|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - SƠN LA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
|
Bản án số: 40/2025/HS-ST Ngày 03 - 12 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tăng Thị Hải Oanh.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Yên, bà Đỗ Thị Chúc.
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Hồng Nhung, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 - Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Sơn La tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Thanh Nga, Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 48/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 38/2025/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:
Giàng A C, sinh ngày: 10/8/1996 tại xã K, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản L, xã T, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; đảng phái, đoàn thể: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Giàng A S (đã chết) và bà Lý Thị L – sinh năm 1974; có vợ là Vàng Thị D – sinh năm 1997, có 01 con – sinh năm 2018; tiền án: Ngày 05/01/2023, Giàng A C bị TAND huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La (nay là TAND khu vực 6 – Sơn La) xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản căn cứ theo khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự (Bản án số 45/2023/HSST), đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/10/2023 (chưa được xoá án tích); tiền sự: Không; Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/9/2025 đến nay; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 20 phút ngày 08/9/2025, Giàng A C đi bộ vào khu vực tổ dân phố T, phường M, tỉnh Sơn La để tìm mua ma túy sử dụng. Khi đến nơi, Giàng A C đã gặp và hỏi mua được của một người đàn ông không quen biết 01 gói nilon màu hồng bên trong đựng 05 viên ma tuý Hồng phiến với giá 100.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, C lấy ra 01 viên ma tuý Hồng phiến để sử dụng bằng hình thức đốt và hít trực tiếp vào cơ thể. Sau khi sử dụng xong ma tuý, C cất giấu 04 viên ma tuý còn lại được gói trong mảnh nilon màu hồng vào trong túi quần bên trái đang mặc rồi đi về. Trên đường về thì gặp tổ công tác Công an phường M, tỉnh Sơn La kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang. Vật chứng thu giữ của Giàng A C: 01 gói nilon màu hồng bên trong đựng 04 viên nén màu hồng, trên bề mặt mỗi viên đều có chữ “WY”, nghi là ma túy, loại Methamphetamine.
Ngày 08/9/2025, Công an phường M, tỉnh Sơn La tiến hành Test thử ma túy đối với Giàng A C, kết quả dương tính. Xác minh Giàng A C không thuộc diện nào theo quy định tại Điều 256a Bộ luật Hình sự.
Ngày 08/9/2025, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh S đã tiến hành xác định khối lượng 04 viên nén màu hồng nghi là ma túy Methamphetamine đựng trong gói nilon màu hồng thu giữ của Giàng A C được 0,36 gam, lấy toàn bộ làm mẫu trưng cầu giám định. Mẫu có ký hiệu C.
Tại Kết luận giám định số 1107/KL-KTHS ngày 12/9/2025 của Phòng K Công an tỉnh S kết luận: “Mẫu ký hiệu C gửi giám định là ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,36 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,36 gam; Loại Methamphetamine”.
Cáo trạng số 51/CT-VKS ngày 14/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Sơn La truy tố bị can Giàng A C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
* Tại phiên tòa: Bị cáo Giàng A C trình bày ý kiến giữ nguyên lời khai, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung nào làm thay đổi nội dung vụ án. Bị cáo nhận tội như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát.
* Tranh luận tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Sơn La giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Giàng A C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và áp dụng các căn cứ pháp luật như sau:
- + Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025). Xử phạt bị cáo Giàng A C từ 03 (ba) năm, 06 (sáu) tháng đến 04 (bốn) năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- + Áp dụng khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Về vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì bên trong mảnh nilon màu hồng.
- + Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giám, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo Giàng A C nhất trí với toàn bộ đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
* Lời nói sau cùng: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Những người tham gia tố tụng không có ý kiến, khiếu nại về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa bị cáo Giàng A C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra, số ma túy bị cáo bị tổ công tác Công an phường M thu giữ vào ngày 08/9/2025 có nguồn gốc mua được của một người đàn ông không quen biết với giá 100.000 đồng, mục đích sử dụng cho bản thân. Lời khai của bị cáo không có nội dung gì thay đổi so với lời khai tại cơ quan Cảnh sát điều tra, bị cáo
khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với hành vi đã thực hiện.
Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang do tổ công tác Công an phường M lập vào hồi 20 giờ 50 phút ngày 08/9/2025; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong, cân tịnh xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng; kết luận giám định; lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác cơ quan điều tra đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Từ những chứng cứ nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Giàng A C là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của việc tàng trữ, sử dụng ma túy. Nhưng do nghiện chất ma túy nên ngày 08/9/2025 bị cáo Giàng A C đã có hành vi tàng trữ, cất giấu trái phép 0,36 gam Methamphetamine, nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.
Do hành vi của bị cáo được thực hiện sau 0 giờ 00 phút ngày 01/7/2025, nên áp dụng khoản 18 Điều 1 Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc Hội sửa đổi, bổ sung Điều 249 Bộ luật hình sự, khung hình phạt tù xét xử đối với bị cáo từ 03 năm đến 05 năm.
Vì vậy, Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Sơn La đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp nghiêm trọng với lỗi cố ý, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 05/01/2023, Giàng A C bị TAND huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La (nay là TAND khu vực 6 – Sơn La) xử phạt 12 tháng tù về tội trộm cắp tài sản căn cứ theo khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự (Bản án số 45/2023/HSST), đã chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/10/2023. Bị cáo chưa được xóa án tích, ngày 08/9/2025 lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên hành vi phạm tội của bị cáo trong lần phạm tội tại vụ án này thuộc trường hợp tái phạm. Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo. Vì vậy, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
[5] Về mức hình phạt áp dụng: Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
[6] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, nhưng xét thấy bị cáo làm nghề lao động tự do, thu nhập không ổn định, không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 phong bì bên trong đựng mảnh nilon màu hồng, xét thấy là vật chứng không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[8] Về án phí: Bị cáo Giàng A C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giám, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[10] Về các vấn đề khác:
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Giàng A C: Khi bắt quả tang đối với Giàng A C, Công an phường M đã tiến hành test ma túy đối với Giàng A C, kết quả dương tính với chất ma túy. Tuy nhiên, kết quả xác minh với UBND xã T (nơi bị cáo đang cư trú) xác định bị cáo Giàng A C không thuộc các trường hợp quy định tại Điều 256a Bộ luật hình sự. Xét thấy hành vi của Giàng A C không đủ yếu tố cấu thành tội Sử dụng trái phép chất ma túy nên việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S không tiến hành mở rộng, điều tra và không xử phạt vi phạm hành chính đối với Giàng A C về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là phù hợp.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Giàng A C, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ để điều tra, làm rõ và xử lý. Buộc Giàng A C phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về số ma túy đã bị thu giữ.
Thời hạn tạm giam đối với bị cáo còn lại dưới 45 ngày, do đó Hội đồng xét xử ra quyết định tạm giam bị cáo để bảo đảm cho việc thi hành án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh và hình phạt:
- Về xử lý vật chứng của vụ án:
- Về án phí:
- Về quyền kháng cáo:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Tuyên bố bị cáo Giàng A C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Giàng A C 45 (bốn mươi lăm) tháng tù.
Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 08/9/2025.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Căn cứ khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì bên trong mảnh nilon màu hồng (Theo Biên bản giao nhận vật chứng số: 49/BBVC-THA ngày 20/11/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6 - Sơn La).
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giám, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Giàng A C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng chẵn).
Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 03/12/2025).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA (Đã ký) Tăng Thị Hải Oanh |
7
Bản án số 40/2025/HS-ST ngày 03/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 40/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Giàng A C là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của việc tàng trữ, sử dụng ma túy. Nhưng do nghiện chất ma túy nên ngày 08/9/2025 bị cáo Giàng A C đã có hành vi tàng trữ, cất giấu trái phép 0,36 gam Methamphetamine, nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.
