Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 12 – ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 38/2025/HS-ST

Ngày 04 - 12 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - ĐỒNG THÁP

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Trung.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Bùi Minh Châu;

Bà Nguyễn Thị Oanh Kiều.

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Bảo Trâm – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Trần Lam Điền - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 33/2025/TLST-HS, ngày 10 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 11 năm 2025, đối với:

Bị cáo Lê Ngọc H (Tên gọi khác: Hải Quéo), sinh ngày 12/02/1999 tại Đồng Tháp; nơi cư trú: Khóm A, phường A, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn H1, sinh năm 1970 và bà Võ Thị Ngọc D, sinh năm 1974; vợ, con: Chưa có; tiền án: Ngày 01/12/2023, bị Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp tuyên phạt 06 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong ngày 10/7/2024, tiền sự: Ngày 26/9/2023, bị UBND phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp xử phạt hành chính với hình thức phạt tiền 2.500.000đồng về hành vi Trộm cắp tài sản (chưa nộp phạt); ngày 10/6/2025, bị Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 20 tháng (đang chấp hành), nhân thân: Ngày 01/6/2018, bị Tòa án nhân dân thị xã Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 12 tháng, chấp hành xong ngày 21/12/2018; ngày 27/9/2019, bị Tòa án nhân

dân thị xã Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 18 tháng, chấp hành xong ngày 28/10/2020; tạm giữ, tạm giam: Không. Hiện bị cáo đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy Số 1 – tỉnh Đồng Tháp.

(Bị cáo có mặt).

- Bị hại: Lý Văn T, sinh năm 1983 (Vắng mặt có đơn);

Nơi cư trú: Khóm D, phường H, tỉnh Đồng Tháp.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Văn T1, sinh năm 1973 (Vắng mặt có đơn);

Nơi cư trú: Khóm A, phường A, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Lê Ngọc H có 01 (một) tiền án về tội trộm cắp tài sản, bị Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự (Nay là Tòa án nhân dân khu vực 12 – Đồng Tháp) xử phạt 06 tháng tù giam, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 10/7/2024, lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:

Vào khoảng 00 giờ ngày 23/5/2025, Lê Ngọc H đi bộ từ nhà đến nhà ông Nguyễn Văn T1 ở khóm A, phường A để hỏi mượn xe đạp chạy đi chơi, do người trong nhà đã ngủ, lúc này xe đang đậu ngay chân cầu thang nhà, gần đường và không có khoá nên Lê Ngọc H tự ý lấy xe chạy đi. Sau đó, Lê Ngọc H đạp xe chạy trên đường, khi đến khu vực sân của Phòng T2 thuộc khóm A, phường A (Khóm A, phường A cũ) thì nhìn thấy bên trong sân có nhiều cây mai được trồng trên chậu, lúc này Lê Ngọc H nảy sinh ý định trộm mai mang về làm cảnh nên dừng xe, lén lút trèo qua hàng rào vào trong sân, dùng tay nhổ một cây mai ra khỏi chậu, rồi điều khiển xe đạp chở mai về khu vực bãi đất trống gần nhà để cất giấu.

Qua kiểm tra, xác minh, nhận thấy có dấu hiệu tội phạm nên Công an phường A (Nay là phường A) đã chuyển nguồn tin đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ giải quyết theo thẩm quyền.

Kết luận định giá số 187/KL-HĐĐGTS, ngày 27/6/2025 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự cấp tỉnh, UBND tỉnh Đ. Kết luận: Đặc điểm của tài sản cần định giá tại thời điểm định giá: Mô tả hiện trạng: 01 cây mai có đặc điểm như sau: Chiều cao 93cm, tính từ mặt đất lên đến ngọn mai; đường kính tàn mai nơi lớn nhất 100cm; tổng chu vi gốc cái 60cm (một gốc chia ra thành hai nhánh), nhánh thứ nhất có chu vi 24cm, nhánh thứ hai có chu vi 22 cm.

Kết luận về giá của tài sản: Qua kiểm tra hồ sơ được cung cấp và thực tế của tài sản, Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự xác định giá trị tài sản trên cơ sở các phiếu khảo sát giá trên địa bàn thành phố H, tỉnh Đồng Tháp. Hội đồng định giá thống nhất xác định giá trị tài sản định giá tại thời điểm 23/5/2025 như sau: Bình quân giá trị tài sản: (5.000.000đồng + 5.500.000đồng + 3.000.000đồng)/3 = 4.500.000đồng. Tổng giá trị tài sản định giá tại thời điểm 23/5/2025: 4.500.000đồng (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng).

Kết luận số 686/KL-KTHS ngày 27/6/2025 của Phòng K Công an tỉnh Đ đối với các đoạn Camera thu giữ: Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa về nội dung hình ảnh trong 01 (một) tệp video ký hiệu A mẫu cần giám định; đã trích xuất, sao chép hình ảnh đối tượng nghi có đặc điểm người nam mặc áo sơ mi vải tay dài, mặc quần sọt vải màu đen, mang khẩu trang màu đen, cây mai, xe đạp có trong 01 (một) tệp video ký hiệu A mẫu cần giám định và in ra bản ảnh.

Trong quá trình điều tra, bị cáo Lê Ngọc H thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng thu giữ và xử lý: Thu giữ của Lê Ngọc H: 01 (một) cây mai chiều cao 93 cm, tính từ mặt đất lên đến ngọn mai; đường kính tàn mai nơi lớn nhất 100cm; tổng chu vi gốc cái 60cm (một gốc chia thành hai nhánh), nhánh thứ nhất có chu vi 24cm, nhánh thứ hai có chu vi 22cm. Qua điều tra đây là tài sản hợp pháp của bị hại Lý Văn T, xét thấy không làm ảnh hưởng đến vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xử lý vật chứng trả lại cho bị hại; 01 (một) cái quần sọt vải, màu đen; 01 (một) cái áo sơ mi vải tay dài có phần lưng áo màu đen, phía trước bên trái áo màu đen, phía trước bên phải áo có sọc caro trắng, xanh và 01 (một) cái khẩu trang màu đen. Đây là quần áo và khẩu trang bị cáo Lê Ngọc H mặc trên người thời điểm thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, xét thấy không làm ảnh hưởng đến vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xử lý vật chứng trả lại cho bị cáo Lê Ngọc H. Thu giữ của Nguyễn Văn T1: 01 (một) chiếc xe đạp (loại sườn đôi, thẳng) màu trắng, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng hoạt động. Qua điều tra, xác định đây là tài sản hợp pháp của ông Nguyễn Văn T1, xét thấy không làm ảnh hưởng đến vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xử lý vật chứng trả lại cho ông Nguyễn Văn T1. Thu giữ tại hiện trường: 01 (một) đoạn video (files) có tên "Trom_cay_mai_01h01' (23-5-2025)_AN27.mp4 (M) thời gian từ 01 giờ 04 phút 49 giây đến 01 giờ 05 phút 43 giây, ngày 23/5/2025, kích cỡ 14,695 KB ghi nhận được hình ảnh, diễn biến có liên quan trong vụ án.

Về trách nhiệm dân sự: Do không bị thiệt hại về tài sản nên bị hại Lý Văn T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn T1 không có yêu cầu bồi thường.

Tại bản cáo trạng số 02/CT-VKS-KV12, ngày 09 tháng 10 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Đồng Tháp truy tố bị cáo Lê Ngọc H đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo thống nhất toàn bộ nội dung trong Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Đồng Tháp như sau: Bị cáo có hành vi lén lút trèo qua hàng rào vào trong sân của Phòng T2 và dùng tay nhổ một cây mai ra khỏi chậu có đặc điểm như sau: Chiều cao 93cm, tính từ mặt đất lên đến ngọn mai; đường kính tàn mai nơi lớn nhất 100cm; tổng chu vi gốc cái 60cm (một gốc chia ra thành hai nhánh), nhánh thứ nhất có chu vi 24cm, nhánh thứ hai có chu vi 22cm. Sau đó, bị cáo điều khiển xe đạp chở cây mai về khu vực bãi đất trống gần nhà để cất giấu.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Đồng Tháp thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử đã phát biểu lời luận tội: Khẳng định hành vi của bị cáo Lê Ngọc H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lê Ngọc H phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Ngọc H 01 (Một) năm tù đến 01 (Một) năm 6 (S) tháng tù.

Đối với việc bị cáo Lê Ngọc H tự ý lấy xe đạp của ông Nguyễn Văn T1 để sử dụng. Qua điều tra, trước đó bị cáo đã nhiều lần mượn nhưng không hỏi ông Nguyễn Văn T1, sau khi sử dụng xong lại mang về trả, ông Nguyễn Văn T1 cũng biết việc này, do thấy là hàng xóm nên ngầm đồng ý cho bị cáo mượn. Đồng thời, sau khi sử dụng xe để trộm cắp tài sản xong, thì bị cáo đã trả xe lại chỗ cũ, ông Nguyễn Văn T1 cũng không có yêu cầu gì, nên không xem xét xử lý đối với hành vi này.

Đối với ông Nguyễn Văn T1 là chủ sở hữu xe đạp mà bị cáo sử dụng làm phương tiện để trộm cắp tài sản. Qua điều tra, bị cáo tự ý lấy xe đạp của ông Nguyễn Văn T1 để đi trộm cắp tài sản, ông Nguyễn Văn T1 không biết và không có lỗi, nên không đề cập xử lý.

Về vật chứng: Đã xử lý xong, nên không đề nghị xem xét, giải quyết.

Bị cáo Lê Ngọc H thống nhất nội dung luận tội của Kiểm sát viên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều

tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Lê Ngọc H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như cáo trạng số 02/CT-VKS-KV12, ngày 09 tháng 10 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp truy tố, cụ thể như sau: Ngày 01/12/2023, bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Hồng ngự (Nay là Tòa án nhân dân khu vực 12 – Đồng Tháp) xử phạt 06 (Sáu) tháng tù và chấp hành xong hình phạt vào ngày 10/7/2024, nhưng tính đến nay chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, cụ thể vào ngày 23/5/2025, bị cáo lại tiếp tục có hành vi lén lút trèo qua hàng rào vào trong sân của Phòng Tài chính - Kế hoạch thành phố T2 và dùng tay nhổ một cây mai ra khỏi chậu có đặc điểm như sau: Chiều cao 93cm, tính từ mặt đất lên đến ngọn mai; đường kính tàn mai nơi lớn nhất 100cm; tổng chu vi gốc cái 60cm (một gốc chia ra thành hai nhánh), nhánh thứ nhất có chu vi 24cm, nhánh thứ hai có chu vi 22cm. Sau đó, bị cáo điều khiển xe đạp chở cây mai về khu vực bãi đất trống gần nhà để cất giấu.

[3] Bị cáo là công dân đã thành niên, có trình độ học vấn nhất định, nhận thức được hành vi, biết rất rõ hành vi nào là đúng pháp luật, hành vi nào là vi phạm pháp luật, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định, đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính vè bị kết án về hành vi trộm cắp tài sản. Sau khi chấp hành án xong, trở về sinh sống tại địa phương thì chây ì, lười lao động, không tìm việc làm để tự nuôi sống bản thân mà sống phụ thuộc vào gia đình. Hành vi lén lút trộm cắp tài sản (Cây mai có giá trị tài sản là 4.500.000đồng) là nguy hiểm cho xã hội, cố ý thực hiện, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của bị hại.

[4] Căn cứ vào kết luận định giá tài sản số 187/KL-HĐĐGTS, ngày 27/6/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự cấp tỉnh đã kết luận: 01 cây mai có đặc điểm như sau: Chiều cao 93cm, tính từ mặt đất lên đến ngọn mai; đường kính tàn mai nơi lớn nhất 100cm; tổng chu vi gốc cái 60cm (Một gốc chia ra thành hai nhánh), nhánh thứ nhất có chu vi 24cm, nhánh thứ hai có chu vi 22 cm...có giá 4.500.000đồng (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng); kết luận số 686/KL-KTHS ngày 27/6/2025 của Phòng K Công an tỉnh Đ đối với các đoạn Camera thu giữ: Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa về nội dung hình ảnh trong 01 (một) tệp video ký hiệu A mẫu cần giám định; đã trích xuất, sao chép hình ảnh đối tượng nghi có đặc điểm người nam mặc áo sơ mi vải tay dài, mặc quần sọt vải màu đen, mang khẩu trang màu đen, cây mai, xe đạp có trong 01 (một) tệp video ký hiệu A mẫu cần giám định và in ra bản ảnh.

[5] Như vậy, đã có đủ chứng cứ để kết luận hành vi của bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

[6] Tại Điều 173. Tội Trộm cắp tài sản quy định: “1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000đồng đến dưới 50.000.000đồng hoặc dưới 2.000.000đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm....; 5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”.

[7] Xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo là ít nghiêm trọng, có tính chất công khai, liều lỉnh, cố ý thực hiện hành vi trộm cắp tài sản (Cây mai); bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, lười lao động, thiếu ý thức tu dưỡng rèn luyện, có lối sống không lành mạnh, muốn nhanh chóng chiếm đoạt tài sản của người khác, biến tài sản của người khác thành của mình một cách bất hợp pháp dẫn đến thực hiện hành vi phạm tội; hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, gây hoang mang trong quần chúng Nhân dân, không an tâm lao động sản xuất.

[8] Tội phạm mà bị cáo gây ra đã xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của bị hại. Mặc khác do bị hại sơ hở, lơ là trong việc quản lý, trông coi tài sản đã tạo điều kiện để bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, đồng thời còn làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an ở địa phương. Hiện nay, tình hình “Trộm cắp tài sản” đã xảy ra ngày càng nhiều với thủ đoạn hết sức tinh vi.

[9] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo chưa được xóa án tích và tiếp tục có hành vi phạm tội Trộm cắp tài sản. Do đó, bị cáo thuộc trường hợp tái phạm được quy định điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[10] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[11] Nhân thân của bị cáo là không tốt, vì có 01 tiền án và chưa được xóa án tích; tiền sự: Ngày 26/9/2023, bị UBND phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp xử phạt hành chính hình thức phạt tiền 2.500.000đồng về hành vi Trộm cắp tài sản (chưa nộp phạt); ngày 10/6/2025, bị Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 20 tháng (đang chấp hành)...

[12] Bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là tiền, nhưng xét thấy bị cáo Lê Ngọc H không có nghề nghiệp. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[13] Hiện nay, bị cáo đang chấp hành Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiên bắt buộc số 26/QĐ-TA, ngày 10/6/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp (Nay là Tòa án nhân dân khu vực 12 – Đồng Tháp) với thời gian chấp hành tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Đồng Tháp là 20 (Hai mươi) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biên pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện ma túy. Căn cứ Điều 117 của Luật Xử lý vi phạm hành chính, kể từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt tù của bản án này

thì bị cáo được miễn chấp hành phần thời gian còn lại trong quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính nêu trên.

[14] Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy khi lượng hình cũng cần phải xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt và có mức án tương xứng đối với hành vi phạm tội của bị cáo để thể hiện tính nghiêm minh, nhân đạo của pháp luật Xã hội chủ nghĩa, nhằm giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời cũng giáo dục, răn đe phòng ngừa chung.

[15] Bị cáo Lê Ngọc H tự ý lấy xe đạp của ông Nguyễn Văn T1 để sử dụng. Qua điều tra, bị cáo đã nhiều lần mượn nhưng không hỏi ông Nguyễn Văn T1, sau khi sử dụng xong lại mang về trả, ông Nguyễn Văn T1 cũng biết việc này, do thấy là hàng xóm nên ngầm đồng ý cho bị cáo mượn; đồng thời, sau khi sử dụng xe để trộm cắp tài sản xong, thì bị cáo đã trả xe lại chỗ cũ, ông Nguyễn Văn T1 cũng không có yêu cầu nên không xem xét xử lý đối với hành vi này. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, xử lý.

[16] Ông Nguyễn Văn T1 là chủ sở hữu xe đạp, mà bị cáo sử dụng làm phương tiện để trộm cắp tài sản. Qua điều tra, bị cáo tự ý lấy xe đạp của ông Nguyễn Văn T1 để đi trộm cắp tài sản, ông Nguyễn Văn T1 không biết và không có lỗi nên không đề cập xử lý. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, xử lý.

[17] Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại không yêu cầu nên Viện kiểm sát không đề cập xử lý. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[18] Về vật chứng vụ án và tài sản lưu giữ: Việc xử lý vật chứng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ bằng hình thức trao trả lại cho bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đối với tài sản mất trộm là phù hợp và đúng quy định nên Viện kiểm sát không đề cập đến. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Tiếp tục lưu vào hồ sơ vụ án đĩa DVD lưu 01 (một) đoạn video (files) có tên "Trom_cay_mai_01h01' (23-5-2025)_AN27.mp4 (M) thời gian từ 01 giờ 04 phút 49 giây đến 01 giờ 05 phút 43 giây, ngày 23/5/2025, kích cỡ 14,695 KB ghi nhận được hình ảnh, diễn biến có liên quan trong vụ án.

[19] Xét thấy phát biểu của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 – Đồng Tháp là có chứng cứ nên chấp nhận.

[20] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Lê Ngọc H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Lê Ngọc H (Tên gọi khác: H) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Lê Ngọc H 01 (Một) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành hình phạt tù.

Về vật chứng vụ án và tài sản lưu giữ: Tiếp tục lưu vào hồ sơ vụ án đĩa DVD lưu 01 (một) đoạn video (files) có tên "Trom_cay_mai_01h01' (23-5-2025)_AN27.mp4 (M) thời gian từ 01 giờ 04 phút 49 giây đến 01 giờ 05 phút 43 giây, ngày 23/5/2025, kích cỡ 14,695 KB ghi nhận được hình ảnh, diễn biến có liên quan trong vụ án.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Lê Ngọc H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 04 tháng 12 năm 2025). Đối với bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc tống đạt theo quy định của pháp luật.

Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND khu vực 12 – Đồng Tháp;
  • - Cơ quan Điều tra Công an tỉnh Đồng Tháp;
  • - Phân trại tạm giam khu vực Hồng Ngự;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thành Trung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 38/2025/HS-ST ngày 04/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – ĐỒNG THÁP về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 38/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Lý Ngọc H phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger