Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 5 – THANH HÓA

Bản án số: 34/2025/HS-ST

Ngày 15 tháng 12 năm 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 -THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nghi

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Hương

Ông Lê Lý Bằng

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Yến Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Thanh Hóa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5- Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Duyên - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 33/2025/HSST ngày 05 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2025/QĐXXST - HS ngày 21 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đinh Văn T, sinh năm 1987 tại Phường T, tỉnh Ninh Bình. Nơi ĐKNKTT: Thôn G, xã N, tỉnh Thanh Hóa. Số CCCD [...] ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đinh Công C, con bà: Phạm Thị T1 (đã chết), có vợ và có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2015,

Tiền án: Không;

Tiền sự: Ngày 10/11/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn (nay là TAND khu vực 5 - Thanh Hóa) Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, ngày 17/11/2023 chấp hành xong biện pháp xử lý hành chính, theo Quyết định số 05/2021/QĐ-TA ngày 10/11/2021. Tính đến ngày phạm tội chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính.

Nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 40/2019/HS-ST ngày 22/5/2019, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Hà Trung (nay là TAND khu vực 6 - Thanh Hóa) xử phạt 21 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” đến ngày phạm tội này đã được xóa án tích.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực N, Công an tỉnh T từ ngày 10/9/2025 đến nay (có mặt).

Người làm chứng:

  1. Chị Nguyễn Thị H, (có mặt)
  2. Cháu Đinh Ngọc Á (con, vắng mặt)
  3. Anh Ngô Văn C1 (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đinh Văn T (sinh năm 1987, trú tại thôn G, xã N, tỉnh Thanh Hóa) là người đã từng bị xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 05/2021/QĐ-TA ngày 10/11/2021 của Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi chấp hành xong Quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nêu trên, ngày 17/11/2023, UBND xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa (nay là xã N, tỉnh Thanh Hóa) đã ra Quyết định số 190/QĐ-UBND ngày 17/11/2023 về việc quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú (trong thời hạn 02 năm, từ ngày 17/11/2023 đến ngày 17/11/2025) đối với Đinh Văn T.

Thực hiện kế hoạch quản lý, giáo dục đối với những người thuộc diện quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú; ngày 09/09/2025, Công an xã N phối hợp với Phòng PC04 Công an tỉnh T tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể đối với Đinh Văn T. Kết quả xét nghiệm bằng phương pháp test nhanh thì Đinh Văn T dương tính với ma túy, loại Heroin. Sau khi được giải thích các quy định của pháp luật liên quan đến hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Đinh Văn T đã tự nguyện xin đầu thú, khai nhận toàn bộ hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và mong được hưởng sự khoan hồng của pháp luật. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản sự việc; thu giữ, niêm phong mẫu nước tiểu của Đinh Văn T để phục vụ công tác giám định theo quy định của pháp luật.

Tại Kết luận giám định số 3499/KL-KTHS ngày 17/9/2025 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận:

  • Tìm thấy chất ma túy M và C2 trong mẫu nước tiểu ghi thu của Đinh Văn T gửi giám định;
  • Morphine và C2 là sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy nhóm O (thuốc phiện, Heroine...) trong cơ thể.

Tại cơ quan điều tra, Đinh Văn T khai nhận như sau: Sáng ngày 07/9/2025, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên T mang theo số tiền 100.000đ (một trăm nghìn đồng), một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu VIET THAI 50cc màu xanh, BKS 36AA-660.24 đi từ nhà tại thôn G, xã N, tỉnh Thanh Hóa đến khu vực cầu Q, thuộc địa phận xã K, tỉnh Ninh Bình để tìm mua ma túy. Tại đây, T gặp một người đàn ông tên T2, khoảng 40 tuổi, cao khoảng 1m70, da ngăm đen, mặc áo cộc tay, quần đùi (là người trước đây từng bán ma túy cho T). T lại gần đưa cho người này số tiền 100.000 đồng để mua ma túy thì người đàn ông đưa lại cho T một gói nhỏ được bọc bên ngoài bằng giấy nilon màu trắng. Biết bên

trong có chứa ma túy nên T cất giấu vào túi quần phía trước bên phải rồi điều khiển xe quay về theo đường cũ. Khoảng 13h00' cùng ngày, T điều khiển xe đi về đến khu vực Trạm bơm Đ, thuộc địa phận thôn L, xã N, tỉnh Thanh Hóa, thấy khu vực này vắng người nên T dừng xe lại để lấy gói ma túy từ túi quần ra sử dụng. T mở lớp nilon bên ngoài và gói giấy bạc màu trắng bên trong ra, sau đó đổ ma túy loại Heroin lên trên tấm giấy bạc của bao thuốc lá T3 rồi dùng bật lửa đốt nóng phía dưới để sử dụng bằng hình thức “hít”. Sử dụng ma túy xong, T vứt mảnh nilon, tờ giấy gói ma túy và tấm giấy bạc xuống cống nước của Trạm bơm, sau đó tiếp tục điều khiển xe mô tô đi về nhà ở thôn G, xã N, tỉnh Thanh Hóa.

Trên cơ sở nội dung khai báo của Đinh Văn T, Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra, xác định hiện trường tại khu vực Trạm bơm Đạc 1, thuộc địa phận thôn L, xã N, tỉnh Thanh Hóa. Tuy nhiên, không phát hiện, thu giữ được tang vật nào liên quan đến hành vi phạm tội.

Về nguồn gốc số ma túy Đinh Văn T đã sử dụng trái phép vào ngày 07/9/2025, tại cơ quan điều tra, T khai báo là mua của một người đàn ông tên là T2, có đặc điểm khoảng 40 tuổi, cao khoảng 1m70, da ngăm đen, tại khu vực cầu Q, thuộc địa phận xã K, tỉnh Ninh Bình với giá 100.000 đồng. Sau khi mua xong T đã sử dụng hết. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T đã tiến hành phối hợp với Công an xã K, tỉnh Ninh Bình để rà soát nhưng không xác định được người bán ma túy cho T. Do đó không có căn cứ để điều tra, làm rõ người bán ma túy cho T.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu VIET THAI 50cc màu xanh, BKS 36AA-660.34, T đã sử dụng để đi mua ma túy vào ngày 07/9/2025 là tài sản do chị Nguyễn Thị H (vợ T) mua cho con gái là Đinh Thị Ngọc Á (sinh năm 2008) sử dụng làm phương tiện đi học hàng ngày. Ngày 07/9/2025 T mượn xe của con gái để sử dụng làm phương tiện đi mua ma túy, cháu Á và gia đình không biết mục đích của T. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T không tiến hành thu giữ, xem xét xử lý.

Toàn bộ mẫu nước tiểu thu giữ của Đinh Văn T đã được Phòng K Công an tỉnh T sử dụng để phân tích hết trong quá trình giám định, không hoàn lại.

Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị can đã tự nguyện xin đầu thú, quá trình điều tra đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của bản thân. Lời khai nhận tội của bị can phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Tại Cáo trạng số: 06/CT-VKSKV5 ngày 05 tháng 11 năm 2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Thanh Hóa, đã truy tố bị cáo Đinh Văn T về tội “ Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo và giữ nguyên quan điểm truy tố. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2025, xử phạt bị cáo Đinh Văn T mức án từ 02 năm 06 tháng, đến 02 năm 08 tháng tù về tội “ Sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày tạm giữ 10/9/2025.

Về xử lý vật chứng: Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu VIET THAI 50cc màu xanh, BKS 36AA-660.34, T sử dụng để đi mua ma túy vào ngày 07/9/2025. Quá trình điều tra cơ quan điều tra xác định là tài sản hợp pháp của cháu Định Thị Ngọc Á1 là con gái T nên đã trả lại theo quy định của pháp luật. Quá trình điều tra xác định chiếc xe là tài sản do chị Nguyễn Thị H (vợ T) mua cho con gái là Đinh Thị Ngọc Á, sinh năm 2008 sử dụng làm phương tiện đi học hàng ngày. Ngày 07/9/2025 T mượn xe của con gái để sử dụng làm phương tiện đi mua ma túy, cháu Á và gia đình không biết mục đích của T. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T không tiến hành thu giữ.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không bào chữa và tranh luận gì, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, khiếu nại gì. Do đó, về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng đều thực hiện đúng pháp luật.

Tại phiên toà, người làm chứng là anh C1, cháu Á vắng mặt, mặc dù đã được Toà án tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2]. Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Đinh Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội, phù hợp mẫu vật được thu giữ gửi giám định, phù hợp với Kết luận giám định số 3499/KL-KTHS ngày 17/9/2025 của Phòng K Công an tỉnh T và các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận: Đinh Văn T là đối tượng nghiện ma túy đã được áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 tháng, theo quyết định số 05/2021/QĐXLHC -TA ngày 10/11/2021 của Tòa án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, Đinh Văn T đang là người thuộc diện quản lý sau cai nghiện ma túy trong thời hạn 02 năm từ ngày 17/11/2023 đến ngày 17/11/2025, theo Quyết định số 190/QĐ-UBND ngày

17/11/2023 của Chủ tịch UBND xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa (nay là xã N, tỉnh Thanh Hóa)

Tuy nhiên, trong thời gian đang bị quản lý sau cai nghiện, bị cáo tự liên hệ mua ma túy loại Heroin và sử dụng tại khu vực Trạm bơm, thuộc địa phận thôn L, xã N, tỉnh Thanh Hóa vào khoảng 13h00' ngày 07/9/2025. Kết quả giám định cho thấy, trong mẫu nước tiểu thu giữ của Đinh Văn T vào ngày 09/9/2025 gửi giám định đã tìm thấy chất ma túy Morphine và C2 trong mẫu nước tiểu ghi thu của Đinh Văn T (Morphine và C2 là sản phẩm chuyển hóa của chất ma túy nhóm O (thuốc phiện, Heroine trong cơ thể). Hành vi của Đinh Văn T đã phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 có khung hình phạt từ 02 năm đến 03 năm tù.

[3]. Tội phạm về ma túy là hành vi nguy hiểm cho xã hội, vì ma túy nói chung có tác hại đến sức khỏe con người và có thể là nguyên nhân gây ra các tội phạm khác. Tội phạm về ma túy không những gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội, mà còn xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình.

[4]. Xét tính chất, mức độ của tội phạm, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo Đinh Văn T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bản thân nhận thức rõ việc mua ma túy để sử dụng trái phép là hành vi phạm tội là vi phạm pháp luật, gây nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy,

Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, sau khi phạm tội đã viết đơn xin trình diện đầu thú. Đây là các tình tiết để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét thấy: Về tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, trước khi phạm tội bị cáo là người có nhân thân xấu về tội phạm ma túy, đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính cai nghiện bắt buộc và đang trong thời gian quản lý sau cai nghiện tại địa phương. Theo quy định tại Điều 7 của Luật xử lý vi phạm hành chính thì thời hạn 02 năm kể từ ngày chấp hành xong quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính mà không tái phạm thì được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính. Như vậy, bản thân bị cáo vừa có nhân thân xấu về tội phạm ma túy vừa là người đang có tiền sự nhưng vẫn tiếp tục phạm tội về ma túy, điều đó chứng tỏ bị cáo là người khó từ bỏ về việc sử dụng trái phép ma túy, bất chấp coi thường pháp luật, không biết ăn năn, hối cải mặc dù đã được áp dụng nhiều biện pháp cải tạo, giáo dục để hoàn lương nhưng vẫn không từ bỏ con đường phạm tội, nên việc áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo là cần thiết, nhằm giáo dục răn đe và phòng ngừa chung.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù và cách ly khỏi xã hội một thời gian là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5]. Về xử lý vật chứng: Nhận thấy, chiếc xe mô tô nhãn hiệu VIET THAI 50cc màu xanh, BKS 36AA-660.34 là phương tiện T sử dụng để đi mua ma túy vào ngày 07/9/2025. Quá trình điều tra xác định chiếc xe là tài sản do chị Nguyễn Thị H (vợ T) mua cho con gái là Đinh Thị Ngọc Á, sinh năm 2008 sử dụng làm phương tiện đi học hàng ngày, khi lấy xe cháu Á và gia đình không biết. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T không tiến hành thu giữ là đúng quy định.

[6]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, khoản 1 Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2025.

Tuyên bố: Bị cáo Đinh Văn T phạm tội “ Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Đinh Văn T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 10/9/2025).

Về xử lý vật chứng: Không xử lý

Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH-14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1 Điều 331 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND khu vực 5 – Thanh Hóa;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - CQĐT Công an tỉnh Thanh Hóa;
  • - Cơ quan THAHS – Công an tỉnh;
  • - THADS tỉnh Thanh Hóa;
  • - Tòa án ND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Nghi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 34/2025/HS-ST ngày 15/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – THANH HÓA về sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 34/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger