|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - NINH BÌNH Bản án số: 28/2025/HS-ST Ngày: 05 - 12 -2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Minh
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Xuân Cung và bà Tạ Thị Thế
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Việt Trinh – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Ninh Bình tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Đức – Kiểm sát viên.
- Những người tiến hành tố tụng tại điểm cầu thành phần:
- + Ông Phạm Việt D – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 – Ninh Bình
- + Ông Lê Thanh S – Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Ninh Bình.
Ngày 05 tháng 12 năm 2025 tại điểm cầu trung tâm: trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Ninh Bình, điểm cầu thành phần: Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh N xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 23/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2025/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 11 năm 2025 đối với:
- Bị cáo: Lê Đức T – Sinh ngày 01 tháng 6 năm 1978 tại: phường Y, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: tổ B, phường T, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn C (đã chết) và con bà Dương Thị Đ; bị cáo có vợ là Phan Thị T1 và 02 con, con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm 2007;
Tiền án: Tại bản án số 03/2023/HSST ngày 15/02/2003, Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình xử phạt bị cáo 14 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/12/2023, chấp hành xong án phí ngày 24/4/2023.
Tiền sự: không; nhân thân:
- - Tại bản án số 08/2009/HSST ngày 28/8/2009, Tòa án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình xử phạt bị cáo 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản”, phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt cải tạo không giam giữ; chấp hành xong án phí ngày 03/11/2009;
- - Tại bản án số 23/2011/HSST ngày 12/5/2011, Tòa án nhân dân thị xã Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình xử phạt bị cáo 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/8/2011, chấp hành xong án phí ngày 12/5/2011;
- - Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 44/QĐ-CATX ngày 10/7/2008, Công an thị xã T, tỉnh Ninh Bình xử phạt bị cáo 200.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo đã chấp hành xong quyết định xử phạt;
- - Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/9/2025 đến ngày 10/9/2025 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an tỉnh N theo Quyết định tạm giam số 11/2025/HSST-QĐTG ngày 14/11/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Ninh Bình (có mặt).
- - Bị hại: Chị Trần Thị T2, sinh năm: 1985; địa chỉ: tổ dân phố H, phường T, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt).
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Dương Thị Đ, sinh năm 1944, địa chỉ: tổ A, phường T, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chiều ngày 31/8/2025, Lê Đức T sang nhà bà Dương Thị Đ, sinh năm 1944, trú tại tổ A, phường T, tỉnh Ninh Bình (mẹ đẻ T) hỏi mượn chiếc xe đạp loại xe nữ màu xanh, nhãn hiệu PEUGEOT. Sau khi mượn được xe, T đạp xe đi trên các trục đường thuộc phường T, tỉnh Ninh Bình tìm nhà nào sơ hở để trộm cắp tài sản. Khoảng 15 giờ 50 phút cùng ngày, khi đến khu vực tổ dân phố C, phường T, tỉnh Ninh Bình, T phát hiện gia đình chị Trần Thị T2 không có người ở nhà, cửa cổng khép, cửa chính phía trước ngôi nhà đóng nên T xuống xe, dựng ở lề đường phía trước cổng nhà chị T2 rồi đi bộ vào bên trong sân. T đến cửa chính mở cửa nhưng không được. T đi vòng ra bên hông của ngôi nhà, thấy ở hông ngôi nhà có cửa ra vào làm bằng sắt đang đóng. T đi đến vị trí cửa hông thấy trên cánh cửa có một ô thoáng nên dùng tay phải thò vào trong, thấy cửa chốt phía trong nhưng không khóa liền kéo chốt mở cửa, đi vào trong nhà. T đi vào phòng ngủ giáp gian bếp thấy trên mặt chiếc bàn học có giá sách đặt ngay cạnh cửa ra vào, trên mặt bàn có 01 chiếc laptop nhãn hiệu Dell Latitude 3500 Core i5 8th Gen, màu đen sản xuất năm 2020 đang cắm sạc và 01 chiếc điện thoại di động cảm ứng nhãn màu Redmi 12 64Gb màn hình có nhiều vết nứt, màu trắng sản xuất năm 2023, T dùng tay phải rút sạc ra khỏi máy tính và gập màn hình lại rồi lấy chiếc túi ni-lông màu đỏ ở trên giá sách, tay phải cầm chiếc laptop và chiếc điện thoại bỏ vào trong túi ni-lông. Lấy xong, T thấy có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus 32Gb, màu đen sản xuất năm 2017 đang cắm sạc pin để trên giường liền tiến lại, tay trái rút sạc còn tay phải cầm chiếc điện thoại di động Iphone 7 Plus bỏ vào chiếc túi ni-lông màu đỏ. Sau đó, T đi sang phòng bên cạnh, giáp cầu thang thì thấy có 01 chiếc laptop nhãn hiệu Dell Vostro màu đen, sản xuất năm 2009 không có pin để ở kệ sắt ngay cạnh cửa ra vào, T dùng tay phải lấy chiếc laptop này bỏ vào trong túi ni-lông màu đỏ đang cầm trên tay. Sau khi trộm cắp được số tài sản nêu trên, T theo cửa hông ra ngoài đến vị trí xe đạp, đặt túi ni-lông lên giá chở hàng rồi lấy dây dù (dây có sẵn ở xe) chằng buộc. Sau khi chằng buộc xong, T chở tài sản trộm cắp được đến ngôi nhà hoang ở tổ B, phường T, tỉnh Ninh Bình cất giấu, chờ thời cơ thuận lợi mang đi bán. Giấu tài sản xong, T cầm theo chiếc túi ni-lông màu đỏ rồi vứt trên đường đi về nhà.
Chiều ngày 31/8/2025, chị Trần Thị T2 về nhà phát hiện kẻ gian vào nhà lấy trộm 2 chiếc laptop và 2 chiếc điện thoại di động, đã trích xuất camera lắp đặt phía trước nhà 01 đoạn video có tên “7001170926386” dung lượng 5,68MB thời gian hiển thị trên camera từ 15 giờ 51 phút 26 giây đến 15 giờ 52 phút 42 giây ngày 31/8/2025 có hình ảnh liên quan đến hành vi phạm tội lưu vào USB nhãn hiệu Kingston DT101 G2 màu đỏ dung lượng 8Gb rồi đến Cơ quan công an phường T, tỉnh Ninh Bình trình báo và giao nộp chiếc USB nêu trên cho Công an phường T, tỉnh Ninh Bình để phục vụ điều tra.
Lê Đức T, sau khi thực hiện hành vi phạm tội, biết không thể che giấu được hành vi phạm tội của mình nên ngày 01/09/2025 T mang toàn bộ tài sản trộm cắp được đến Công an phường T, tỉnh Ninh Bình đầu thú.
Ngày 03/09/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh N ra Yêu cầu định giá tài sản số 9478/YC-VPCQCSĐT trưng cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Ninh Bình xác định giá trị của các tài sản của gia đình chị Trần Thị T2 bị T trộm cắp tại thời điểm ngày 31/08/2025. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 155/KL-HĐĐGTS ngày 09/09/2025 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự tỉnh Ninh Bình kết luận:
- - 01 (một) Laptop nhãn hiệu Dell Latitude 3500 Core i5 8th Gen, màu đen, sản xuất năm 2020 đã qua sử dụng có giá trị tại thời điểm ngày 31/8/2025 là 3.833.000 đồng;
- - 01 (một) Laptop nhãn hiệu Dell Vostro, đã bị mất P sử dụng nguồn điện trực tiếp, màu đen, sản xuất năm 2009 đã qua sử dụng có giá trị tại thời điểm ngày 31/8/2025 là 800.000 đồng;
- - 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 7 Plus 32Gb, màu đen, IMEI: 356569081060687, số sê ri: C39TV05YHG04 sản xuất năm 2017 đã qua sử dụng có giá trị tại thời điểm ngày 31/8/2025 là 1.467.000 đồng;
- - 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Redmi 12 64Gb màn hình có nhiều vết nứt, màu trắng, Model 23053RN02A, IMEI 1: 861065061744547/12, IMEI 2: 861065061744554/12, Số seri: 47936/Y3SV02963 sản xuất năm 2023 đã qua sử dụng có giá trị tại thời điểm ngày 31/8/2025 là 733.000 đồng;
Tổng giá trị các tài sản bị mất trộm của chị Trần Thị T2 nêu trên vào ngày 31/08/2025 là 6.833.000 đồng ( Sáu triệu tám trăm ba mươi ba nghìn đồng).
Ngày 15/9/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh N ra Quyết định số 4926/QĐ-VPCQCSĐT trưng cầu Phòng K - Công an tỉnh N giám định kỹ thuật số và điện tử đối với đoạn video có tên “7001170926386” với dung lượng 5,68MB thời gian hiển thị trên camera từ 15 giờ 51 phút 26 giây đến 15 giờ 52 phút 42 giây ngày 31/10/2025. Tại Kết luận giám định số 1130/KL-KTHS ngày 10/10/2025 của Phòng K - Công an tỉnh N kết luận: Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong tệp tin video gửi giám định.
Tại bản Cáo trạng số 11/CT-VKSKV2 ngày 14 tháng 11 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Ninh Bình đã truy tố bị cáo Lê Đức T ra trước Tòa án nhân dân khu vực 2 - Ninh Bình để xét xử về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Ninh Bình giữ nguyên quyết định truy tố, đánh giá tính chất vụ án, xem xét hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Tuyên bố bị cáo Lê Đức T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Lê Đức T từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ bị cáo là ngày 01/9/2025.
- - Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi bị truy tố như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Ninh Bình đã nêu. Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt. Bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án thấp nhất để yên tâm cải tạo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên và Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo Lê Đức T tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đã có đủ căn cứ để kết luận: Lợi dụng gia đình chị Trần Thị T2 ở tổ C, phường T, tỉnh Ninh Bình đi vắng. Khoảng 15 giờ 50 phút ngày 31/8/2025 Lê Đức T đã mở cửa hông vào nhà trộm cắp 01 chiếc laptop nhãn hiệu Dell Latitude 3500 Core i5 8th Gen; 01 chiếc điện thoại di động cảm ứng nhãn màu Redmi 12 64Gb; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus 32Gb; 01 chiếc laptop nhãn hiệu Dell Vostro có tổng giá trị là 6.833.000 đồng (Sáu triệu tám trăm ba mươi ba nghìn đồng).
Tại điều 173 của Bộ luật Hình sự quy định:
“Điều 173: Tội trộm cắp tài sản
1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp
sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
...”
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác, một khách thể quan trọng được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức rõ việc chiếm đoạt tài sản của người khác là hành vi bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý chiếm đoạt 02 chiếc máy tính xách tay, 02 chiếc điện thoại di động với tổng giá trị 6.833.000 đồng của chị Trần Thị T2. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, do đó việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Ninh Bình đối với bị cáo là đúng người, đúng tội.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: bị cáo đã bị kết án về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích nên phải chịu tình tiết tăng nặng “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã trả lại tài sản chiếm đoạt cho bị hại, sau khi bị phát hiện hành vi phạm tội đã ra đầu thú nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[4] Về hình phạt: bị cáo là người có nhân thân xấu, có nhiều tiền án, tiền sự nhưng không lấy đó làm bài học rút kinh nghiệm mà lại tiếp tục phạm tội với tính chất, mức độ táo bạo hơn; hành vi phạm tội của bị cáo diễn ra tại khu dân cư làm ảnh hưởng tới tình hình an ninh trật tự trên địa bàn, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân. Do đó, cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật và có mức hình phạt tương xứng với tính chất mức độ phạm tội của bị cáo, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời góp phần phòng ngừa chung.
[5] Trong vụ án này, bà Dương Thị Đ là người cho Lê Đức T mượn chiếc xe đạp nhưng khi cho mượn, không biết T sử dụng làm phương tiện phạm tội. Vì vậy, bà Đ không vi phạm pháp luật.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
Chị Trần Thị T2 đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu bồi thường thiệt hại nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
[7] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: bị cáo Lê Đức T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Lê Đức T 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ bị cáo là ngày 01/9/2025.
3. Về án phí:
Buộc bị cáo Lê Đức T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Thị Thu Minh |
Bản án số 28/2025/HS-ST ngày 05/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - NINH BÌNH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 28/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Lê Đức Thọ phạm tội "Trộm cắp tài sản"
