|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - ĐẮK LẮK |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 28/2025/HNGĐ-ST Ngày 17 - 12 - 2025 V/v: “Ly hôn và nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - ĐẮK LẮK
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Đoàn.
- - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Thế Vinh; 2. Ông Hoàng Năng Long.
- - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Duy - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 5 – Đắk Lắk.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Đăk Lăk tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhất - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 12 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân khu vực 5 - Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 127/2025/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 10 năm 2025, về việc: “Ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Bà Lê Thị Thanh H, sinh năm 1996; Địa chỉ: Buôn Č, xã E, tỉnh Đắk Lắk, có mặt.
- * Bị đơn: Ông Trần Khắc P, sinh năm 1992; Địa chỉ: Buôn Č, xã E, tỉnh Đắk Lắk, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên toà nguyên đơn bà Lê Thị Thanh H trình bày:
Về hôn nhân: Bà Lê Thị Thanh H và ông Trần Khắc P có đăng ký kết hôn vào ngày 04/02/2021 tại UBND xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk (nay là xã E, tỉnh Đắk Lắk). Trong quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, đến cuối năm 2024 Bà đã đưa con về chúng sống cùng cha mẹ của bà ở Buôn Č, xã E và sống ly thân với ông P cho đến nay. Nay nhận thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, không thể đoàn tụ, bản thân bà H cũng không thể tiếp tục chung sống với ông P, nên Bà yêu cầu Toà án giải quyết cho Bà được ly hôn với ông P.
Về con chung: Bà H và ông P có 01 người con chung là cháu Trần Hà M, sinh ngày 24/12/2024, hiện cháu M còn nhỏ chưa đủ 03 tuổi, về công việc Bà hiện làm quản lý bưu điện khu vực xã E, có mức lương thu nhập hàng tháng là 10.000.000 đồng, Nguyện vọng của bà H muốn được nuôi dưỡng, chăm sóc cháu M đến tuổi trưởng thành.
Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung: Bà H không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Đối với bị đơn ông Trần Khắc P: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng để cho bị đơn tham gia tố tụng và bảo vệ quyền lợi cho mình, nhưng bị đơn không đến Tòa án để tham gia tố tụng, vắng mặt tại các buổi làm việc ở Tòa án cũng như tại phiên tòa. Vì vậy, Tòa án không lấy được lời khai của bị đơn.
Theo biên bản xác minh tại chính quyền địa phương nơi nguyên đơn và bị đơn sinh sống, xác định tình trạng hôn nhân và nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn nguyên đơn và bị đơn là có thật theo như lời khai của nguyên đơn. Nay nguyên đơn làm đơn yêu cầu giải quyết ly hôn với bị đơn thì chính quyền địa phương đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Đắk Lắk tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- -Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Quan hệ pháp luật giải quyết của vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 5 – Đắk Lắk, xác định đúng tư cách người tham gia tố tụng. Việc chấp hành pháp luật của các đương sự: Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa, Thư ký, Hội đồng xét xử (HĐXX) đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng từ khi khai mạc phiên tòa đến khi kết thúc phần tranh luận.
- -Về nội dung: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Thanh H.
Về hôn nhân: Bà Lê Thị Thanh H được ly hôn với ông Trần Khắc P.
Về con chung: Giao cháu Trần Hà M, sinh ngày 24/12/2024 cho bà Lê Thị Thanh H trực tiếp nuôi dưỡng đến đủ tuổi thành niên.
Về cấp dưỡng nuôi con và tài sản bà H không yêu cầu, nên không giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của các đương sự, Viện kiểm sát, HĐXX xét thấy:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Tại phiên toà, bị đơn ông Trần Khắc P đã được Toà án tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do lần thứ hai. Căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2]. Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông P là hoàn toàn tự nguyện ông, bà có đăng ký kết hôn với nhau tại tại UBND xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk (nay là UBND xã E, tỉnh Đắk Lắk) vào ngày 04/02/2021 là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận. Tuy nhiên, trong quá trình chung sống giữa nguyên đơn và bị đơn thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng đã sống ly thân từ cuối năm 2024 cho đến nay không còn quan tâm gì đến nhau. Sau khi nguyên đơn nộp đơn khởi kiện Tòa án đã nhiều lần thông báo cho bị đơn để tham gia tố tụng, hòa giải cho vợ chồng đoàn tụ nhưng bị đơn đều vắng mặt là từ bỏ quyền chứng minh và không thực hiện nghĩa vụ của vợ chồng trong quan hệ hôn nhân với nguyên đơn. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn đã vi phạm nghiêm trọng về quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc xin ly hôn với bị đơn.
[3]. Về con chung: Bà H và ông P có 01 người con chung là cháu Trần Hà M, sinh ngày 24/12/2024, hiện đang sống cùng bà H. Xét thấy, tại thời điểm giải quyết vụ án, cháu M đang dưới 36 tháng tuổi. Căn cứ khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, giao cháu M cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng.
[4]. Về cấp dưỡng nuôi con và tài sản nguyên đơn không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
[5]. Về án phí: Bà Lê Thị Thanh H phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 144, 147, 220, 227, 228, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Khoản 2 Điều 1 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự. Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, các Điều 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Điều 6, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án về mức thu án phí, lệ phí Tòa án".
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị Thanh H.
1.Về hôn nhân: Bà Lê Thị Thanh H được ly hôn với ông Trần Khắc P.
Quan hệ hôn nhân giữa bà Lê Thị Thanh H và ông Trần Khắc P chấm dứt, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Về con chung: Giao cháu Trần Hà M, sinh ngày 24/12/2024 cho bà Lê Thị Thanh H được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi đủ tuổi thành niên.
Vì lợi ích của con và theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Bà Lê Thị Thanh H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà bà H đã nộp theo biên lai thu tiền số 0001952 ngày 09/10/2025 tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 – Đắk Lắk. Bà H đã nộp xong tiền án phí.
4. Thông báo quyền kháng cáo:
Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyền án.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Đoàn |
Bản án số 28/2025/HNGĐ-ST ngày 17/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - ĐẮK LẮK về ly hôn và nuôi con
- Số bản án: 28/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn và nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn giữa bà Lê Thị Thanh H và ông Trần Khắc P
