Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 38/2025/HNGĐ-PT

Ngày 27 - 11 - 2025

V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con

và chia tài sản khi ly hôn

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Anh Tuấn

Các Thẩm phán: Bà Châu Minh Nguyệt

Ông Đỗ Cao Khánh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phái - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nhỏ - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau, xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình phúc thẩm thụ lý số 34/2025/TLPT-HNGĐ ngày 06/10/2025 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con và chia tài sản khi ly hôn”.

Do Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 23/2025/HNGĐ-ST ngày 08/8/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 8, tỉnh Cà Mau bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2025/QĐ-PT ngày 17/10/2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Huỳnh Hồng N, sinh ngày 12/12/2002
    CCCD [...], cấp ngày 13/5/2021, nơi cấp: Bộ C
    Địa chỉ: ấp T, xã G, tỉnh Cà Mau.
  2. Bị đơn: Anh Nguyễn Cao Đ, sinh ngày 20/10/1994
    CCCD [...], cấp ngày 09/8/2021, nơi cấp: Bộ C
    Địa chỉ: ấp Đ, xã L, tỉnh Cà Mau.

Người kháng cáo: Bị đơn, anh Nguyễn Cao Đ, sinh ngày 20/10/1994.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 14/03/2025 và lời khai trong quá trình tố tụng nguyên đơn chị Huỳnh Hồng N và anh Nguyễn Cao Đ thống nhất xác định:

Về quan hệ hôn nhân: Anh, chị xây dựng hôn nhân trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu và được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 09/6/2022, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục, tập quán ở địa phương. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống chung. Nay chị N xác định anh Đ không còn quan tâm, yêu thương chị nữa tình cảm vợ chồng không còn, nên chị xin ly hôn. Anh Đ xác định do áp lực công việc, anh phải cố gắng tập trung cho công việc nên có thiếu quan tâm đến chị N, anh xác định còn thương vợ, nên không đồng ý ly hôn theo yêu cầu của chị N.

Về con chung: Chị và anh Đ thống nhất xác định vợ chồng có một con chung tên Nguyễn Huỳnh Gia B, sinh ngày 26/10/2023, hiện con đang sống cùng với anh Đ. Chị N xác định ngày 08/3/2025 chị xin anh Đ và cha mẹ anh Đ về nhà cha mẹ ruột chơi vài ngày nên chị bồng con theo, nhưng do những mâu thuẫn, bất đồng giữa chị và anh Đ nên chị không về lại nhà anh Đ để vợ chồng tiếp tục chung sống nên chị ở lại nhà cha mẹ ruột luôn, đến ngày 05/4/2025 anh Đ đến nhà cha mẹ ruột chị thăm con và bồng con về nuôi dưỡng đến nay.

Khi ly hôn, chị N yêu cầu được nuôi con, yêu cầu anh Đẳng cấp D mỗi tháng 2.000.000 đồng, anh Đ không đồng ý cấp dưỡng, yêu cầu được nuôi con không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung: Anh Đ, chị N thống nhất xác định vợ chồng có 11 chỉ vàng 18k và 34 chỉ vàng 24k, khi ly hôn anh chị tự thoả thuận phân chia mỗi người ½ số vàng, hiện chị N đang quản lý toàn bộ số vàng, đồng ý hoàn lại cho anh Đ 5,5 chỉ vàng 18k và 17 chỉ vàng 24k.

Từ những nội dung trên, tại Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 23/2025/HNGĐ-ST ngày 08/8/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 8, tỉnh Cà Mau đã quyết định:

  • - Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Huỳnh Hồng N. Xử cho chị Huỳnh Hồng N được ly hôn anh Nguyễn Cao Đ.
  • - Về con chung: Buộc anh Đ giao cháu Nguyễn Huỳnh Gia B, sinh ngày 26/10/2023 cho chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Nguyễn Cao Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được quyền cản trở.
  • Về cấp dưỡng: Buộc anh Đ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu Nguyễn Huỳnh Gia B, sinh ngày 26/10/2023 mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi cháu Nguyễn Huỳnh Gia B tròn 18 tuổi. Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày 08/8/2025.
  • - Về tài sản chung: Công nhận sự thỏa thuận của chị Huỳnh Hồng N và anh Nguyễn Cao Đ. Buộc chị Huỳnh Hồng N trả cho anh Nguyễn Cao Đ 5,5 chỉ vàng 18k và 17 chỉ vàng 24k khi án có hiệu lực pháp luật.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 18/8/2025, anh Nguyễn Cao Đ kháng cáo yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con. Tại phiên toà phúc thẩm anh Đ vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án.

- Về thủ tục tố tụng: Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử thấy rằng Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, các Thẩm phán, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của anh Đ, giữ nguyên Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 23/2025/HNGĐ-ST ngày 08/8/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 8, tỉnh Cà Mau.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm; sau khi nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về hình thức, nội dung đơn kháng cáo, thời hạn kháng cáo được thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 272, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự, nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[1.2] Về sự có mặt của các đương sự: Tại phiên toà phúc thẩm chị N và anh Đ có mặt, căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự tiếp tục xét xử vụ án.

[2] Về quan hệ hôn nhân và tài sản chung: Anh Đ và chị N không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị nên không đặt ra xem xét giải quyết.

[3] Xét kháng cáo của anh Đ yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu chị N cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy, Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình quy định sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình; vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con; con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con, theo đó N và anh Đ đều có quyền được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con.

Trong quá trình giải quyết vụ án chị N và anh Đ xác định anh Đ cưới chị về làm dâu sống cùng với cha mẹ anh Đ, từ khi cháu B được sinh ra cho đến khi tranh chấp việc nuôi con cháu Bách sống cùng với anh chị và cha mẹ anh Đ, được cha mẹ anh Đ chăm sóc từ khi mới sinh đến nay, tại thời điểm giải quyết việc ly hôn cháu Nguyễn Huỳnh Gia B dưới 36 tháng tuổi nhưng hiện do anh Đ cùng với cha mẹ anh Đ đang trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục, thời gian chị N về nhà cha mẹ ruột sinh sống đến nay anh Đ trực tiếp chăm sóc cháu B vẫn phát triển bình thường theo kết quả khám kiểm tra sức khoẻ của Bệnh viện Đ1, trong thời gian anh Đ nuôi con từ tháng 4/2025 đến tháng 8/2025 chị N chỉ đến thăm con chung 01 lần. Do đó, khi quyết định việc giao cháu B cho anh Đ hay chị N nuôi dưỡng cần cân nhắc, xem xét đầy đủ các điều kiện nuôi con và quyền lợi về mọi mặt của cháu B.

Theo khoản 5 Điều 6 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn giải quyết việc nuôi con khi ly hôn quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình khi xem xét “quyền lợi về mọi mặt của con” phải đánh giá khách quan, toàn diện về điều kiện, khả năng của cha, mẹ trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, bao gồm cả khả năng bảo vệ con khỏi bị xâm hại, bóc lột; quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi, được duy trì mối quan hệ với người cha, mẹ không trực tiếp nuôi; sự gắn bó, thân thiết của con với cha, mẹ; sự quan tâm của cha, mẹ đối với con; bảo đảm sự ổn định, hạn chế sự xáo trộn môi trường sống, giáo dục của con.

Xét điều kiện nuôi con của anh Đ và chị N thấy rằng anh, chị đều không bị hạn chế quyền nuôi con theo quy định tại Điều 85 Luật hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, điều kiện, khả năng của anh Đ trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thuận lợi hơn, vì hiện nay anh Đ đang làm việc tại Ngân hàng, có công việc và thu nhập ổn định, môi trường sống của cháu B từ khi mới sinh ra đã được cha mẹ anh Đ chăm sóc ổn định, trong thời gian anh Đ nuôi con từ tháng 4/2025 đến nay cháu B vẫn phát triển bình thường, còn chị N hiện không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định và không có tài sản nào khác để trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con, từ nhỏ cháu không sống chung với ông bà ngoại và từ tháng 4/2025 đến nay chị N không trực tiếp nuôi con, nên để bảo đảm sự ổn định, hạn chế sự xáo trộn môi trường sống của cháu B, cần tiếp tục giao cháu B cho anh Đ tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, trường hợp trong thời gian nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu B mà anh Đ không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị N có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Do đó, có căn cứ chấp nhận kháng cáo của anh Đ, sửa một phần Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm của Toà án nhân dân Khu vực 8, tỉnh Cà Mau.

[4] Xét đề nghị của Kiểm sát viên đề nghị không chấp nhận kháng cáo của anh Đ, giữ nguyên Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Hội đồng xét xử xét thấy, như đã phân tích thì đề nghị của Kiểm sát viên chưa phù hợp nên không được chấp nhận.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm mặc dù các đương sự không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị, nhưng việc chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Cao Đ làm thay đổi nghĩa vụ dân sự, nên cần sửa phần án phí cấp dưỡng nuôi con cho phù hợp quy định pháp luật.

[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, anh Nguyễn Cao Đ không phải chịu, anh Nguyễn Cao Đ đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được hoàn lại.

[7] Các phần quyết định khác của Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 23/2025/HNGĐ-ST ngày 08/8/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 8, tỉnh Cà Mau không bị kháng cáo, kháng nghị, không liên quan đến kháng cáo đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Cao Đ, sửa một phần Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 23/2025/HNGĐ-ST ngày 08/8/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 8, tỉnh Cà Mau.

Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 33, 51, 53, 56, 81, 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 01/2024/HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao; Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Huỳnh Hồng N đối với anh Nguyễn Cao Đ.
  2. Xử cho chị Huỳnh Hồng N, sinh ngày 12/12/2002 được ly hôn anh Nguyễn Cao Đ, sinh ngày 20/10/1994.

  3. Về con chung:
    • - Giao cháu Nguyễn Huỳnh Gia B, sinh ngày 26/10/2023 cho anh Nguyễn Cao Đ tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
    • - Chị Huỳnh Hồng N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được quyền cản trở.
    • - Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Nguyễn Cao Đ không yêu cầu, nên không xem xét.
  4. Về tài sản chung: Công nhận sự thỏa thuận của chị Huỳnh Hồng N và anh Nguyễn Cao Đ.
    • - Chia cho chị Huỳnh Hồng N 05 chỉ 05 phân vàng 18k và 17 chỉ vàng 24k (loại vàng 98%).
    • - Chia cho anh Nguyễn Cao Đ 05 chỉ 05 phân vàng 18k và 17 chỉ vàng 24k (loại vàng 98%).
    • - Buộc chị Huỳnh Hồng N có trách nhiệm giao trả cho anh Nguyễn Cao Đ 05 chỉ 05 phần vàng 18k và 17 chỉ vàng 24k (loại vàng 98%).
  5. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, án phí chia tài sản và án phí phúc thẩm:
    1. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:
    2. Chị Huỳnh Hồng N phải chịu 300.000 đồng, chị Huỳnh Hồng N đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng, theo biên lai thu số 0006651 ngày 27/3/2025, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Hải, tỉnh Bạc Liêu (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 8 tỉnh Cà Mau) được chuyển thu án phí.

    3. Án phí chia tài sản: Buộc chị Huỳnh Hồng N phải nộp số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) và buộc anh Nguyễn Cao Đ phải nộp số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
    4. Án phí dân sự phúc thẩm: Anh Nguyễn Cao Đ không phải chịu, anh Nguyễn Cao Đ đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án, ký hiệu BLTU/25E số 0000064, ngày 21/8/2025, tại Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau được hoàn lại đủ.
  6. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Toà PT TANDTC, tại Tp HCM;
  • - VKSND tỉnh Cà Mau;
  • - TAND Khu vực 8;
  • - Phòng THADS Khu vực 8;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, Tổ HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Bùi Anh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2025/HNGĐ-PT ngày 27/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp ly hôn, nuôi con và chia tài sản khi ly hôn

  • Số bản án: 38/2025/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con và chia tài sản khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: do mâu thuẫn vợ chồng nên chị N khởi kiện xin ly hôn, yêu cầu nuôi con chung và chia tài sản chung vợ chồng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger