TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 37/2025/HS-ST Ngày 01 - 12 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tăng Thị Hải Oanh.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Yên, bà Đỗ Thị Chúc.
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Hồng Nhung, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 - Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Sơn La tham gia phiên toà:
Bà Hoàng Thị Thanh Nga, Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 51/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 41/2025/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 11 năm 2025 đối với các bị cáo:
- Mùa A D, sinh ngày 19/9/1995 tại xã X, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản T, xã X, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 5/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; đảng phái, đoàn thể: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mùa A V – sinh năm 1967 và bà Hờ Thị T – sinh năm 1968; có vợ là Phàng Thị L – sinh năm 1996, có 02 con – con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/9/2025 đến nay; có mặt.
- Mùa A N, sinh ngày 16/7/1971 tại xã G, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Tổ dân phố P, phường T, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): không biết chữ; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; đảng phái, đoàn thể: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mùa A S (đã chết) và bà Sồng Thị M – sinh năm 1935; có vợ là Sồng Thị L1 (đã chết), có 03 con – con lớn nhất sinh năm 1994, con nhỏ nhất sinh năm 2000; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân:
- Ngày 24/4/2014, Mùa A N bị TAND huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La (nay là TAND khu vực 5 – Sơn La) xử phạt 30 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý (Bản án số 49/2014/HSST), đã thi hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 09/5/2014, đã chấp hành xong án phạt tù ngày 30/01/2016 (đã được xoá án tích);
- Ngày 27/3/2018, Mùa A N bị TAND huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La (nay là TAND khu vực 6 – Sơn La) xử phạt 36 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma tuý (Bản án số 80/2018/HSST), đã thi hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 27/3/2018, đã chấp hành xong án phạt tù ngày 01/9/2020 (đã được xoá án tích);
Bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/9/2025 đến nay; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 23 giờ 30 phút ngày 16/9/2025, tổ công tác Công an phường T, tỉnh Sơn La làm nhiệm vụ tại khu vực tổ dân phố H, phường T qua kiểm tra phát hiện bắt quả tang Mùa A D và Mùa A N đang thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ trong lòng bàn tay trái của N đang cầm 02 gói nilon màu xanh và màu hồng bên trong đều đựng chất bột màu trắng nghi là H; thu giữ tại túi quần bên phải của D 01 gói nilon màu hồng bên trong đựng 02 viên nén màu hồng, trên bề mặt mỗi viên có ký hiệu “WY” nghi là Methamphetamine. Mùa A D và Mùa A N khai nhận: D vừa bán cho N 02 gói Heroine với giá 100.000 đồng còn 02 viên hồng phiến thì D mua về để sử dụng và bán kiếm lời, trong khi D và N đang giao nhận tiền và ma túy thì bị phát hiện, bắt giữ. Căn cứ hành vi vi phạm của Mùa A D và Mùa A N, tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong vật chứng, tạm giữ số tiền 100.000 đồng tiền ngân hàng N1 để điều tra xử lý.
Ngày 17/9/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S ra lệnh và khám xét khẩn cấp chỗ ở của Mùa A D tại tổ dân phố H, phường T, tỉnh Sơn La; kết quả khám xét không phát hiện và thu giữ gì.
Ngày 17/9/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S đã tiến hành test thử ma túy đối với Mùa A D và Mùa A N. Kết quả: Nếnh âm tính với chất ma túy; Dủa dương tính với chất ma túy, loại Methamphetamine và H. Xác minh Mùa A D không thuộc diện nào theo quy định tại Điều 256a Bộ luật Hình sự.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S đã tiến hành xác định khối lượng số tang vật nghi là ma túy thu giữ của Mùa A D và Mùa A N có khối lượng như sau:
- Chất bột màu trắng đựng trong túi nilon màu hồng được 0,042 gam, lấy toàn bộ làm mẫu trưng cầu giám định, mẫu có ký hiệu N1;
- Chất bột màu trắng đựng trong túi nilon màu xanh được 0,063 gam, lấy toàn bộ làm mẫu trưng cầu giám định, mẫu có ký hiệu N2;
- 02 viên nén màu hồng có khối lượng: 0,2 gam, lấy toàn bộ làm mẫu trưng cầu giám định, mẫu có ký hiệu D.
Tại Kết luận giám định số: 1151/KL-KTHS ngày 23/9/2025 của Phòng K Công an tỉnh S kết luận: “- Mẫu ký hiệu N1, N2 gửi giám định đều là ma túy; Loại Heroine (H), có tên khoa học là D1, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017 và 2025) và nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; Khối lượng của mẫu gửi giám định là N1 = 0,042 gam, N2 = 0,063 gam.
- Mẫu ký hiệu D gửi giám định là ma túy; Loại Methamphetamine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,2 gam.
- Tổng khối lượng ma túy thu giữ là: 0,105 gam; loại Heroine (H), có tên khoa học là D1, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017 và 2025) và nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất và 0,2 gam; loại Methamphetamine".
Ngày 17/9/2025 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S tiến hành trưng cầu giám định số tiền 100.000 đồng thu giữ của Mùa A N. Tại Kết luận giám định số 1157 ngày 23/9/2025 của Phòng K Công an tỉnh S kết luận: “Số tiền gửi VNĐ gửi giám định là tiền thật”.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Mùa A D và Mùa A N khai nhận: Bản thân đều nghiện chất ma túy và không quen biết nhau. Khoảng 13 giờ ngày 16/9/2025, Mùa A D đi bộ từ nhà trọ tại tổ dân phố H, phường T, tỉnh Sơn La đến khu vực tổ dân phố P, phường T, tỉnh Sơn La mục đích tìm mua ma tuý để sử dụng cho bản thân và bán kiếm lời. Khi đến địa phận thuộc tổ dân phố P thì D gặp và hỏi mua được của một người phụ nữ, khoảng 50 tuổi, không quen biết 03 gói nilon màu xanh và màu hồng bên trong đựng ma túy loại Heroine và 02 viên ma túy hồng phiến với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, D cất các gói ma túy vào trong túi quần bên phải đang mặc rồi đi bộ về phòng trọ, mục đích để sử dụng và có ai hỏi mua thì bán kiếm lời. Đến khoảng 23 giờ 15 phút cùng ngày, D đang đứng trước cổng phòng trọ thì có Mùa A N đến hỏi mua ma túy để sử dụng. D đã bán cho N 02 gói nilon bên trong đựng ma túy Heroine với giá 100.000 đồng, khi N vừa nhận gói ma túy và cầm ở lòng bàn tay trái đang chuẩn bị trả tiền cho D thì bị tổ công tác kiểm tra, phát hiện bắt quả tang.
Cáo trạng số 50/CT-VKS ngày 13/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Sơn La truy tố bị can Mùa A D về tội Mua bán trái phép chất ma tuý theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025); truy tố bị cáo Mùa A N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
* Tại phiên tòa: Các bị cáo Mùa A D, Mùa A N trình bày ý kiến giữ nguyên lời khai, không thay đổi, bổ sung thêm nội dung nào làm thay đổi nội dung vụ án. Các bị cáo nhận tội như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát.
* Tranh luận tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Sơn La giữ nguyên cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Mùa A D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, tuyên bố bị cáo Mùa A N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và áp dụng các căn cứ pháp luật như sau:
- Áp dụng khoản 1 Điều 251; khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025):
Xử phạt bị cáo Mùa A D từ 04 (bốn) năm đến 05 (năm) năm tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025):
Xử phạt bị cáo Mùa A N từ 04 (bốn) năm đến 05 (năm) năm tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về vật chứng của vụ án, áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025); khoản 1, điểm b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 02 phong bì niêm phong đựng mảnh nilon màu xanh và màu hồng.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: Số tiền 100.000 đồng.
- 5. Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Mùa A D.
- Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giám, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Mùa A N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
- Các bị cáo Mùa A D, Mùa A N nhất trí với toàn bộ đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
* Lời nói sau cùng: Các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
- [1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Những người tham gia tố tụng không có ý kiến, khiếu nại về hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo:
Tại phiên tòa các bị cáo Mùa A D, Mùa A N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra, số ma túy bị tổ công tác Công an phường T thu giữ vào ngày 16/9/2025 có nguồn gốc do Mùa A D mua được của một người phụ nữ khoảng 50 tuổi, không quen biết để sử dụng và bán kiếm lời. Ngày 16/9/2025, D đã có hành vi bán trái phép 0,105 gam Heroine cho Mùa A N để hưởng lợi số tiền 100.000 đồng và cất giấu 0,2 gam Methamphetamine mục đích để sử dụng và bán kiếm lời thì bị phát hiện, bắt quả tang. Lời khai của các bị cáo không có nội dung gì thay đổi so với lời khai tại cơ quan Cảnh sát điều tra, các bị cáo khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với hành vi đã thực hiện.
Xét lời khai của các bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang do tổ công tác Công an phường T lập vào hồi 23 giờ 30 phút ngày 16/9/2025; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong, cân tịnh xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng; kết luận giám định; lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác cơ quan điều tra đã thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Từ những chứng cứ nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy: Các bị cáo Mùa A D, Mùa A N đều là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của việc mua bán, tàng trữ, sử dụng ma túy. Nhưng do nghiện chất ma túy nên ngày 16/9/2025 bị cáo Mùa A D đã thực hiện hành vi mua trái phép H và Methamphetamine mục đích cất giấu để sử dụng cho bản thân và bán kiếm lời. Cùng ngày, Mùa A D đã bán cho Mùa A N 0,105 gam Heroine với giá 100.000 đồng, còn lại 0,2 gam Methamphetamine cất giấu thì bị phát hiện, thu giữ.
Căn cứ khoản 2 Điều 8 Nghị định số 184/2025/NĐ-CP ngày 01/7/2025 của Chính Phủ quy định phân định thẩm quyền khi tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp và sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định của Chính phủ trong lĩnh vực an ninh, trật tự thì tổng khối lượng của các chất ma tuý Heroine và Methamphetamine thu giữ của Mùa A D và số ma túy D đã bán cho Mùa A N là 0,105 gam + 0,2 gam = 0,305 gam. Do đó, hành vi của bị cáo Mùa A D đã đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma tuý quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025), quy định mức hình phạt là hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
Ngày 16/9/2025, bị cáo Mùa A N đã có hành vi mua trái phép 0,105 gam Heroine của bị cáo Mùa A D với giá 100.000 đồng, mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo Mùa A N đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Do hành vi của bị cáo Mùa A N được thực hiện sau 0 giờ 00 phút ngày 01/7/2025, nên áp dụng khoản 18 Điều 1 Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc Hội sửa đổi, bổ sung Điều 249 Bộ luật hình sự, khung hình phạt tù xét xử đối với các bị cáo từ 03 năm đến 05 năm.
Vì vậy, Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Sơn La đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
- [3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp nghiêm trọng với lỗi cố ý, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.
- [4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo Mùa A D có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo Mùa A N có thái độ thành khẩn khai báo. Vì vậy, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo.
Về nhân thân của các bị cáo: Bị cáo Mùa A D và bị cáo Mùa A N đều là đối tượng nghiện chất ma túy. Bị cáo Mùa A N có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị kết án về tội phạm ma túy nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà vẫn tiếp tục tái nghiện ma túy dẫn đến có hành vi phạm tội, thể hiện sự coi thường pháp luật.
- [5] Về mức hình phạt áp dụng: Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với các bị cáo, đồng thời mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
- [6] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, các bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, nhưng xét thấy các bị cáo làm nghề lao động tự do, thu nhập không ổn định, không khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
- [7] Về xử lý vật chứng: Đối 02 phong bì niêm phong đựng mảnh nilon màu xanh và màu hồng, xét thấy là vật chứng không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với số tiền 100.000 đồng, xét thấy là tiền dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- [8] Về án phí: Xét thấy bị cáo Mùa A D là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa bị cáo có đề nghị xin miễn án phí hình sự sơ thẩm nên cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Mùa A N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giám, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- [9] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- [10] Về các vấn đề khác:
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Mùa A D, do D không thuộc diện nào theo quy định tại khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự. Ngày 28/10/2025 Công an tỉnh S đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý đối với Mùa A D là phù hợp.
Đối với người phụ nữ đã bán ma túy cho Mùa A D, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ để điều tra, làm rõ và xử lý. Buộc Mùa A D phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về số ma túy đã bị thu giữ.
Thời hạn tạm giam đối với các bị cáo còn lại dưới 45 ngày, do đó Hội đồng xét xử ra quyết định tạm giam các bị cáo để bảo đảm cho việc thi hành án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ khoản 1 Điều 251; khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025):
Tuyên bố bị cáo Mùa A D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Mùa A D 04 (bốn) năm, 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 17/9/2025.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025):
Tuyên bố bị cáo Mùa A N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Mùa A N 04 (bốn) năm, 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 17/9/2025.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Căn cứ khoản 1 Điều 251; khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025):
- Về xử lý vật chứng của vụ án:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025); khoản 1, điểm b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 02 phong bì niêm phong đựng mảnh nilon màu xanh và màu hồng.
- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: số tiền 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng).
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng số: 58/BBVC-THA ngày 24/11/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 6 - Sơn La).
- Về án phí:
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Mùa A D.
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giám, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Mùa A N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng chẵn).
- Về quyền kháng cáo:
Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 01/12/2025).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA (Đã ký) Tăng Thị Hải Oanh |
Bản án số 37/2025/HS-ST ngày 01/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - SƠN LA về hình sự - mua bán trái phép chất ma tuý và tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 37/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Mua bán trái phép chất ma tuý và Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 01/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo Mùa A D, Mùa A N đều là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của việc mua bán, tàng trữ, sử dụng ma túy. Nhưng do nghiện chất ma túy nên ngày 16/9/2025 bị cáo Mùa A D đã thực hiện hành vi mua trái phép Heroine và Methamphetamine mục đích cất giấu để sử dụng cho bản thân và bán kiếm lời. Cùng ngày, Mùa A D đã bán cho Mùa A N 0,105 gam Heroine với giá 100.000 đồng, còn lại 0,2 gam Methamphetamine cất giấu thì bị phát hiện, thu giữ.
