|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 281/2025/DS-ST
Ngày 19-12-2025
V/v: Tranh chấp thực hiện nghĩa
vụ về tài sản do người chết để lại
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thành Minh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phan Thanh Tòng
- Bà Dương Thị Thu Hằng
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Ba -Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8, tỉnh An Giang.
Trong ngày 19 tháng 12 năm 2025 tại Phòng xét xử Tòa án nhân dân khu vực 8, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 119/2025/TLST-DS ngày 21 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 189/2025/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lâm Xuân L, sinh năm 1967; địa chỉ: Tổ F, ấp H, xã K, tỉnh An Giang; có mặt.
- Bị đơn:
- Anh Nguyễn Tấn B, sinh năm 1996 (có mặt)
- Chị Nguyễn Ngọc L1, sinh năm 1995 (có mặt)
- Chị Phạm Thị T, sinh năm 2002 (có mặt)
Cùng địa chỉ: Tổ F, ấp H, xã K, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 03/9/2025 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn - bà Lâm Xuân L trình bày:
Do có mối quan hệ quen biết nên vào này 05/8/2024 âm lịch, bà Lâm Xuân L có cho bà Phạm Hồng T1 vay số tiền 100.000.000 đồng, thời hạn vay là 02 tháng, hai bên có thỏa thuận trả lãi là một tháng 5.000.000 đồng tương đương với mức lãi suất 5%/ tháng. Sau khi vay tiền, bà T1 đóng lãi cho bà được 08 tháng = 40.000.000 đồng. Bà T1 có làm Giấy cầm nhà để làm tin và có cháu Phạm Thị T con bà T1 chứng kiến và có ký tên vào giấy cầm nhà.
Từ ngày 05/4/2025 âm lịch cho tới nay, bà T1 không đóng lãi và cũng không trả thêm cho bà đồng nào. Nay do bà T1 đã mất, bà yêu cầu buộc các con của bà T1 là anh Nguyễn Tấn B, chị Nguyễn Ngọc L1 và chị Phạm Thị T phải liên đới thực hiện nghĩa vụ của bà T1 để lại, trả cho cho bà một lần số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) và yêu cầu tính lãi với mức lãi suất theo quy định của pháp luật kể từ ngày 06/4/2025 cho đến khi thanh toán xong nợ.
* Chị Phạm Thị T trình bày:
Mẹ chị là bà Phạm Hồng T1 chỉ có 03 người con là: Nguyễn Tấn B, Nguyễn Ngọc L1 và Phạm Thị T. Ngoài ra không còn người con nào khác. Do chị là con cùng mẹ khác cha với chị L1, anh B nên có họ khác với anh chị.
Chị thừa nhận trước đây mẹ chị là bà Phạm Hồng T1 có vay của bà Lâm Xuân L số tiền 100.000.000 đồng để chữa bệnh, khi bà L đưa tiền cho bà T1 thì chị có mặt ở đó, trực tiếp chứng kiến bà L đưa tiền cho bà T1 và ký tên vào giấy cầm nhà giữa bà T1 và bà L ký kết với nhau. Chữ ký và chữ viết tên trong Giấy cầm nhà mà bà L cung cấp cho Tòa án là chữ ký và chữ viết tên của mẹ chị - bà Phạm Hồng T1.
Sau khi vay thì hàng tháng, bà T1 có đóng lãi cho bà L nhưng đóng được bao nhiêu thì chị không rõ. Nay do mẹ chị đã mất nên chị đồng ý cùng các anh chị liên đới chịu trách nhiệm trả số nợ đó cho bà L, nhưng xin trả dần mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi dứt nợ.
* Anh Nguyễn Tấn B và chị Nguyễn Ngọc L1 trình bày:
Anh Nguyễn Tấn B và chị Nguyễn Ngọc L1 cũng xác định anh, chị là con ruột của bà Phạm Hồng T1. Bà T1 chỉ có 03 người con là anh B, chị L1 và chị Phạm Thị T.
Anh, chị cho rằng bản thân không hề biết việc mẹ của anh, chị vay tiền của bà Lâm Xuân L như thế nào. Anh, chị chỉ nghe bà T1 nói có đóng lãi cho bà L hàng tháng nhưng không biết đóng được bao nhiêu.
Nay bà T1 đã chết nên thống nhất theo lời trình bày của em gái – chị Phạm Thị T và đồng ý việc cả ba anh chị em cùng nhau liên đới trả số tiền gốc là 100.000.000 đồng cho bà L nhưng xin trả dần mỗi tháng là 2.000.000 đồng cho đến khi hết nợ.
Tại phên tòa:
- Bà Lâm Xuân L xác định chỉ khởi kiện các con của bà Phạm Hồng T1 là anh Nguyễn Tấn B, chị Nguyễn Ngọc L1 và chị Phạm Thị T liên đới trả số tiền gốc bà T1 vay của bà là 100.000.000 đồng; bà xin rút yêu cầu tính lãi đối với số tiền vay; bà không đồng ý cho trả dần mỗi tháng 2.000.000 đồng mà yêu cầu phải trả một lần. Giữa và bà T1 có cùng nhau viết Giấy cầm nhà nhằm tạo niềm tin lẫn nhau chứ trên thực tế bà T1 không giao nhà và giấy tờ nhà cho bà giữ. Bà đồng ý để Tòa án xử lý việc cầm nhà theo quy định của pháp luật.
- Anh Nguyễn Tấn B, chị Nguyễn Ngọc L1 và chị Phạm Thị T cùng xác định mẹ của các anh, chị là bà Phạm Hồng T1 khi còn sống có thiếu tiền vay của bà Lâm Xuân L 100.000.000 đồng. Anh, chị thống nhất cùng nhau liên đới trách nhiệm trả cho bà Lâm Xuân L số tiền 100.000.000 đồng nhưng xin trả dần mỗi tháng 2.000.000 đồng cho tới khi nào trả hết nợ. Anh, chị cúng xác định trước đây mẹ của các anh chị có viết giấy cầm nhà cho bà Lâm Xuân L để giữ niềm tin cho việc bà T1 vay tiền của bà L; trên thực tế bà T1 không giao nhà và giấy tờ nhà cho bà giữ. Các anh, chị đồng ý để Tòa án xử lý việc cầm nhà theo quy định của pháp luật. Đối với số tiền lãi bà T1 đã đóng, các anh, chị không yêu cầu Tòa án tính lại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: bà Lâm Xuân L khởi kiện anh Nguyễn Tấn B, chị Nguyễn Ngọc L1 và chị Phạm Thị T phải liên đới trả cho bà số tiền mà mẹ của các anh, chị là bà Phạm Hồng T1 đã vay của bà khi còn sống nên được xác định đây là “Tranh chấp thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại”; bị đơn là anh Nguyễn Tấn B, chị Nguyễn Ngọc L1 và chị Phạm Thị T có nơi cư trú tại: Tổ F, ấp H, xã K, tỉnh An Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 8, tỉnh An Giang theo quy định tại khoản 14 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa đổi, bổ sung năm 2025.
[2] Về tố tụng: quan hệ pháp luật của vụ án là tranh chấp thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại giữa các công dân đều là người đã thành niên và có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, Tòa án không tiến hành thu thập chứng cứ nên không thuộc trường hợp có Viện kiểm sát tham gia phiên tòa.
[3] Về nội dung vụ án:
Bà Lâm Xuân Lan yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh Nguyễn Tấn B, chị Nguyễn Ngọc L1 và chị Phạm Thị T phải liên đới trả cho bà số tiền mà mẹ của các anh, chị là bà Phạm Hồng T1 đã vay của bà khi còn sống là 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng). Bà L có cung cấp “Giấy cắm nhà” đề ngày có nội dung bà Phạm Hồng T1 có cắm nhà cho bà L số tiền 100.000.000 đồng và có chữ ký, chữ viết tên của bà Phạm Hồng T1 và chữ ký, chữ viết tên của chị Phạm Thị T. Anh Nguyễn Tấn B, chị Nguyễn Ngọc L1 và chị Phạm Thị T cùng xác định mẹ của các anh, chị là bà Phạm Hồng T1 khi còn sống có vay tiền của bà Lâm Xuân L 100.000.000 đồng và có viết giấy cầm nhà cho bà L để tạo niềm tin cho việc vay tiền. Các anh, chị thống nhất cùng nhau liên đới trả cho bà L số tiền bà T1 còn thiếu. Đây là tính tiết không phải chứng minh theo khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự nên có đủ căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc anh Nguyễn Tấn B, Nguyễn Ngọc L1 và chị Phạm Thị T có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Lâm Xuân L số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) trong phạm vi di sản do bà Phạm Hồng T1 chết để lại.
[4] Đối với yêu cầu tính lãi: theo đơn khởi kiện, bà Lâm Xuân L yêu cầu Tòa án tính lãi với mức lãi suất theo quy định của pháp luật kể từ ngày 06/4/2025 cho đến khi thanh toán xong nợ đối với khoản vay gốc 100.000.000 đồng. Tuy nhiên, tại phiên tòa, bà L tự nguyện rút yêu cầu tính lãi. HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với yêu cầu này của bà.
[5] Đối với việc anh B, chị L1 và chị T xin trả dần mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi hết nợ. Tòa án thấy rằng, đề xuất về phương án trả nợ của anh B, chị L1 và chị T không được bà L đồng ý và các bên đương sự không có thỏa thuận nào khác về cách thức trả nợ nên HĐXX không có cơ sở chấp nhận. Việc thanh toán nợ sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.
[6] Đối với thỏa thuận cầm nhà đất giữa bà Lâm Xuân L và bà Phạm Hồng T1 không phù hợp với quy định của pháp luật nên bị vô hiệu.
[7] Đối với số tiền lãi mà bà Phạm Hồng T1 đã trả cho bà Lâm Xuân L với mức lãi suất 5%/tháng, tương ứng số tiền 40.000.000 đồng, anh B, chị L1 và chị T cho rằng đây là số tiền lãi bà T1 trả cho bà L theo thỏa thuận vay ban đầu nên các anh, chị không yêu cầu Tòa án tính lại. Do đó, Tòa án không xem xét lại số tiền lãi bà T1 đã đóng.
[8] Về án phí
Yêu cầu khởi kiện của bà Lâm Xuân L được Tòa án chấp nhận nên bà L không phải chịu án phí và được trả lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Anh Nguyễn Tấn B, chị Nguyễn Ngọc L1 và chị Phạm Thị T phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật là: 100.000.000 đồng x 5% = 5.000.000 đồng (năm triệu đồng).
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 14 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025;
Áp dụng Điều 280, Điều 351, Điều 352, Điều 466, Điều 468, 614 và 615 của Bộ luật Dân sự 2015;
Áp dụng khoản 2 Điều 26, Điều 47, Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lâm Xuân L,
Buộc anh Nguyễn Tấn B, Nguyễn Ngọc L1 và chị Phạm Thị T có nghĩa vụ liên đới trả cho bà Lâm Xuân L số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng) trong phạm vi di sản do bà Phạm Hồng T1 chết để lại.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Đình chỉ yêu cầu tính lãi của bà Lâm Xuân L đối do bà L tự nguyện rút yêu cầu khởi kiện.
- Tuyên bố Giấy cầm nhà giữa bà Lâm Xuân L và bà Phạm Hồng T1 vô hiệu.
- Về án phí sơ thẩm:
Buộc anh Nguyễn Tấn B, Nguyễn Ngọc L1 và chị Phạm Thị T phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 5.000.000 đồng (năm triệu đồng).
Trả lại cho bà Lâm Xuân L toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0005204 ngày 20/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang.
- Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (19/12/2025); Viện kiểm sát có quyền kháng nghị bản án theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thành Minh |
Bản án số 281/2025/DS-ST ngày 19/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8, TỈNH AN GIANG về tranh chấp thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại
- Số bản án: 281/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thực hiện nghĩa vụ về tài sản do người chết để lại
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/12/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bà Lâm Xuân Lan có cho bà Phạm Hồng Thúy vay số tiền 100.000.000 đồng. Trong quá trình vay chưa trả gốc nhưng bà Thúy chết. Bà Lan yêu cầu Tòa án giải quyết buộc các con của bà Thúy là anh Nguyễn Tấn Bảo, chị Nguyễn Ngọc Linh và chị Phạm Thị Trúc phải liên đới thực hiện nghĩa vụ của bà Thúy để lại, trả cho cho bà một lần số tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng).
