày 18 - 12 - 2025 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – SƠN LA
Tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Sơn La
- - Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Nhung.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Cường, Ông Hà Văn Cương.
- - Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Phương Linh - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 3 - Sơn La.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Sơn La tham gia phiên toà:
Ông Dương Văn Nam - Kiểm sát viên.
Tại điểm cầu thành phần Phân trại tạm giam Sông M
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Sơn La tham gia phiên toà:
Bà Lò Thị K - Kiểm sát viên.
- - Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thị Thùy L - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 3 - Sơn La.
- Những người tham gia tố tụng khác gồm cán bộ, chiến sỹ thuộc Phân trại tạm giam Sông M: Ông Trịnh Thanh T, Ông Lò Văn S, Ông Lò Văn K1.
Ngày 18 tháng 12 năm 2025 tại điểm cầu trung tâm thuộc trụ sở Toà án nhân dân khu vực 3 - Sơn La và điểm cầu thành phần thuộc Phân trại tạm giam Sông Mã xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 16/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2025/QĐXXST - HS ngày 21 tháng 11 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2025/HSST – QĐ ngày 04/12/2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lường Văn T1 - Sinh năm 1988 tại xã B, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản N, xã B, tỉnh Sơn La; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Chức vụ đoàn thể, đảng phái: Không; Con ông Lường Văn P (đã chết) và bà Lường Thị L1; Bị cáo có vợ là Lường Thị V và 03 con (con lớn nhất sinh năm 2005, con nhỏ nhất sinh năm 2017); Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/7/2025, chuyển tạm giam từ ngày 05/8/2025 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 09 giờ 05 phút ngày 30/7/2025 Tổ công tác Công an xã B, tỉnh Sơn La làm nhiệm vụ phòng, chống ma tuý tại bản Nà Niêng, xã B, tỉnh Sơn La phát hiện Lường Văn T1 có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy. Thu giữ từ trong túi quần đang mặc của T1 một gói nilon bên trong chứa chứa chất bột màu trắng (T1 khai nhận là H). Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng nghi là ma tuý.
Cùng ngày 30/7/2025 tại Cơ quan CSĐT Công an tỉnh S (tổ địa bàn Sông M) đã thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh khối lượng vật chứng và trích mẫu gửi giám định, kết quả: Cân số chất bột màu trắng trong gói nilon thu giữ của Thiêm có tổng khối lượng 0,107 gam. Đã sử dụng toàn bộ làm mẫu gửi giám định ký hiệu T.
Tại Kết luận giám định số 898/KL-KTHS ngày 03/8/2025 của phòng K2 Công an tỉnh S, kết luận:
“- Mẫu ký hiệu T gửi giám định là ma túy; loại Heroine (H), có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và 2025) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,107gam.
- Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,107gam; loại Heroine (H), có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và 2025) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất”.
Quá trình điều tra bị cáo khai nhận: Khoảng 07 giờ 45 phút, ngày 30/7/2025 T1 mang theo số tiền 50.000 đồng đi bộ từ đến khu vực nương của bản N, xã B thì gặp một người đàn ông dân tộc Mông không biết tên, tuổi, địa chỉ. Qua nói chuyện, T1 hỏi mua được của người đàn này 01 gói Heroine với giá 50.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, T1 cất giấu gói ma tuý vào trong túi quần bên
phải đang mặc rồi đi bộ về đến khu vực bản N, xã B thì bị tổ công tác Công an xã B đang làm nhiệm vụ bắt quả tang, thu giữ vật chứng như đã nêu trên.
Do có hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số 16/CT-VKS-KV3 ngày 24 tháng 10 năm 2025 Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Sơn La đã truy tố ra trước Toà án nhân dân khu vực 3 - Sơn La để xét xử Lường Văn T1 về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lường Văn T1 phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt Lường Văn T1 từ 03 năm 04 tháng – 03 năm 08 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung. Vật chứng: Số ma túy đã được sử dụng làm mẫu gửi giám định hết, còn lại 01 mảnh nilon tịch thu tiêu hủy. Miễn án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo.
Tại phiên tòa bị cáo nhất trí với nội dung bản cáo trạng và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến tranh luận gì. Khi được nói lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và xin được miễn án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
- Về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên; Cơ quan Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về các chứng cứ xác định tội danh:
Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập vào hồi 09 giờ 05 phút, ngày 30/7/2025 đối với Lường Văn T1 cùng vật chứng bị thu giữ là một gói nilon bên trong có chứa chất bột màu trắng; Kết luận giám định số 898/KL-KTHS ngày 03/8/2025 của Phòng K2 Công an tỉnh S kết luận là ma túy: “... Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,107gam; loại Heroine (H).. ”. Lời khai nhận tội của bị cáo về thời gian địa điểm, diễn biến của hành vi phạm tội tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo không có thay đổi, bổ sung gì về lời khai làm thay đổi nội dung vụ án và khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện.
Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 30/7/2025 khi bị cáo đang có hành vi tàng trữ 0,107 gam ma túy loại Heroine mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ. Hành vi bị cáo thực hiện đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, có mức hình phạt tù từ 03 năm đến 05 năm.
Như vậy, nội dung truy tố và điều luật viện dẫn áp dụng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Sơn La đối với bị cáo là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.
- Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Tại phiên toà và tại cơ quan điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Về tính chất của vụ án, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, bị cáo nhận thức được việc tàng trữ, mua bán trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện tội phạm. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương, là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác, gây bức xúc trong xã hội.
Vì vậy, cần có một mức án tương xứng với tính chất và mức độ của hành vi phạm tội trên cơ sở cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và khối lượng ma túy bị cáo thực hiện hành vi phạm tội để đưa ra một mức án phù hợp nhất; nhằm giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và cũng đảm bảo biện pháp răn đe, phòng ngừa chung, góp phần thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tệ nạn ma tuý tại địa phương.
- Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra đã làm rõ bị cáo không có tài sản gì có giá trị nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
- Về vật chứng vụ án: Số ma túy đã sử dụng làm mẫu gửi giám định hết, còn lại một mảnh nilon là vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy là theo đúng quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
- Về các vấn đề khác có liên quan trong vụ án: Về người đàn ông dân tộc Mông bị cáo khai là người đã bán ma túy cho bị cáo, bị cáo khai không rõ họ tên và địa chỉ. Vì vậy, Cơ quan CSĐT không có căn cứ để xác minh, điều tra làm rõ là căn cứ chấp nhận.
- Về án phí: Bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số sống tại xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đề nghị được miễn án phí nên được miễn án phí theo quy định tại Điều 12 của Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
- Về điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Lường Văn T1 phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Lường Văn T1 03 năm 04 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/7/2025.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự
Tịch thu tiêu hủy: 01 mảnh nilon được đựng trong 01 phong bì đã dán kín, niêm phong đúng quy định, mặt sau phong bì trên giấy niêm phong có mã số 0003338.
Theo Quyết định chuyển vật chứng số 14/QĐ – VKS-KV3 ngày 17/10/2025 của Viện trưởng VKSND khu vực 3 – Sơn La và theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20/10/2025 giữa Công an tỉnh S và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 – Sơn La.
- Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 18/12/2025).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Nhung |
Bản án số 41/2025/HS-ST ngày 18/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Sơn La, tỉnh Sơn La về tàng trữ trái phép chất ma tuý (vụ án hình sự)
- Số bản án: 41/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý (Vụ án hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 3 - Sơn La, tỉnh Sơn La
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo bị bắt quả tang khi đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý
