Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập- Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 386/2025/DS-PT

Ngày: 08 - 12 - 2025

V/v đòi giấy chứng nhận

quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thái Lan

Các Thẩm phán: Bà Đinh Thị Tuyết, ông Nguyễn Việt Hùng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Hạnh – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Công - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 369/2025/TLPT-DS ngày 15 tháng 10 năm 2025 về việc: “Đòi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 14/2025/DS-ST ngày 22/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đắk Lắk bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 413/2025/QĐ-PT ngày 17/11/2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Lê Văn T, sinh năm 1958; Địa chỉ: Số A T, thị trấn Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk (nay là xã Q, tỉnh Đắk Lắk) – Có mặt.
  2. Bị đơn: Ông Phan Ngọc Đ, sinh năm 1980; Địa chỉ: Tổ dân phố B, thị trấn Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk (nay là xã Q, tỉnh Đắk Lắk); Địa chỉ liên hệ: Bên kia C, xã Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk (nay là xã Q, tỉnh Đắk Lắk) – Có mặt.

* Người kháng cáo: Bị đơn ông Phan Ngọc Đ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Lê Văn T trình bày:

Vào ngày 22/02/2022, vợ chồng ông T có chuyển nhượng cho ông Phan Ngọc Đ một nửa lô đất địa chỉ tại Cầu T, xã Q, huyện C, tỉnh Đắk Lắk với giá 425.000.000 đồng.

Sau khi thống nhất, ông Đ trả đủ tiền và đề nghị ông Tâm giao 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng (GCNQSD) đất cho ông Đ để tách thửa. Do đó, ông T đã giao cho ông Đ 02 GCNQSD đất gồm:

- GCNQSD đất số AG874705 do UBND huyện C cấp ngày 10/10/2006 cho Lê Văn T, bà Tống Thị N, diện tích đất 3.470m², thửa đất số 127, tờ bản đồ số 05.

- GCNQSD đất số AG874704 do UBND huyện C cấp ngày 10/10/2006 cho Lê Văn T, bà Tống Thị N, diện tích đất 2.500m², thửa đất số 132, tờ bản đồ số 05.

Tuy nhiên từ đó đến nay ông Đ không trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T mặc dù ông T đã đòi nhiều lần, hiện nay lô đất đã chia làm 2 phần bằng nhau, phần ai người đó làm, không có tranh chấp. Vì vậy ông T yêu cầu Tòa án buộc ông Đ phải trả lại cho ông 02 GCNQSD đất nêu trên.

* Quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm bị đơn ông Phan Ngọc Đ không tham gia tố tụng, tại cấp phúc thẩm ông Đ trình bày:

Ông Đ trước đây là con rể của ông T, ông Đ và con gái của ông T đã ly hôn từ năm 2017. Vào ngày 22/02/2022, ông Đ nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông T ½ lô đất tại khu vực gần Cầu T với giá 425.000.000 đồng, ông Đ đã thanh toán đủ số tiền, đồng thời vợ chồng ông Tâm G cho ông Đ 02 GCNQSD đất của khu đất trên cho ông Đ để đi làm thủ tục tách thửa sang tên theo quy định. Thông tin 02 GCN như ông T trình bày. Khi giao các bên không lập biên bản giấy tờ gì, cũng không thoả thuận thời hạn phải hoàn tất thủ tục. Do ông Đ thường xuyên đi làm xa nên chưa sắp xếp được thời gian để đi làm giấy tờ, đến năm 2024 ông Đ liên hệ với cán bộ địa chính thì được trả lời là tại khu vực đất các bên sang nhượng đang bị thiếu 01 GCNQSD đất của thửa đất số 136 nên chưa làm được. Sau đó ông Đ đã trao đổi với ông T và ông T nói để ông kiểm tra lại rồi xử ký nhưng đến nay vẫn không thấy kết quả gì. Việc Toà án cấp sơ thẩm buộc ông Đ trả lại các GCNQSD đất nêu trên là xâm phạm đến quyền lợi của ông vì ông T chưa giao đủ giấy tờ để ông Đ đi làm thủ tục tách thửa nên đến nay vẫn chưa hoàn tất việc sang tên quyền sử dụng đất.

* Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 14/2025/DS-ST ngày 22/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đắk Lắk đã quyết định:

  • Áp dụng Điều 105; Điều 164; Điều 166 Bộ luật dân sự năm 2015.
  • Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Văn T
  • Buộc bị đơn ông Phan Ngọc Đ phải trả cho ông Lê Văn T bản chính:
    • - 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG874705 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 10/10/2006 cho Lê Văn T, bà Tống Thị N, đối với diện tích đất 3.470m², thửa đất số 127, tờ bản đồ số 05.
    • - 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG874704 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 10/10/2006 cho Lê Văn T, bà Tống Thị N, đối với diện tích đất 2.500m², thửa đất số 132, tờ bản đồ số 05.
  • Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

* Ngày 26/9/2025, bị đơn ông Phan Ngọc Đ kháng cáo một phần bản án sơ thẩm về thủ tục tố tụng khi xét xử vắng mặt bị đơn và việc buộc bị đơn phải trả lại 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nguyên đơn, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại các quyết định trên và buộc ông T phải cung cấp đầy đủ hồ sơ liên quan đến lô đất để bị đơn làm thủ tục sang tên.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn ông Phan Ngọc Đ đồng ý trả lại 02 GCNQSD đất cho ông T nhưng yêu cầu ông T phải viết giấy cam kết thực hiện các thủ tục tách thửa sang tên cho ông Đ trong thời hạn nhất định; phía ông T cho rằng ông có thể cam kết được nhưng thủ tục này là do cơ quan Nhà nước thực hiện nên thời hạn bao lâu thì ông không thể biết trước, yêu cầu ông Đ phải trả ngay tại phiên toà. Các bên không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk phát biểu quan điểm tại phiên tòa:

  • Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký, các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Phan Ngọc Đ: Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 14/2025/DS-ST ngày 22/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đắk Lắk.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, lời trình bày của các đương sự, quan điểm của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn nộp trong hạn luật định và đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm nên vụ án được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm là phù hợp.

[2] Xét kháng cáo của bị đơn ông Phan Ngọc Đ:

[2.1] Bị đơn ông Phan Ngọc Đ kháng cáo cho rằng chỉ nhận được quyết định hoãn phiên toà nên không đồng ý với nhận định của bản án sơ thẩm là ông T vắng mặt lần thứ 2 tại phiên toà. Hội đồng xét xử thấy rằng:

Theo kết quả xác minh tại Công an xã Q, huyện C (BL 32) thể hiện: Ông Phan Ngọc Đ không đăng ký thường trú, tạm trú tại địa chỉ Bên kia Cầu T, xã Q, huyện C nhưng có sinh sống tại địa phương. Quá trình giải quyết vụ án, Toà án cấp sơ thẩm đã niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Đ (do ông Đ vắng nhà) nhưng ông Đ đều không có mặt. Ngày 14/7/2025, Toà án cấp sơ thẩm ban hành Quyết định đưa vụ án ra xét xử, ấn định thời gian mở phiên toà vào ngày 05/8/2025, Thừa phát lại Đ1 đã tống đạt cho ông Đ thông qua ông Nguyễn Thanh B là cháu ruột của ông Đ và ông B cam kết giao lại cho ông Đ (BL 43). Tại phiên toà ngày 05/8/2025, ông Đ vắng mặt không có lý do. Do đó, Toà án cấp sơ thẩm đã ban hành Quyết định hoãn phiên toà, ấn định lại thời gian xét xử vào ngày 22/8/202. Ngày 13/8/2025, ông Đ nhận trực tiếp Quyết định trên (BL 48) nhưng tại phiên toà tiếp tục vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hay trở ngại khách quan. Vì vậy, Hội đồng xét xử sơ thẩm căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định pháp luật.

