|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 27/2025/HNGĐ-PT Ngày 31 tháng 12 năm 2025 V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hà
Các Thẩm phán: Ông Hoàng Tuấn Trọng và ông Ngô Thế Tương
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Ngoan - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà:
Ông Phạm Thanh Phong - Kiểm sát viên.
Trong ngày 31 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 32/2025/TLPT-HNGĐ ngày 10/11/2025 về “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình, nuôi con, chia tài sản chung”. Do bản án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 46/2025/HNGĐ-ST ngày 18/9/2025 của Toà án nhân dân khu vực 6 - Hưng Yên bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 204/2025/QĐPT-HNGĐ ngày 02/12/2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 195/2025/QĐ-PT ngày 16/12/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trương Văn T, sinh năm 1964;
- Bị đơn: Bà Vũ Thị T1, sinh năm 1971;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Đều trú tại: Số nhà B, đường L, tổ dân phố H, xã K, tỉnh Hưng Yên (trước đây là thị trấn K, huyện K, tỉnh Thái Bình). Ông T, bà T1 có mặt.
3.1. Bà Trương Thị H, sinh năm 1952; nơi cư trú: Tổ C, khu F, phường U, tỉnh Quảng Ninh (trước đây là phường T, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh). Vắng mặt.
3.2. Bà Trương Thị T2, sinh năm 1956; nơi cư trú: Số nhà G, đường T, tổ dân phố Q, xã K, tỉnh Hưng Yên (trước đây là thị trấn K, huyện K, tỉnh Thái Bình). Vắng mặt.
3.3. Bà Trương Thị T3, sinh năm 1959; nơi cư trú: Tổ E, khu F, phường V, tỉnh Quảng Ninh (trước đây là phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh). Vắng mặt.
3.4. Ông Trương Văn T4, sinh năm 1966; nơi cư trú: Số nhà B, đường L, tổ dân phố H, xã K, tỉnh Hưng Yên (trước đây là thị trấn K, huyện K, tỉnh Thái Bình). Có mặt.
3.5. Ông Trương Văn Đ, sinh năm 1969; nơi cư trú: Tổ A, thôn B, xã T, tỉnh Lâm Đồng (trước đây là xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận). Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
1. Nguyên đơn là ông Trương Văn T trình bày:
Ông và bà Vũ Thị T1 tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn ngày 11/11/1991 tại UBND thị trấn K, huyện K, tỉnh Thái Bình (nay là xã K, tỉnh Hưng Yên). Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cãi chửi nhau, không tôn trọng nhau. Vợ chồng ly thân từ đầu năm 2024 đến nay, bà T1 ở với con trai tại Hải Phòng, không quan tâm đến nhau. Ông thấy không thể tiếp tục cuộc sống chung được nữa, không thể đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn bà Vũ Thị T1.
Ông và bà T1 có 03 con chung là Trương Văn T5, sinh ngày 18/12/1991, Trương Đình D, sinh ngày 27/3/1996 và Trương Thị Ngọc V, sinh ngày 17/4/2008. Cháu T5 và cháu D đã trên 18 tuổi, không bị mất năng lực hành vi dân sự, có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Cháu V đang ở cùng ông và đang học lớp 11 trường THPT N. Ly hôn, ông đề nghị bà T1 trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu V, ông tự nguyện cấp dưỡng cho cháu V 2.000.000 đồng/tháng.
Ông và bà T1 có tài sản chung là:
- Thửa đất số 529, tờ bản đồ số 21, diện tích 160m² đất ở, thuộc tổ dân phố H, thị trấn K, huyện K, tỉnh Thái Bình (nay là xã K, tỉnh Hưng Yên), do vợ chồng mua của Ủy ban nhân dân thị trấn K năm 1996 (đã được hợp pháp hóa), trên đất có một phần ngôi nhà 02 tầng, công trình phụ mái bằng xây năm 2010; nhà kho xây gạch xỉ, lợp ngói broximang, xây năm 2008.
- 01 ngôi nhà 02 tầng, móng trình xỉ vôi, tầng 01 có diện tích khoảng 50m² xây năm 2001, xây vữa bata, tường xây 20cm, gạch chỉ, không khung cột; tầng 02 có diện tích khoảng 50m², xây năm 2014, xây xi măng cát, tường xây 20cm, gạch chỉ, không khung cột và 01 phòng thờ, diện tích khoảng 10m², xây cùng thời điểm với tầng 02. Ngôi nhà này phần lớn xây trên thửa đất số 1208, tờ bản đồ số 21, diện tích 95m² đất ở, thuộc tổ dân phố H, thị trấn K, huyện K, tỉnh Thái Bình (nay là xã K, tỉnh Hưng Yên) của bố mẹ ông là cụ S và cụ H1 để lại (bố mẹ ông đã chết), chưa được chia thừa kế, có một phần nhà xây trên diện tích đất vợ chồng đã mua.
Ông yêu cầu giải quyết về tài sản như sau: Giao cho ông sở hữu nhà, ông sẽ thanh toán cho bà T1 50% giá trị nhà. Diện tích 160m² đất thì chia bằng hiện vật, mỗi người 80m². Ông đồng ý trả toàn bộ tiền công sức quản lý, trông coi di sản của bố mẹ ông để lại cho bà T1 thay cho các anh chị em còn lại. Các tài sản khác là vật dụng trong sinh hoạt gia đình ông và bà T1 tự phân chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông và bà T1 không nợ cá nhân, tổ chức, đoàn thể nào, cũng không có tài sản cho vay nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Bị đơn là bà Vũ Thị T1 trình bày:
Về tình trạng hôn nhân và con chung bà T1 thống nhất với lời trình bày của ông Trương Văn T.
Về tài sản bà T1 thống nhất với ông T về tài sản chung của vợ chồng và cách phân chia tài sản chung của vợ chồng. Bà T1 yêu cầu giải quyết về tài sản như sau: Giao cho ông T sở hữu nhà, ông T phải thanh toán cho bà 50% giá trị nhà. Diện tích 160m² đất thì chia bằng hiện vật, mỗi người 80m². Bà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật về công sức quản lý, gìn giữ di sản của cụ S và cụ H1 kể từ khi cụ S chết đến nay. Các tài sản khác là vật dụng trong sinh hoạt gia đình bà và ông T tự phân chia, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - bà Trương Thị H, bà Trương Thị T2, bà Trương Thị T3, ông Trương Văn T4 và ông Trương Văn Đ trình bày:
Các ông bà là con đẻ của cụ Trương Văn S, sinh năm 1915, chết năm 2008 và cụ Nguyễn Thị H1, sinh năm 1918, chết năm 1989. Cụ S và cụ H1 chết không để lại di chúc, không có con riêng, không có con nuôi, không để lại nghĩa vụ tài chính nào. Di sản của các cụ để lại là diện tích 95m² đất ở chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; trên diện tích đất có 01 ngôi nhà 02 tầng do vợ chồng ông Trương Văn T và bà Vũ Thị T1 xây dựng năm 2014 đang quản lý và sử dụng. Diện tích đất trên chưa được phân chia thừa kế cho 6 người con đẻ của các cụ là các ông bà và ông T.
Nay, ông T và bà T1 ly hôn, các ông bà đồng ý để ông T tiếp tục sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của cụ S và cụ H1 để lại, việc phân chia di sản thừa kế thì 6 anh chị em sẽ khởi kiện bằng một vụ kiện dân sự khác khi cần thiết. Đề nghị Tòa án giao cho ông T được sở hữu ngôi nhà trên diện tích đất của các cụ để lại, việc ông T phải thanh toán chênh lệch tài sản cho bà T1 như thế nào đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Các ông bà đề nghị không đưa vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án và cho phép các ông bà được vắng mặt tại tất cả các giai đoạn tố tụng tại Tòa án.
4. Về kết luận định giá tài sản:
4.1. Thửa đất diện tích 95m² đất ở, mang tên cụ Trương Văn S và cụ Nguyễn Thị H1 và chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, do ông Trương Văn T và bà Vũ Thị T1 quản lý và sử dụng. Giá trị của đất là: 95m² x 7.280.000 đồng/m² = 691.600.000 đồng.
4.2. Thửa đất số 529, tờ bản đồ số 21, diện tích 160m² đất ở, mang tên ông Trương Văn T và bà Vũ Thị T1 và chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giá trị của đất là: 160m² x 7.280.000 đồng/m² = 1.164.800.000 đồng.
5. Bản án sơ thẩm số 46/2025/HNGĐ-ST ngày 18/9/2025 của Toà án nhân dân khu vực 6 - Hưng Yên đã quyết định:
Áp dụng các Điều 33, 56, 58, 59, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; các Điều 213, 218, 219 Bộ luật Dân sự; Điều 7 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân Tối cao - Viện kiểm sát nhân dân Tối cao - Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình; điểm đ Khoản 1 Điều 12; Điều 24; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Về hôn nhân: Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa ông Trương Văn T và bà Vũ Thị T1.
- Về nuôi con chung: Xử công nhận sự thỏa thuận của ông T và bà T1: Giao cho bà T1 trực tiếp nuôi dưỡng 01 con chung là Trương Thị Ngọc V, sinh ngày 17/4/2008; ông T tự nguyện cấp dưỡng cho con 2.000.000đ/tháng kể từ tháng 9/2025 cho đến khi con tròn 18 tuổi.
- Về chia tài sản chung:
- Về án phí:
Ông T có quyền thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở. Ông T và bà T1 đều có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng cho con khi cần thiết.
3.1. Xử giao cho ông T sở hữu và sử dụng: 01 ngôi nhà 02 tầng và 01 phòng thờ, tổng diện tích là 105m², trị giá 87.840.536 đồng; 01 cổng trị giá 7.005.000 đồng; tường dậu trị giá 2.376.351 đồng; mái tôn phía trước cửa nhà trị giá 535.400 đồng; các tài sản trên nằm trên diện tích đất 95m² của cụ Trương Văn S và cụ Nguyễn Thị H1; xử giao cho ông T sở hữu 01 mái tôn nằm trên diện tích đất 160m² của ông T và bà T1 trị giá 2.248.680 đồng. Các tài sản trên tại thửa đất số 529, tờ bản đồ số 21, địa chỉ: Số nhà B, đường L, tổ dân phố H, xã K, tỉnh Hưng Yên. Tổng giá trị của các tài sản là 100.005.967 đồng.
3.2. Xử giao cho ông T được sử dụng diện tích 80m² trị giá 528.400.000 đồng của thửa đất số 529, tờ bản đồ số 21, địa chỉ: Số nhà B, đường L, tổ dân phố H, xã K, tỉnh Hưng Yên (phần diện tích ký hiệu S2 trong sơ đồ thửa đất kèm theo bản án).
3.3. Xử giao cho bà T1 được sử dụng diện tích 80m² trị giá 528.400.000 đồng của thửa đất số 529, tờ bản đồ số 21, địa chỉ: Số nhà B, đường L, tổ dân phố H, xã K, tỉnh Hưng Yên và tài sản trên đất gồm: 01 công trình phụ mái bằng, diện tích 42,7m² và 01 gian nhà lợp ngói Proximang, diện tích 19,5m² (phần diện tích ký hiệu S1 trong sơ đồ thửa đất kèm theo bản án).
3.4. Buộc ông Trương Văn T phải thanh toán cho bà Vũ Thị T1 50.002.983 đồng chênh lệch về tài sản và 98.800.000 đồng công sức chăm sóc người để lại di sản và công sức trông coi, quản lý di sản của cụ S và cụ H1. Tổng số tiền ông T phải thanh toán cho bà T1 là 148.802.984 đồng.
4.1. Miễn án phí ly hôn sơ thẩm và án phí chia tài sản cho ông Trương Văn T, trả lại số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm ông T đã nộp là 5.300.000 đồng tại biên lai thu tạm ứng án phí số 0000383 ngày 21/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình (nay là Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên).
4.2. Bà Vũ Thị T1 phải nộp 75.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 27.136.119 đồng án phí chia tài sản, tổng số tiền án phí sơ thẩm bà T1 phải nộp là 27.211.119 đồng.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo của đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 19/9/2025, ông T kháng cáo bản án sơ thẩm về việc không chấp nhận thanh toán cho bà T1 số tiền 98.800.000 đồng là công sức chăm sóc cho người để lại di sản và công sức trông coi quản lý di sản của cụ S và cụ H1 vì cụ cụ H1 chết năm 1989, sau đó năm 1991 ông mới cưới bà T1, cụ S chết năm 2007, khi còn sống cụ khỏe mạnh, ăn riêng, ở riêng, tự lập kinh tế nên không phải ai chăm sóc, chỉ ốm 01 tháng sau đó chết nên không có việc bà T1 chăm sóc, nuôi dưỡng cụ S. Quá trình xây dựng nhà cửa nhờ trên đất của cụ H1, cụ S là đã được hưởng lợi ích trên thửa đất này. Ông đề nghị Toà án chia ngang thửa đất 160m², chia cho ông phần nhà có công trình phụ, vì nhà xây trên đất của bố mẹ ông không có công trình phụ, hiện nay ông tuổi cao, già yếu, con cái không quan tâm nên không thể xây dựng thêm công trình phụ nào trên đất.
Ngày 21/10/2025, ông Trương Văn T4 và bà Trương Thị T2 kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm giải quyết không chấp nhận cho bà Vũ Thị T1 được hưởng công sức chăm sóc người người để lại di sản và công sức trông coi quản lý di sản của cụ S, bởi cụ S sống, ăn ở riêng, không cần ai chăm sóc phục vụ. Cụ chỉ ốm một tháng, cả 6 anh chị em đều chăm sóc chứ không riêng một mình bà T1 chăm sóc. Bà T1, ông T được bố mẹ cho mượn đất xây nhà nên được hưởng lợi trên đất rồi.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Trương Văn T giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và tranh luận: Thời gian cụ S ốm tất cả các anh em ông đều chăm sóc, không riêng gì bà T1. Thời gian ông bà ở cùng với bố mẹ do nhà chật nên cụ S cho ông bà ra ở riêng, xây dựng nhà cửa trên đó, khi đó đất nguyên thổ, ông và bà T1 không phải san lấp gì nên ông không đồng ý thanh toán công sức chăm sóc cụ S và công sức quản lý, tôn tạo di sản. Hiện tại trên phần nhà đất ông được chia không có công trình phụ rất bất tiện trong sinh hoạt cá nhân nên ông đề nghị chia lại cho ông phần đất có công trình phụ trên thửa đất diện 160m² để ông sử dụng, chia cho bà T1 phía sau của thửa đất.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Trương Văn T4 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và trình bày: Khi cụ S còn sống thì ở riêng, không ở cùng ông T, bà T1, không ai phải phục vụ, khi cụ S ốm thì cả 6 anh chị em ông đều chăm sóc, không phải riêng mình bà T1. Ông T, bà T1 đã được sống trên thửa đất của các cụ, được hưởng lợi trên đó nên ông không đồng ý việc ông T phải thanh toán công sức chăm sóc người để lại di sản và công sức quản lý, tôn tạo di sản.
Tại phiên toà bà Vũ Thị T1 trình bày và tranh luận: Bà T1 không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của ông T về việc chia lại vị trí thửa đất, bởi bà cũng là phụ nữ, không có chỗ ở nào khác, không có việc làm, thu nhập gì nên bà được chia phần đất có một phần công trình phụ là bếp ăn và nhà vệ sinh mái bằng để kê vừa cái giường nhỏ để ở, còn nhà mái broximang 20m² đã cũ nát, không ở được. Mặt khác bà cũng không có điều kiện để xây dựng nhà mới. Ngôi nhà hai tầng mái bằng chia cho ông T trên tầng 2 có nhà vệ sinh đầy đủ bà T1 không đồng ý chia lại thửa đất theo yêu cầu của ông T. Bà và ông T cưới nhau ở chung với gia đình nhà chồng, do nhà ở chật chội nên bố ông T đã chia cho vợ chồng bà 95m² đất để làm nhà ở tạm. Vợ chồng bà phải lấp trũng vì đất trũng thấp như ao và tôn tạo cải tổ lên mới thành đất mặt bằng như hiện tại và để xây dựng nhà ở khang trang. Lẽ ra bà phải được chia phần diện tích đất 95m² mà cụ S đã cho vợ chồng bà xây nhà nhưng bà đã không được chia mà chỉ được thanh toán công sức quản lý, tôn tạo di sản là 98.800.000 đồng là quá thiệt thòi rồi. Khi bà lấy ông T năm 1991 thì cụ S đã hơn 80 tuổi, đi lại bình thường nhưng việc cụ không làm được như cấy lúa, xát gạo và nhiều việc khác cụ toàn nhờ bà giúp, các anh chị em ông T đều ở xa không ai giúp đỡ cụ. Thời điểm cụ S ốm nặng 4 tháng, trong tháng đầu bà T1 đưa cụ sang ở cùng với bà T1, không chị em nào trông nom, sang tháng thứ 2 ông T4 về trông nom thì ông T6, ông T4 đánh nhau nên cụ S về nhà ở từ đó đến lúc mất. Bà T1 và em dâu thứ 2 (vợ ông T4) thay nhau trông nom, các con của cụ không ai trông nom tuy nhiên bà không yêu cầu thanh toán công sức chăm sóc cụ S nếu pháp luật không quy định về nội dung này. Vì vậy, bà T1 đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Ông T tranh luận: Ông xác nhận trên tầng 2 nhà ông được giao sử dụng có nhà vệ sinh tuy nhiên do ông tuổi cao, sức yếu nên không thể suốt ngày lên xuống để đi vệ sinh cá nhân được nên ông vẫn đề nghị chia lại thửa đất cho ông được sử dụng nhà vệ sinh dưới tầng một.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
- Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án ở cấp phúc thẩm, những người tiến hành tố tụng và đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự, chấp nhận một phần kháng cáo của ông Trương Văn T, sửa Bản án sơ thẩm số 46/2025/HNGĐ-ST ngày 18/9/2025 của Toà án nhân dân khu vực 6 - Hưng Yên về phần thanh toán công sức quản lý, tạo tạo di sản, buộc ông T phải thanh toán cho bà Vũ Thị T1 ½ công sức quản lý, tôn tạo di sản là 49.400.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, cũng như thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của ông T, ông T4 và bà T2 làm trong thời hạn hợp lệ, do vậy kháng cáo của ông T, ông T4 và bà T2 được xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét nội dung kháng cáo ông Trương Văn T, ông Trương Văn T4 và bà Trương Thị T2 về việc không đồng ý với bản án sơ thẩm buộc ông T phải thanh toán công sức chăm sóc người để lại di sản và công sức quản lý, tôn tạo di sản thì thấy: Các đương sự đều thừa nhận, ông T, bà T1 được cụ S cho sử dụng một phần thửa đất của hai cụ để xây dựng nhà ở trên đất từ sau khi kết hôn cho đến nay, trên thửa đất chỉ có vợ chồng ông T, bà T1 ở cùng với cụ S. Từ năm 2007, cụ S mất thì chỉ còn vợ chồng bà T1 sống trên thửa đất, không có ai thuộc hàng thừa kế của cụ S, cụ H1 tranh chấp hay ý kiến gì. Do vậy, xác định bà T1, ông T có công sức quản lý, tôn tạo di sản của cụ S, cụ H1 và theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 618 Bộ luật Dân sự thì người quản lý, tôn tạo di sản được thanh toán chi phí bảo quản di sản. Toà án cấp sơ thẩm xác định công sức quản lý, tôn tạo của ông T, bà T1 tương đương một suất thừa kế là 98.800.000 đồng là đúng pháp luật. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy đây là công sức chung của hai vợ chồng, ông T được hưởng ½ và bà T1 được hưởng ½ công sức đó. Vì vậy, việc Toà án cấp sơ thẩm buộc ông T phải thanh toán toàn bộ phần công sức quản lý, tôn tạo di sản cho bà T1 98.800.000 đồng là không đúng nên Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo của ông T, ông T4, bà T2, sửa phần thanh toán công sức quản lý, tôn tạo di sản cho bà T1, buộc ông T phải thanh toán cho bà T1 49.400.000 đồng là phù hợp. Theo lời khai trong giai đoạn sơ thẩm bà T1 không có yêu cầu gì về phần thanh toán công sức chăm sóc người để lại di sản, phần nhận định của bản án cũng không nhận định gì về nội dung này mà chỉ nhận định về công sức trông coi, quản lý di sản tương đương 01 suất thừa kế là 98.800.000 đồng nhưng phần Quyết định của bản án lại tuyên về việc ông T phải thanh toán cho bà T1 công sức chăm sóc người để lại di sản và công sức trông coi, quản lý di sản của cụ S và cụ H1 là chưa đúng nên cần sửa nội dung này.
[3] Xét nội dung kháng cáo của ông Trương Văn T về việc chia lại thửa đất số số 529, tờ bản đồ số 21 thì thấy: Ông T đã được giao sở hữu, sử dụng ngôi nhà 02 tầng, có nhà vệ sinh trên tầng 2, còn bà T1 không có chỗ ở nào khác, nên Toà án cấp sơ thẩm đã giao cho bà T1 80m² đất, trên đất có 01 công trình phụ mái bằng diện tích 42,7m² có thể sử dụng làm chỗ ở tạm cho mẹ con bà T1 là phù hợp. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy Toà án cấp sơ thẩm đã phân chia tài sản nhà và đất là có căn cứ nên không chấp nhận kháng cáo của ông Trương Văn T về việc chia lại vị trí thửa đất.
[4] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của ông T, ông T4, bà T2 được chấp nhận một phần và ông T đã trên 60 tuổi nên các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự, chấp nhận một phần kháng cáo của ông Trương Văn T, ông Trương Văn T4 và bà Trương Thị T2, sửa Bản án số 46/2025/HNGĐ-ST ngày 18/9/2025 của Toà án nhân dân khu vực 6 - Hưng Yên.
- Về án phí phúc thẩm: Ông Trương Văn T, ông Trương Văn T4, bà Trương Thị T2 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 31/12/2025.
1.1. Áp dụng các Điều 33, 56, 58, 59, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; các Điều 213, 218, 219 Bộ luật Dân sự; Điều 7 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016; điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 24; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1.2. Về hôn nhân: Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa ông Trương Văn T và bà Vũ Thị T1.
1.3. Về nuôi con chung: Xử công nhận sự thỏa thuận của ông T và bà T1, giao cho bà T1 trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Trương Thị Ngọc V, sinh ngày 17/4/2008; ông T tự nguyện cấp dưỡng cho cháu V 2.000.000đ/tháng kể từ tháng 9/2025 cho đến khi cháu V tròn 18 tuổi.
Ông T có quyền thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở. Ông T và bà T1 đều có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng cho con khi cần thiết.
1.4. Về chia tài sản:
1.4.1. Xử giao cho ông T sở hữu và sử dụng: 01 ngôi nhà 02 tầng và 01 phòng thờ, tổng diện tích là 105m² trị giá 87.840.536 đồng; 01 cổng trị giá 7.005.000 đồng; tường dậu trị giá 2.376.351 đồng; mái tôn phía trước cửa nhà trị giá 535.400 đồng; các tài sản trên nằm trên diện tích đất 95m² của cụ Trương Văn S và cụ Nguyễn Thị H1; xử giao cho ông T sở hữu 01 mái tôn nằm trên diện tích đất 160m² của ông T và bà T1 trị giá 2.248.680 đồng. Các tài sản trên tại thửa đất số 529, tờ bản đồ số 21, địa chỉ: Số nhà B, đường L, tổ dân phố H, xã K, tỉnh Hưng Yên. Tổng giá trị của các tài sản là 100.005.967 đồng.
1.4.2. Xử giao cho ông T được sử dụng diện tích 80m² trị giá 528.400.000 đồng của thửa đất số 529, tờ bản đồ số 21, địa chỉ: Số nhà B, đường L, tổ dân phố H, xã K, tỉnh Hưng Yên (phần diện tích ký hiệu S2 trong sơ đồ thửa đất kèm theo bản án).
1.4.3. Xử giao cho bà T1 được sử dụng diện tích 80m² trị giá 528.400.000 đồng của thửa đất số 529, tờ bản đồ số 21, địa chỉ: Số nhà B, đường L, tổ dân phố H, xã K, tỉnh Hưng Yên và tài sản trên đất gồm: 01 công trình phụ mái bằng, diện tích 42,7m² và 01 gian nhà lợp ngói Proximang, diện tích 19,5m² (phần diện tích ký hiệu S1 trong sơ đồ thửa đất kèm theo bản án)
1.4.4. Buộc ông Trương Văn T phải thanh toán cho bà Vũ Thị T1 50.002.983 đồng chênh lệch về tài sản và 49.400.000 đồng công sức chăm sóc người để lại di sản và công sức trông coi, quản lý di sản của cụ S và cụ H1. Tổng số tiền ông T phải thanh toán cho bà T1 là 99.402.983 đồng.
1.5. Về án phí:
1.5.1. Miễn án phí ly hôn sơ thẩm và án phí chia tài sản cho ông Trương Văn T, trả lại số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm ông T đã nộp là 5.300.000 đồng tại biên lai thu tạm ứng án phí số 0000383 ngày 21/5/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình (nay là Thi hành án dân sự khu vực 6 - Hưng Yên).
1.5.2. Bà Vũ Thị T1 phải nộp 75.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 27.136.119 đồng án phí chia tài sản, tổng số tiền án phí sơ thẩm bà T1 phải nộp là 27.211.119 đồng.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đỗ Thị Hà |
Bản án số 27/2025/HNGĐ-PT ngày 31/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 27/2025/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 31/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trương Văn Thiệp - Vũ Thị Thuý
