|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - QUẢNG TRỊ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 31 /2025/HNGĐ-ST
Ngày: 18 - 12 - 2025
V/v “Ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Quang Minh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Loan và bà Trần Thị Thuý Vinh
Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Ngọc Nhân, Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Quảng Trị.
Trong ngày 18 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 188/2025/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 11 năm 2025, về việc “Ly hôn và giải quyết về con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 124/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1978; nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, tỉnh Quảng Trị. Có mặt.
2. Bị đơn: Ông Hồ Nhân T, sinh năm 1974; nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, tỉnh Quảng Trị. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà nguyên đơn bà Nguyễn Thị D trình bày:
Bà Nguyễn Thị D và ông Hồ Nhân T kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện B, tỉnh Quảng Bình (nay là Ủy ban nhân dân xã Đ, tỉnh Quảng Trị) vào ngày 06/8/2012. Sau khi kết hôn thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến đầu năm 2024 đến nay vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn và ngày càng trở nên trầm trọng. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, cách sống không hợp nhau, không tìm ra được tiếng nói chung. Ông T thường xuyên ghen tuông vô cớ và đã có hành vi bạo hành đối với bà, làm cho bà D thường xuyên sống trong cảnh bất an, lo sợ. Xác định tình cảm vợ chồng không còn và cũng không có khả năng để khắc phục nên bà D đã về nhà bố mẹ đẻ sống được gần 1 tháng. Vì vậy bà Nguyễn Thị D đề nghị Toà án giải quyết cho bà được ly hôn ông Hồ Nhân T.
Về con chung: Bà Nguyễn Thị D khai nhận, vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Thị Hải Y, sinh ngày 19/10/2003 và Hồ Trà M, sinh ngày 28/11/2012. Sau khi ly hôn, chị D đề nghị được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con Hồ Trà M. Đề nghị anh T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng.
Đối với con chung là Nguyễn Thị Hải Y, tại thời điểm khai sinh cho con thì vợ chồng chưa thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, nên phải khai sinh tên con mang họ của bà D (họ N). Nay con là Nguyễn Thị Hải Y đã trên 18 tuổi và đủ khả năng lao động để tự nuôi sống bản thân nên bà D không yêu cầu Toà án xem xét việc giao con chung và cấp dưỡng nuôi con chung đối với con Nguyễn Thị Hải Y.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Tại bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà bị đơn - ông Hồ Nhân T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông T thống nhất với trình bày của bà Nguyễn Thị D về việc xác lập quan hệ hôn nhân, quá trình đăng ký kết hôn và chung sống của vợ chồng sau khi kết hôn. Về nguyên nhân mâu thuẫn của vợ chồng, ông T thừa nhận giữa vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn nhưng chỉ là những bất đồng quan điểm trong cuộc sống hàng ngày, không nghiêm trọng. Trong lúc bức xúc do những lời nói của người ngoài về quan hệ giữa bà D với người đàn ông khác, ông T có lần đánh bà D, nhưng sau đó vợ chồng đã hòa thuận trở lại. Thời gian gần đây, sau khi bà D về nhà bố mẹ sinh sống, ông T cũng đã lên trao đổi với vợ và gia đình để khuyên bà D quay về nhà nhưng bà D không đồng ý. Nay bà D đề nghị ly hôn, ông T không đồng ý vì hiện tại vẫn còn tình cảm với vợ và mong muốn vợ chồng đoàn tụ để cùng nuôi dạy con con cái trưởng thành. Trường hợp không được bà D chấp nhận thì ông đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về con chung: ông Hồ Nhân T thừa nhận vợ chồng có 02 con chung tên Nguyễn Thị Hải Y, sinh ngày 19/10/2003 và Hồ Trà M, sinh ngày 28/11/2012 cũng như việc con Nguyễn Thị Hải Y được khai sinh theo họ mẹ như bà D trình bày. Về việc giao con chung cho người nào trực tiếp chăm sóc và cấp dưỡng nuôi con chung sau khi vợ chồng ly hôn, ông T không có ý kiến vì không đồng ý ly hôn. Trường hợp Toà án giải quyết cho vợ chồng ly hôn thì ông T đề nghị giải quyết theo nguyện vọng của con.
Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị D có đơn yêu cầu ly hôn đối với ông Hồ Nhân T hiện cư trú tại xã Đ, tỉnh Quảng Trị nên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân Khu vực 1, tỉnh Quảng Trị.
[2] Về quan hệ tranh chấp:
Bà Nguyễn Thị D và ông Hồ Nhân T có đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền vào năm 2012, tại thời điểm đăng ký kết hôn các bên có đủ điều kiện, vì vậy theo quy định tại các Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 do đó cần xác định là hôn nhân hợp pháp. Khi một bên có yêu cầu ly hôn, Toà án cần xem xét giải quyết và xác định quan hệ tranh chấp là “Yêu cầu ly hôn và giải quyết về con chung" theo quy định.
[3] Về các yêu cầu của đương sự:
- Về quan hệ hôn nhân: Theo bà D trình bày, mâu thuẫn của vợ chồng phát sinh là do tính tình không hợp, thường xuyên bất đồng quan điểm, đặc biệt ông T thường ghen tuông vô cớ và đã có hành vi bạo hành đối với bà. Lần gần nhất là sau khi Tòa án thụ lý vụ án và tiến hành hòa giải, mặc dù đã được Tòa án giải thích các quy định của pháp luật về quyền nhân thân cũng như hướng dẫn các giải pháp để hàn gắn tình cảm vợ chồng, nhưng ông T vẫn không thay đổi, có lần đe dọa hành hung bà D, làm cho bà D phải sống trong cảnh bất an, lo sợ và phải về nhà bố mẹ ruột sinh sống cho đến nay. Lời khai của ông T thể hiện, ông vẫn còn tình cảm với vợ mà mong muốn được đoàn tụ vợ chồng, nhưng cũng thừa nhận việc ông đã từng đánh vợ phải nhập viện điều trị và thừa nhận nguyên nhân của các hành vi trên là do bản thân ghen tuông khi nghe người ngoài nói bà D có quan hệ với người đàn ông khác. Như vậy, có đủ cơ sở để xác định tình cảm vợ chồng giữa bà D và ông T đã mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng không còn yêu thương, chăm sóc lẫn nhau, nên mục đích hôn nhân không thể đạt được. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị D, xử cho bà được ly hôn với ông Hồ Nhân T.
- Về con chung: bà Nguyễn Thị D và ông Hồ Nhân T đều thừa nhận vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Thị Hải Y, sinh ngày 19/10/2003 và Hồ Trà M, sinh ngày 28/11/2012. Vợ chồng cũng thừa nhận việc con chung Nguyễn Thị Hải Y khai sinh theo họ mẹ. Quá trình giải quyết vụ án, vợ chồng không có tranh chấp về việc xác định con chung, không có người liên quan yêu cầu xác định cha cho con là Nguyễn Thị Hải Y. Do đó, cần xác định Nguyễn Thị Hải Y, sinh ngày 19/10/2003 và Hồ Trà M, sinh ngày 28/11/2012 là con chung của vợ chồng. Sau khi ly hôn, bà D đề nghị giao con chung là Hồ Trà M cho bà trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng và yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng. Ông T không có yêu cầu về việc nuôi con chung, nhưng tại phiên tòa thể hiện quan điểm nếu Tòa án giải quyết cho vợ chồng ly hôn thì ông đề nghị giải quyết vấn đề con chung theo quy định của pháp luật.
Tại đơn trình bày, cháu Hồ Trà M có nguyện vọng được ở với mẹ sau khi bố mẹ ly hôn. Mặt khác, hiện cháu M còn nhỏ và đang sống với chị D, việc ăn ở, và học tập đã ổn định. Tại phiên tòa, ông T trình bày hiện đang là lao động tự do, thu nhập bình quân mỗi tháng khoảng 10 triệu đồng. Vì vậy, cần giao cháu Hồ Trà M cho chị Nguyễn Thị D trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp về giới tính và điều kiện thực tế của vợ chồng và cần buộc ông Hồ Nhân T phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng với bà D mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi cháu M tròn 18 tuổi.
- Về tài sản chung: Các đương sự không có yêu cầu nên không xem xét.
[4] Về án phí sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị D phải nộp án phí hôn nhân và gia đình, ông Hồ Nhân T phải nộp án phí cấp dưỡng nuôi con theo định kỳ theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147; Điều 271; khoản 1 Điều 273; Điều 278 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho bà Nguyễn Thị D được ly hôn ông Hồ Nhân T.
2. Về nuôi con chung: Giao con chung là Hồ Trà M, sinh ngày 28/11/2012 cho bà Nguyễn Thị D trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi tròn 18 tuổi.
Buộc ông Hồ Nhân T phải thực hiện nghĩa vụ góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho bà Nguyễn Thị D mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi cháu Hồ Trà M tròn 18 tuổi.
Sau khi ly hôn, không bên nào có quyền ngăn cản việc thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung. Vì lợi ích của con chung, các bên được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con.
3. Về chia tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
4. Về án phí:
Bà Nguyễn Thị D phải nộp số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm ly hôn, nhưng được khấu trừ vào số tiền bà D đã nộp tại Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0001560 ngày 05/11/2025. Bà D đã nộp đủ án phí vụ kiện.
Buộc ông Hồ Nhân T phải nộp số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con theo định kỳ.
5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (18/12/2025).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Quang Minh |
Bản án số 31 /2025/HNGĐ-ST ngày 18/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - QUẢNG TRỊ về ly hôn
- Số bản án: 31 /2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BA HNGĐ-ST SỐ 31-2025 NGÀY 18-12-2025 NGUYỄN THỊ D-HỒ NHÂN T