[2.2] Các đương sự đều thừa nhận, vào ngày 22/02/2022, ông T có chuyển nhượng cho ông Đ ½ lô đất tại khu vực cầu T với giá 425.000.000 đồng, các bên đã giao đủ tiền và nhận đất quản lý, sử dụng từ đó đến nay, không có tranh chấp; tại thời điểm chuyển nhượng, theo thoả thuận của các bên thì ông T đã giao cho ông Đ bản chính 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của lô đất trên để ông Đ đi làm thủ tục tách thửa sang tên gồm: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 874705 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 10/10/2006 cho Lê Văn T, bà Tống Thị N đối với thửa đất số 127, tờ bản đồ số 5, diện tích 3.470m² và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 874704 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 10/10/2006 cho Lê Văn T, bà Tống Thị N đối với thửa đất số 132, tờ bản đồ số 5, diện tích đất 2.500m². Tuy nhiên từ đó đến nay, ông Đ không thực hiện việc tách thửa sang tên cũng không trả lại 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cho ông T, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của gia đình ông T. Phía ông Đ cho rằng, do ông T chưa giao đủ giấy tờ đất để làm thủ tục tách thửa sang tên nên ông Đ không đồng ý trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Xét lý do ông Đ đưa ra là không phù hợp vì trường hợp các bên có tranh chấp về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì sẽ được giải quyết bằng một vụ kiện khác.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 166 Bộ luật dân sự về quyền đòi lại tài sản: “Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật”.

Và Điều 279 Bộ luật dân sự quy định về thực hiện nghĩa vụ giao vật:

“1. Bên có nghĩa vụ giao vật phải bảo quản, giữ gìn vật cho đến khi giao.

2. Khi vật phải giao là vật đặc định thì bên có nghĩa vụ phải giao đúng vật đó và đúng tình trạng như đã cam kết; nếu là vật cùng loại thì phải giao đúng số lượng và chất lượng như đã thỏa thuận, nếu không có thỏa thuận về chất lượng thì phải giao vật đó với chất lượng trung bình; nếu là vật đồng bộ thì phải giao đồng bộ.

3. Bên có nghĩa vụ phải chịu mọi chi phí về việc giao vật, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”.

Khoản 1 Điều 356 Bộ luật dân sự quy định trách nhiệm do không thực hiện nghĩa vụ giao vật: “Trường hợp nghĩa vụ giao vật đặc định không được thực hiện thì bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bên vi phạm phải giao đúng vật đó; nếu vật không còn hoặc bị hư hỏng thì phải thanh toán giá trị của vật”.

Như vậy, ông Đào giữ 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T, bà N không có căn cứ pháp luật nên việc ông T yêu cầu ông Đ phải trả lại là có cơ sở.

[2.3] Từ những phân tích và lập luận trên, Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận nội dung kháng cáo của bị đơn, cần giữ nguyên các quyết định của bản án sơ thẩm.

[3] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Phan Ngọc Đ.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 14/2025/DS-ST ngày 22/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 - Đắk Lắk.

- Áp dụng Điều 105; Điều 164; Điều 166; Điều 279; Điều 356 Bộ luật dân sự năm 2015.

- Áp dụng khoản 2 Điều 26, khoản 1 Điều 27, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Văn T

    Buộc bị đơn ông Phan Ngọc Đ phải trả cho ông Lê Văn T bản chính:

    • - 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG874705 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 10/10/2006 cho Lê Văn T, bà Tống Thị N, đối với diện tích đất 3.470m², thửa đất số 127, tờ bản đồ số 05.
    • - 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG874704 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 10/10/2006 cho Lê Văn T, bà Tống Thị N, đối với diện tích đất 2.500m², thửa đất số 132, tờ bản đồ số 05.
  2. Về án phí: Ông Phan Ngọc Đ phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, được khấu trừ số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001440 ngày 03/10/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk. Ông Đ còn phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

[2] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Đắk Lắk;
  • - TAND khu vực 3;
  • - THADS tỉnh Đắk Lắk;
  • - Đương sự;
  • - Cổng thông tin điện tử TA;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Thái Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 386/2025/DS-PT ngày 08/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK về đòi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 386/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: đòi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 08/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ĐÒI GIẤY CHỨNG NHẬN QUYÈN SỬ DỤNG ĐẤT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger