Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 332/2025/HS-ST

Ngày 19-12-2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Anh Sơn,

Thẩm phán: Ông Bùi Duy Khoa,

Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Ngọc Tân,

Bà Nguyễn Thị Luyến,

Ông Nguyễn Thanh Hải,

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Mai Phương - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Đinh Quốc Ân - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 12 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 296/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 354/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:

Đặng Văn T, sinh năm 1990, tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng (nay là Thôn L, xã K, thành phố Hải Phòng); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn P và bà Nguyễn Thị T1; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 36/2018/HS-ST ngày 02/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện KT, thành phố Hải Phòng xử phạt 15 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”, đã được xóa án tích; bị tạm giữ từ ngày 12/10/2024 đến ngày 18/10/2024 chuyển tạm giam; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Đặng Văn T: Ông Nguyễn Văn T2 và ông Đinh Hữu C - Luật sư của Công ty L2; ông C có mặt, ông T2 vắng mặt.

- Bị hại: Anh Vũ Hữu Q, sinh năm 2003; địa chỉ: Thôn B, xã N, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Đặng Văn P, sinh năm 1964; trú tại: Thôn L, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng (nay là xã K, thành phố Hải Phòng); có mặt.

- Người làm chứng: Chị Lò Thị P1; chị Lang Thị L; anh Đỗ Văn T3, đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 10/10/2024, Đặng Văn T điều khiển xe mô tô Honda Wave Alpha màu sơn đỏ, biển kiểm soát: 16K8 - 3494 đi đến quán H1 để đặt phòng. Đến nơi, do không nhìn thấy chủ quán là anh Đỗ Văn T3, sinh năm: 1991, trú tại: Thôn L, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng nên T đi thẳng vào khu vực bếp của quán và gặp anh Vũ Hữu Q, sinh năm: 2003, nơi cư trú: Thôn B, xã K, huyện K, thành phố Hải Phòng (Nay là xã N, thành phố Hải Phòng) cùng chị Lò Thị P1, sinh năm 2006, trú tại: Bản C, xã M, huyện S, tỉnh Sơn La (Nay là xã M, tỉnh Sơn La) đều là nhân viên của quán đang ngồi ăn cơm tại đây. T hỏi anh T3 đang ở đâu thì anh Q và chị P1 đều bảo không biết nên T đi thẳng lên tầng 2 của quán, kéo cửa phòng nghỉ của nhân viên để đi vào. Nghe thấy tiếng ồn, anh Q đi lên và tại đây giữa T và anh Q xảy ra cãi vã, xô đẩy nhau tại phòng nghỉ của nhân viên. Do bực tức với anh Q nên T chạy xuống tầng 1, đi vào khu vực bếp lấy 01 con dao dạng dao bầu có đặc điểm một lưỡi sắc, đầu nhọn và cán bằng gỗ, tổng chiều dài là 35cm (cán dao dài 12cm, lưỡi dao dài 23cm) đi lên cầu thang. Thấy vậy, anh Q nhặt 01 thanh kim loại sáng màu hình hộp chữ nhật, một đầu được cắt vát, có tổng chiều dài 148cm, kích thước 05cm x 2,5cm ở khu vực hành lang tầng 2 của quán rồi đi xuống cầu thang. Tại vị trí giữa cầu thang lên xuống của tầng 2, T cầm dao ở tay phải, đứng ở bậc cầu thang thứ 3 từ dưới lên, đối diện và cách anh Q khoảng 50cm. Anh Q cầm thanh kim loại ở tay phải vung về phía T thì T dùng tay trái giằng được thanh kim loại của anh Q. Sau đó, T dùng tay phải cầm dao bầu đâm liên tiếp nhiều nhát vào vùng ngực trái và sườn trái của anh Q làm anh Q chảy nhiều máu. Anh Q dùng tay giữ chặt tay cầm dao của T và ôm giữ người T. Hai bên giằng co nhau xuống đến khu vực chiếu nghỉ ở chân cầu thang tầng 1 của quán H1 thì anh Đỗ Văn T3 từ khu vực phòng lễ tân của quán chạy đến can ngăn, giằng được dao và thanh kim loại từ tay T và kéo T ra khu vực quầy thu ngân của quán. Sau đó, anh T3 cất dao vào trong ngăn kéo của bàn thu ngân, còn thanh kim loại thì anh T3 vứt ra khu vực sân trước của quán H1. Lúc này, anh Q đi lên tầng 2 và dùng áo bịt vết thương đang chảy nhiều máu. Một lúc sau, chị Lò Thị P1 và chị Lang Thị L, sinh năm 2004, nơi thường trú: Thôn N, xã L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa (Nay là xã L, tỉnh Thanh Hóa) là nhân viên của quán dìu anh Q xuống tầng 1 để đưa anh Q đi cấp cứu. Khi nhìn thấy anh Q, T tiếp tục định xông vào, nhưng anh T3 can ngăn và kéo T lại. Sau đó, anh Q được đưa đi cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện K, còn T điều khiển xe mô tô bỏ trốn. Ngày 12/10/2024, Đặng Văn T bị bắt và bị thu giữ: 01 vé xe khách Bắc - T - Nam của nhà xe “An Bình bus”; 01 điện thoại Samsung Galaxy A12 màu đen; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu sơn đỏ, biển kiểm soát: 16K8-3494.

Kết quả khám nghiệm hiện trường ngày 10/10/2024 thể hiện: Hiện trường được xác định là quán H1, địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng (nay là xã K, thành phố Hải Phòng). Quán H1 có 02 tầng. Từ cửa quán đi vào, tại tầng 1 là khu vực sân trước, phòng lễ tân và 03 phòng hát được bố trí nối tiếp nhau, đi chung 01 hành lang dẫn tới khu vực sân sau. Tại khu vực sân sau có bố trí 01 phòng hát tách biệt, 01 cầu thang lên xuống tầng 2 và phía sau cầu thang là khu vực bếp ăn. Trên tầng 2 là 02 phòng nghỉ dành cho nhân viên quán. Vị trí nơi xảy ra sự việc xô xát đánh nhau được xác định tại khu vực phòng nghỉ dành cho nhân viên quán xuống đến sân sau quán, cụ thể: Vị trí bắt đầu xảy ra việc giằng co xô đẩy nhau giữa Đặng Văn T và anh Vũ Hữu Q được xác định là phòng nghỉ dành cho nhân viên sát cạnh ban công quán H1. Vị trí xảy ra xô xát có hung khí giữa T và anh Q là khu vực giữa cầu thang lên xuống tầng 2 (vị trí số 03). Xác định tại vị trí chiếu nghỉ đầu cầu thang sát cửa ra vào khu vực bếp của quán H1 có một số vết máu dạng nhỏ giọt bám dính nhiều tạp chất dạng bụi đất, không đủ điều kiện để thu giữ trong diện 1 m x 0,8 m xác định (vị trí số 4); Tại vị trí trên mặt nền sân sau cạnh khu vực chiếu nghỉ có một số vết dạng máu nhỏ giọt bám dính nhiều tạp chất dạng bụi đất không đủ điều kiện để thu giữ trong diện 0,8m x 0,75m (vị trí số 5 và 6). Sau khi khám nghiệm hiện trường thu giữ được: 01 con dao dạng dao bầu có đặc điểm một lưỡi sắc, đầu nhọn và cán bằng gỗ, tổng chiều dài là 35cm (cán dao dài 12cm, lưỡi dao dài 23cm) trong khu vực quầy lễ tân quán Karaoke I và 01 thanh kim loại sáng màu hình hộp chữ nhật, một đầu được cắt vát, thanh kim loại có tổng chiều dài 148cm, kích thước 05cm x 2,5cm tại vị trí góc sân trước của quán H1.

Tại Kết luận giám định số 526/KL-KTHS ngày 14/02/2025, Phòng K Công an thành phố H kết luận: Trên 01 con dao dạng dao bầu thu giữ (mẫu M) gửi giám định có máu người - là máu của anh Vũ Hữu Q.

Ngày 11/10/2024, chị Lò Thị P1 là nhân viên quán H1 giao nộp 01 tập tin video có phần mở rộng “MOV” dung lượng 33,5 MB được lưu trong 01 USB nhãn hiệu Kingston 4GB, đã qua sử dụng (Bút lục 84). Tại Kết luận giám định số 3305/KL-KTHS ngày 01/11/2024, Phòng K Công an thành phố H kết luận: 01 tập tin video do chị Lò Thị P1 giao nộp không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh. Trích xuất 04 hình ảnh nghi liên quan đến vụ việc được lập thành bản ảnh kèm theo.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 742/2024/KLTTCT-TTPYHP ngày 16/10/2024 và Kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 827/2024/KLTTCT-TTPYHP ngày 08/11/2024 Trung tâm P3 kết luận anh Vũ Hữu Q bị 01 vết thương rách da khoảng 02cm vùng mạn sườn trái trên cánh chậu trái và ngực trái có 03 vết thương gồm: vết thương rách da dài 03cm thành trước ngực trái chéo chếch phía trên núm vú; vết thương rách da dài 04cm thành sau ngực trái; vết thương thành ngực trên bên trái dài 04cm, tụ máu dưới da tương ứng vị trí vết thương kích thước khoảng 08cm x 08cm xuyên vào khoang màng phổi gây vết thương nhu mô thùy dưới phổi trái dài 03cm. Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Vũ Hữu Q tại thời điểm giám định là 33%. Các thương tích trên có đặc điểm do vật sắc nhọn tác động trực tiếp gây nên. Các thương tích trên nếu không được cấp cứu kịp thời sẽ gây nguy hiểm đến tính mạng của nạn nhân.

Cơ quan điều tra tiến hành thu giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave Alpha màu sơn đỏ, mang biển kiểm soát: 16K8-3494. Tại Kết luận giám định số 3224/KL-KTHS ngày 28/10/2024, Phòng K Công an thành phố H kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave Alpha màu sơn đỏ, mang biển kiểm soát: 16K8-3494 có số khung, số máy là số nguyên thủy, không phát hiện thấy có sự tẩy xoá, sửa chữa các ký tự. Tại Phiếu trả lời xác minh xe ngày 21/10/2024 của Công an huyện K, Hải Phòng thể hiện: 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave Alpha màu sơn đỏ, mang biển kiểm soát: 16K8-3494 có chủ xe là chị Vũ Thị T4, trú tại: Số B L, phường M, quận N, thành phố Hải Phòng (nay là phường G, thành phố Hải Phòng. Xác minh tại địa chỉ trên không có trường hợp nào có tên Vũ Thị T4. Theo ông Đặng Văn P, sinh năm 1964, trú tại: Thôn L, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng (nay là xã K, thành phố Hải Phòng) là bố đẻ của bị cáo T khai: Ông P đã mua lại chiếc xe mô tô này từ chị T4 và sử dụng từ khoảng năm 2009 đến nay.

Tại bản Cáo trạng số 48/CT-VKSHP ngày 20/11/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng truy tố Đặng Văn T về tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng đã truy tố.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Đặng Văn T phạm tội “Giết người”. Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 15, Điều 57 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt: Đặng Văn T: Từ 11 năm đến 12 năm tù. Về bồi thường dân sự: Buộc bị cáo Đặng Văn T phải bồi thường cho bị hại Vũ Hữu Q theo quy định. Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 con dao dạng dao bầu, 01 thanh kim loại sáng màu; trả lại cho bị cáo 01 điện thoại S; trả lại cho ông Đặng Văn P 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave Anpha màu sơn đỏ. Về án phí: Buộc bị cáo Đặng Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

- Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Đặng Văn T: Luật sư không tranh luận về tội danh, điều luật áp dụng đối với bị cáo. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xem xét theo lời khai của bị cáo thể hiện việc bị hại cũng có lỗi khi tấn công bị cáo trước nên bị cáo được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất theo đề nghị của Kiểm sát viên.

Bị cáo không tranh luận và không nói lời sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

[2] Người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng vắng mặt. Xét thấy, sự vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra; phù hợp với lời khai của bị hại và người làm chứng; phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường; các kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở xác định: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 10/10/2024, tại quán H1 (địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng - nay là xã K, thành phố Hải Phòng), bị cáo Đặng Văn T đã có hành vi dùng 01 con dao (dạng dao bầu) là hung khí nguy hiểm đâm liên tiếp 04 nhát vào vùng ngực trái và sườn trái của anh Q làm anh Q chảy nhiều máu. Anh Q dùng tay giữ chặt tay cầm dao của T và ôm giữ người T. Hai bên giằng co nhau xuống đến khu vực chiếu nghỉ ở chân cầu thang tầng 1 của quán H1 thì anh Đỗ Văn T3 từ khu vực phòng lễ tân của quán chạy đến can ngăn, giằng được dao và thanh kim loại từ tay T và kéo T ra khu vực quầy thu ngân của quán. Sau đó, anh T3 cất dao vào trong ngăn kéo của bàn thu ngân, còn thanh kim loại thì anh T3 vứt ra khu vực sân trước của quán H1. Lúc này, anh Q đi lên tầng 2 và dùng áo bịt vết thương đang chảy nhiều máu. Một lúc sau, chị Lò Thị P1 và chị Lang Thị L, sinh năm 2004, nơi thường trú: Thôn N, xã L, huyện T, tỉnh Thanh Hóa (Nay là xã L, tỉnh Thanh Hóa) là nhân viên của quán dìu anh Q xuống tầng 1 để đưa anh Q đi cấp cứu. Khi nhìn thấy anh Q, T tiếp tục định xông vào, nhưng anh T3 can ngăn và kéo T lại. Sau đó, anh Q được đưa đi cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện K, còn T điều khiển xe mô tô bỏ trốn. Ngày 12/10/2024, Đặng Văn T bị bắt và bị thu giữ: 01 vé xe khách Bắc - T - Nam của nhà xe “An Bình bus”; 01 điện thoại Samsung Galaxy A12 màu đen; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha màu sơn đỏ, biển kiểm soát: 16K8-3494. Các thương tích này nếu không được cấp cứu kịp thời sẽ gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe của anh Q. Do đó, hành vi của bị cáo Đặng Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Giết người” theo quy định tại Điều 123 Bộ luật Hình sự.

[4] Về tình tiết định khung hình phạt: Giữa bị hại và bị cáo T không có mâu thuẫn từ trước, giữa bị cáo và bị hại có xảy ra to tiếng, cãi vã và bị cáo đã có hành vi dùng dao nhọn đâm vào vùng ngực, sườn của bị hại gây nguy hiểm đến tính mạng của bị hại. Hành vi của bị cáo thể hiện tính côn đồ, coi thường tính mạng của người khác nên phải bị truy tố và xét xử theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng số 48/CT-VKSHP ngày 20/11/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo Đặng Văn T về tội danh và điều luật áp dụng là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[5] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án mặc dù đã được xóa án tích nhưng vẫn coi là nhân thân xấu. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có ông nội, bà nội được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhất, hạng Nhì, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đối với ý kiến của người bào chữa cho bị cáo về việc áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự do bị hại cũng có lỗi một phần đã đánh bị cáo trước; Hội đồng xét xử thấy các tài liệu chứng cứ chứng minh bị hại không có lỗi nên không chấp nhận đề nghị của người bào chữa cho rằng bị hại có một phần lỗi.

[6] Về bồi thường dân sự: Bị hại Vũ Hữu Q yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 101.127.493 đồng, cụ thể như sau: Chi phí khám chữa bệnh, viện phí (có hóa đơn, chứng từ) là 17.377.493 đồng; Chi phí thuốc men, bồi dưỡng trong thời gian bị hại nằm bệnh viện là 6.500.000 đồng; Chi phí viện phí cấp cứu ở BV huyện K là 2.000.000 đồng; Chi phí đi lại, thuê xe (thuê xe cấp cứu, xuất viện, tái khám) là 2.450.000 đồng; Chi phí phục hồi sức khỏe (thuê thợ bằng và chăm sóc sau khi về nhà) là 2.000.000 đồng; Thu nhập bị mất của người chăm sóc (10.400.000 đồng/tháng x 2 tháng) là 20.800.000 đồng; Tổn thất tinh thần là 50.000.000 đồng.

[7] Hội đồng xét xử xét thấy: Đối với chi phí khám chữa bệnh, viện phí: Đây là chi phí hợp lý có hóa đơn, chứng từ nên được chấp nhận số tiền 17.377.493 đồng (1). Đối với chi phí thuốc men, bồi dưỡng trong thời gian bị hại nằm bệnh viện: Theo quy định, chi phí bồi dưỡng sức khỏe được xác định là 01 ngày lương tối thiểu vùng tại cơ sở khám chữa, bệnh cho 01 ngày khám chữa bệnh theo số ngày nằm viện là 4.960.000 đồng/tháng : 26 ngày x 9 ngày (từ ngày 10/10/2024 đến ngày 18/10/2024) = 1.717.000 đồng (Bị hại trình bày chi phí thuốc men, bồi dưỡng bác sĩ nhưng không cung cấp được tài liệu thể hiện nên chỉ được chấp nhận một phần yêu cầu là số tiền 1.717.000 đồng) (2). Đối với chi phí viện phí cấp cứu ở Bệnh viện huyện K, mặc dù chi phí này không có hóa đơn, chứng từ nhưng thực tế bị cáo có cấp cứu tại Bệnh viện huyện K nên cần chấp nhận chi phí này là 2.000.000 đồng (3). Đối với chi phí đi lại, thuê xe (thuê xe cấp cứu, xuất viện, tái khám): Đây là chi phí thuê phương tiện đưa bị hại đến cơ sở khám chữa bệnh và trở về nơi ở, mặc dù bị hại không có tài liệu thể hiện chi phí này nhưng xét thấy đây là chi phí hợp lý nên chấp nhận cho bị hại số tiền 2.450.000 đồng (4). Đối với chi phí phục hồi sức khỏe (thuê thay bằng và chăm sóc sau khi về nhà): Đây là chi phí hợp lý phù hợp với thực tế nên được chấp nhận số tiền 2.000.000 đồng (5). Đối với thu nhập bị mất của người chăm sóc: Bố bị hại làm nghề thợ xây có thu nhập 400.000 đồng/ngày, xét thấy đây là mức thu nhập thực tế phù hợp tại địa phương nên được chấp nhận là 400.000 đồng/ngày x 26 ngày x 2 tháng = 20.800.000 đồng (6). Đối với tổn thất tinh thần: Số tiền bị hại yêu cầu tương đương khoảng 21 tháng lương cơ sở, do bị hại không có lỗi nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị mức bồi thường tổn thất tinh thần khoảng 21 tháng cơ sở như bị hại đề nghị là 50.000.000 đồng (7). Tổng số tiền bị cáo phải bồi thường cho bị hại tổng số tiền là (1) + (2) + (3) + (4) + (5) + (6) + (7) = 17.377.493 + 1.717.000 + 2.000.000 + 2.450.000 + 2.000.000 + 20.800.000 + 50.000.000 = 96.344.493 đồng (làm tròn là 96.344.000 đồng). Bị cáo chưa bồi thường cho bị hại nên căn cứ vào các điều 584, 584, 586, 590 Bộ luật Dân sự buộc bị cáo phải bồi thường.

[8] Về hình phạt: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp “phạm tội chưa đạt” được quy định tại Điều 15 Bộ luật Hình sự nên áp dụng Điều 57 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự; bị cáo thực hiện hành vi phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, đã xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của cá nhân được pháp luật bảo vệ; thiệt hại gây ra chưa được bồi thường nên cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn nghiêm khắc, buộc bị cáo chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ một thời gian mới đủ để răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

[9] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 con dao dạng dao bầu và 01 thanh kim loại sáng màu không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy. 01 điện thoại Samsung Galaxy A12 thu giữ của bị cáo là tài sản của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo. 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave Alpha màu sơn đỏ, biển kiểm soát 16K8-3494 thu giữ của bị cáo là xe của bố đẻ bị cáo - ông Đặng Văn P, ông P không biết hành vi phạm tội của bị cáo nên trả lại cho ông Đặng Văn P.

[10] Về các vấn đề khác: Trong vụ án này có Đỗ Đức P2, Vũ Văn T5, Trần Văn Đ có hành vi đưa Đặng Văn T đến khu vực cầu T để T bắt xe khách bỏ trốn; đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H tiếp tục điều tra xác minh làm rõ.

[11] Về án phí: Bị cáo Đặng Văn T phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo và bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 15, Điều 57 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Đặng Văn T phạm tội “Giết người” (chưa đạt). Xử phạt bị cáo Đặng Văn T 14 (Mười bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12 tháng 10 năm 2024.
  2. Về bồi thường dân sự: Căn cứ các điều 584, 584, 586, 590 Bộ luật Dân sự; buộc bị cáo Đặng Văn T phải bồi thường cho bị hại Vũ Hữu Q số tiền 96.344.000 (Chín mươi sáu triệu, ba trăm bốn mươi bốn nghìn) đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành khoản tiền trên thì phải chịu lãi, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian và số tiền còn phải thi hành án.

  1. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử lý vật chứng theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 24/10/2025 tại Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng, như sau: Tịch thu tiêu hủy: 01 con dao dạng dao bầu và 01 thanh kim loại sáng màu. Trả lại bị cáo Đặng Văn T 01 điện thoại Samsung Galaxy A12 vỏ màu đen bên trong lắp 01 sim. Trả lại cho ông Đặng Văn P 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave Anpha màu sơn đỏ, biển kiểm soát 16K8-3494.
  2. Về án phí: Căn cứ Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; căn cứ Điều 21, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu án phí, lệ phí Tòa án, tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án, xử, về án phí: Buộc bị cáo Đặng Văn T6 phải chịu số tiền 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 4.817.200 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án..

Trường hợp Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP Hải Phòng;
  • - Tòa Phúc thẩm 1 – TAND tối cao;
  • - Viện Phúc thẩm 1 – VKSND tối cao;
  • - CQCSĐT Công an thành phố Hải Phòng;
  • - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ - CATP Hải Phòng;
  • - CQTHA hình sự;
  • - Trại tạm giam số 1 – Hải Phòng;
  • - THADS thành phố Hải Phòng;
  • - Bị cáo, Người tham gia tố tụng;
  • - UBND xã 1, tp Hải Phòng;
  • - Hồ sơ vụ án;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Anh Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 332/2025/HS-ST ngày 19/12/2025 của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng về giết người

  • Số bản án: 332/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Giết người
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Đặng Văn T phạm tội Giết người
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger