|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 27/2025/HNGĐ – ST
Ngày 27 tháng 11 năm 2025
V/v: “Ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tân Khải Nhân;
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Đình Sở và ông Phạm Mạnh Quỳ;
- Thư ký phiên tòa: Ông Tạ Đình Minh – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 – Phú Thọ;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Phú thọ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Kiều Vân – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 11 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 – Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 16/2025/TLST- HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2025 về việc “Ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2025/QĐXXST – HNGĐ ngày 31/10/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số: 36/2025/QĐST – HNGĐ ngày 17/10/2025.
Nguyên đơn: Chị Hà Thị T, sinh năm 1992 (vắng mặt);
Địa chỉ: Xóm M - T, xã L, tỉnh Phú Thọ;
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Bà Nguyễn Thị Bích T1 – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm T2, tỉnh Phú Thọ (có mặt).
Bị đơn: Anh Đinh Thế H, sinh năm 1991 (vắng mặt);
Địa chỉ: Xóm M - T, xã L, tỉnh Phú Thọ;
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Bà Đinh Thị H1 – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm T2, tỉnh Phú Thọ (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
[1]. Tại đơn khởi kiện đề ngày 30/7/2025 và những lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, Nguyên đơn chị Hà Thị T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ngày 11/3/2015, chị và anh Đinh Thế H đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ, nay là xã L, tỉnh Phú Thọ. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng sau đó thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân chính là do hai bên bất đồng quan điểm sống. Cuối năm 2022, anh, chị đã ly thân, kể từ thời điểm đó chị và anh H chấm dứt mọi mối quan hệ. Hiện tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị đề nghị Tòa án nhân dân khu vực 7 – Phú Thọ, cho chị ly hôn với anh H.
Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng anh chị có 03 (một) con chung là cháu: Đinh Bảo N, sinh ngày 28/9/2015; cháu Đinh Bảo C, sinh ngày 05/12/2020 và cháu Đinh Bảo A, sinh ngày 02/9/2018. Các con chung đang ở cùng anh H, vì vậy, chị đồng ý để anh H tiếp tục nuôi con chung, chị không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Về chia tài sản, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[2]. Về phía bị đơn: Tại biên bản lấy lời khai ngày 16/10/2025, anh Đinh Thế H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh xác nhận vợ chồng có đăng ký kết hôn; chị T chuyển về nhà bố mẹ đẻ sinh sống từ tháng 7/2022 cho đến nay. Giữa hai bên không phát sinh mâu thuẫn, chị T tự ý bỏ về nhà bố mẹ đẻ, anh nhiều lần lên đón nhưng chị T không trở về. Nay chị T xin ly hôn, anh không đồng ý.
Về con chung: Anh H xác nhận vợ chồng có con chung như chị T trình bày là đúng. Trong trường hợp vợ chồng ly hôn, anh xin nuôi con chung và không yêu cầu chị T phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Về chia tài sản, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[3]. Quan điểm của Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Nguyên đơn, Bị đơn:
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Nguyên đơn, Bị đơn đều đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các chứng cứ thu thập để xem xét, chấp nhận các yêu cầu của Nguyên đơn, Bị đơn theo đúng quy định của pháp luật.
[4]. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Phú Thọ phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, Nguyên đơn đã chấp hành là đúng quy định của pháp luật. Bị đơn chấp hành chưa đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung giải quyết vụ án: Chị T và anh H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn. Trong cuộc sống chung hai bên không hòa thuận, hạnh phúc. Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh H là trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, Điều 56, Điều 57 Luật Hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T. Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung cho anh H trực tiếp chăm sóc, giáo dục nuôi dưỡng, chị T không phải cấp dưỡng nuôi con chung vì anh H không yêu cầu. Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp, Nguyên đơn, Bị đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này. Về án phí dân sự, miễn toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm cho chị T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về trình tự, thủ tục tố tụng: Chị T có đơn khởi kiện, yêu cầu Tòa án nhân dân khu vực 7 – Phú Thọ cho chị ly hôn với anh H, căn cứ khoản 1, Điều 28, Điều 35, điểm a, khoản 1, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung ngày 25/6/2025 (dưới đây viết là Bộ luật tố tụng dân sự) thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 7 - Phú Thọ.
Quá trình giải quyết vụ án, Bị đơn mặc dù được tống đạt hợp lệ các văn bản của Tòa án nhưng cố ý vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Tòa án xác định đây là vụ án không hòa giải được theo quy định tại khoản 2, Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự và quyết định đưa vụ án ra xét xử là phù hợp.
Tại phiên tòa ngày hôm nay, Nguyên đơn, có đơn xin xét xử vắng mặt, Bị đơn vắng mặt không có lý do, căn cứ vào khoản 1, khoản 3, Điều 228, điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân khu vực 7 – Phú Thọ xét xử vắng mặt Nguyên đơn, Bị đơn là đúng quy định của pháp luật.
[2]. Về quan hệ hôn nhân: Ngày 11/03/2015, chị Hà Thị T và anh Đinh Thế H đăng ký kết hôn tại UBND xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ (nay là xã L, tỉnh Phú Thọ). Quan hệ hôn nhân giữa hai bên được xác lập là hợp pháp. Trong quá trình giải quyết vụ án, Nguyên đơn trình bày về việc vợ chồng tồn tại nhiều mâu thuẫn, hai bên đã ly thân từ cuối 2022 cho đến nay. Để làm rõ tình trạng hôn nhân của hai bên, Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ tại địa phương nơi Nguyên đơn, Bị đơn cư trú, kết quả đã xác định: Hai bên đã ly thân, chị T bỏ về nhà bố mẹ đẻ để sinh sống, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc nhau. Bản thân anh Đinh Thế H cũng xác nhận chị T đã chuyển về nhà bố mẹ đẻ sinh sống từ tháng 7/2022 cho đến nay (bút lục số 46).
Theo hướng dẫn tại điểm a, khoản 3, Điều 4 của Nghị Quyết số 01/2024/NQ – HĐTP ngày 16/5/2024 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình thì “Hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được” là thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Không có tình nghĩa vợ chồng, ví dụ: vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau; vợ, chồng sống ly thân, bỏ mặc vợ hoặc chồng”;
Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa chị T, anh H đã đến mức trầm trọng, đời sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T là phù hợp với quy định tại khoản 1, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
[3]. Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là cháu Đinh Bảo N, sinh ngày 28/9/2015, cháu Đinh Bảo A, sinh ngày 02/9/2018 và cháu Đinh Bảo C, sinh ngày 05/12/2020. Khi ly hôn, chị T đồng ý để anh H nuôi con chung, chị đề nghị không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Đối với yêu cầu này của chị T Hội đồng xét xử thấy rằng: Theo biên bản làm việc ngày 16/10/2025 tại UBND xã L, tỉnh Phú Thọ (bút lục 45) thì các con chung của anh H, chị T đang sinh sống ổn định cùng anh H, anh H có đủ điều kiện về vật chất, tinh thần để chăm sóc các cháu. Bên cạnh đó, nguyện vọng của các cháu mong muốn được ở với bố (bút lục số 32, 33). Mặt khác, anh H và chị T cũng đều đồng ý khi vợ chồng ly hôn, anh H là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung (bút lục số 44, 46, 47) . Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu về việc nuôi con của chị T và anh H là phù hợp.
Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: Chị T đề nghị không phải cấp dưỡng nuôi con, anh H đồng ý với yêu cầu của chị T. Căn cứ vào quy định tại Điều 5 của Bộ luật tố tụng dân sự về phạm vi khởi kiện, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T, anh H về việc chị T không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nuôi con là phù hợp.
Khi chị T và anh H, có yêu cầu thay đổi người nuôi con, cấp dưỡng nuôi con thì anh, chị có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết bằng một vụ, việc khác theo quy định của pháp luật.
[4]. Về tài sản, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Chị T, anh H không yêu cầu tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này. Anh, chị có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết bằng một vụ, việc khác theo quy định pháp luật.
[5]. Về án phí: Chị T là Người dân tộc thiểu số, sinh sống tại khu vực đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí ly hôn sơ thẩm.
[6]. Về quyền kháng cáo: Chị T, anh H có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng khoản 1, Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
- Áp dụng khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 khoản 4, khoản 5 Điều 147, khoản 1 Điều 228, điểm a, b khoản 1 Điều 238, khoản 1, Điều 273 của BLTTDS năm 2015.
- Áp dụng điểm đ, khoản 1, Điều 12, Điều 14, khoản 2, Điều 15 và điểm a, khoản 5, Điều 27, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Hà Thị T được ly hôn với anh Đinh Thế H.
- Về con chung: Giao cháu Đinh Bảo N, sinh ngày 28/9/2015, cháu Đinh Bảo A, sinh ngày 02/9/2018 và cháu Đinh Bảo C, sinh ngày 05/12/2020 cho anh Đinh Thế H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi các cháu thành niên. Chị Hà Thị T không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung; Người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ đối với con chung, không ai được ngăn cấm, cản trở.
- Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Không xem xét, giải quyết trong vụ án này.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Hà Thị T là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại khu vực đặc biệt khó khăn nên được miễn toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Chị T, anh H có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.
- Trong trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì Người được thi hành án dân sự, Người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thi hành theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Tân Khải Nhân |
Bản án số 27/2025/HNGĐ – ST ngày 27/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – PHÚ THỌ về ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn
- Số bản án: 27/2025/HNGĐ – ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HNGĐ - ST
