Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 2 - HÀ TĨNH

Bản án số: 26/2025/HS-ST

Ngày: 02 - 12 -2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Ông Trần Quang Dũng
Các Hội thẩm nhân dân:Bà Trần Thị Toàn
Ông Nguyễn Xuân Tào

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Chính - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Hà Tĩnh tham gia phiên tòa:

Bà Võ Thanh Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2025 và ngày 02 tháng 12 năm 2025 tại hội trường xử án Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 25/2025/TLST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:

Lê Thị D. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nữ; Sinh ngày 10 tháng 02 năm 1983 tại: phường V, tỉnh Hà Tĩnh; Nơi thường trú: Tổ dân phố T, phường V, tỉnh Hà Tĩnh; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Buôn bán; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; Con ông: Lê Hữu B; Sinh năm: 1955 (Đã chết); Con bà: Lương Thị M; Sinh năm: 1961; Hiện làm ruộng và sinh sống tại tổ dân phố T, phường V, tỉnh Hà Tĩnh; A, chị, em ruột có năm người, bị cáo là con thứ hai; Chồng: Trần Thanh T; Sinh năm: 1973; Hiện lao động tự do và sinh sống tại Tổ dân Phố T, Phường V, tỉnh Hà Tĩnh; Con: Có 02 đứa, đứa lớn sinh năm 2015, đứa nhỏ sinh năm 2017; Hiện đều sinh sống tại tổ dân phố T, phường V, tỉnh Hà Tĩnh; Tiền án, tiền sự: Không; Biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú tại phường V, tỉnh Hà Tĩnh kể từ ngày 08/8/2025 cho đến nay. (Có mặt)

* Đại diện gia đình hại:

Chị Nguyễn Thị N, sinh ngày 26/11/1983; Nơi cư trú: Tổ dân phố C, phường V, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do. (vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt)

* Người làm chứng:

  • - Chị Lê Thị T1, sinh ngày 26/09/1986; Nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường V, tỉnh Hà Tĩnh. (Có mặt)
  • - Chị Lê Thị L, sinh ngày 20/08/1975; Nơi cư trú: Tổ dân phố N, phường V, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt)
  • - Chị Phạm Thị N1, sinh ngày 21/03/1977; Nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường V, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt)
  • - Anh Nguyễn Văn D1, sinh ngày 10-06/1989; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã K, tỉnh Hà Tĩnh. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Thị D được cấp Giấy chứng nhận hộ kinh doanh buôn bán thực phẩm chức năng, mở cửa hàng tại chợ K, tổ dân phố N, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh (nay là phường V, tỉnh Hà Tĩnh). Lê Thị D không được cơ quan có thẩm quyền thẩm định, cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thuốc chữa bệnh. Theo quy định, Lê Thị D chỉ được phép kinh doanh thực phẩm chức năng và không được phép kê đơn, bán thuốc chữa bệnh cho người khác. Tuy nhiên vào khoảng 07 giờ 30 phút ngày 11/4/2025, bà Lê Thị X (sinh năm 1960, trú tại tổ dân phố C, phường V, tỉnh Hà Tĩnh) bị ho, sổ mũi, đau đầu và cảm lạnh nên đến cửa hàng kinh doanh thực phẩm chức năng của Lê Thị D để mua thuốc uống điều trị. Sau khi nghe bà X trình bày triệu chứng, Lê Thị D không hỏi kỹ về tiền sử bệnh mà tự ý lựa chọn thuốc trong cửa hàng để bán cho bà X. Cụ thể, Lê Thị D lấy các loại thuốc có sẵn trong cửa hàng và bán cho bà X, gồm: 10 viên Alpha chymotrypsin Choay; 10 viên Amoxicillin; 10 viên Terpin Codein 5; 10 viên Loratadin và 05 viên Paracetamol (Uống trong thời gian 2,5 ngày, mỗi ngày uống hai lần buổi sáng và buổi tối). Sau khi bán thuốc, bà X xin nước để uống thuốc ngay tại cửa hàng. Lê Thị D hỏi bà X “đã ăn sáng chưa” và “có bị dị ứng với thuốc không”. Khi nghe bà X trả lời rằng đã ăn sáng và không bị dị ứng, Lê Thị D liền lấy một ly nước lọc và trực tiếp đưa cho bà X uống liền 09 viên thuốc gồm 02 viên Alpha chymotrypsin Choay; 02 viên Amoxicillin; 02 viên Terpin Codein 5; 02 viên Loratadin và 01 viên Paracetamol. Khoảng 2 phút sau khi uống thuốc, bà X xuất hiện các triệu chứng bất thường: toàn thân ngứa, đỏ mặt, khó thở, tức ngực. Thấy vậy, Lê Thị Duy Đ trong quầy hàng để nằm nghỉ và theo dõi. Tuy nhiên, bà X càng lúc càng khó thở, buồn nôn nhưng không nôn được, sau đó dần lịm người, mất ý thức. Lúc này, Lê Thị D gọi điện thoại cho chị gái là Lê Thị T1 (sinh năm 1986, trú tại phường V, tỉnh Hà Tĩnh - là nhân viên trạm y tế xã K) để thông báo tình hình. Ngay sau đó, chị T1 cùng chị Lê Thị L (sinh năm 1975, cũng là nhân viên Trạm y tế phường K) đến cửa hàng, phát hiện bà X nằm ngửa trên giường, mắt nhắm, da tím tái, xuất hiện các vết mẩn đỏ trên tay và cổ. Họ tiến hành ép lồng ngực cấp cứu. Khoảng 3 phút sau có chị Phạm Thị N1, sinh năm 1977, trú tại phường V, tỉnh Hà Tĩnh là nhân viên trạm y tế phường V đến mang theo 01 (một) lọ thuốc Adrenalin (thuốc chống sốc phản vệ) và bộ D2 y tế để cấp cứu. Lúc này chị L cầm lấy lọ thuốc tiêm vào vùng cổ của bà X, chị N1 đo huyết áp nhưng bà X đã tử vong.

Biên bản khám nghiệm tử thi và Bản kết luận giám định Pháp Y số 643/KL-KTHS ngày 15/5/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh H kết luận: Tử thi Lê Thị X. Trên cơ thể không phát hiện dấu vết tổn thương từ ngoại lực tác động. Tiền sử dị ứng, sốc phản vệ với nhiều loại thuốc. Phổi sung huyết, xuất huyết rải rác với các phế nang lòng chứa ít dịch phù, hồng cầu lẫn phế bào bong; vách phế nang sung huyết; các phế quản lòng chứa dịch nhày; bong rụng phần lớn biểu mô phế quản, xâm nhiễm rải rác bạch cầu đơn nhân. Trong mẫu máu ghi thu của tử thi gửi giám định có tìm thấy T2, C. Nguyên nhân chết của bà Lê Thị X: Suy hô hấp, suy tuần hoàn ở người sử dụng T, C.

Theo Bản kết luận giám định số 3142B/KL-KTHS ngày 23/4/2025 của V, Bộ C1, kết luận mẫu vật thu từ tử thi bà Lê Thị, kết quả cho thấy trong mẫu máu của tử thi có phát hiện terpin và codeine là các hoạt chất có tác dụng giảm ho, long đờm, nhưng không phát hiện ethanol (cồn) và các chất ma túy khác. Đồng thời, trong các mẫu máu, phủ tạng, dạ dày và chất chứa trong dạ dày của tử thi Lê Thị X cũng không phát hiện bất kỳ độc chất thường gặp nào, bao gồm: xyanua, methanol, thuốc diệt chuột (nhóm chống đông máu, fluoroacetat, tetramine, các muối phốt phua), hóa chất bảo vệ thực vật (phospho hữu cơ, clo hữu cơ, carbamat, pyrethroid, sulfonyl urea, acetamid, triazin, paraquat, diquat, glyphosate, glufosinate, nereistoxin), alkaloid độc của lá ngón, mã tiền, cà độc dược, ô đầu – phụ tử, cùng các chất an thần gây ngủ và kim loại nặng độc.

Theo bản kết luận giám định số 3142A/KL-KTHS ngày 29/4/2025 của V, Bộ C1 kết luận mẫu máu, phủ tạng, chất chứa trong dạ dày của tử thi Lê Thị X: Hình ảnh tim sung huyết, nhiều vùng cơ tim thoái hóa hoại tử, mỡ hóa, xâm nhiễm rải rác bạch cầu đơn nhân; phổi sung huyết, phù nề nang rải rác, viêm phế quản; các tạng còn lại sung huyết, thoái hóa tế bào.

* Về vật chứng: Qúa trình điều tra Cơ quan điều tra Công an tỉnh H đã thu giữ xử lý vật chứng cụ thể:

  • - Thuốc Loratadin (hai hộp còn nguyên 200 viên, một vỉ nguyên 10 viên và một vỉ đã sử dụng còn lại 06 viên); thuốc Paracetamol (một hộp còn nguyên 100 viên). Đã lấy mẩu giám định không hoàn lại.
  • - Thuốc Terpin Codein 5 (ba vỉ còn nguyên 30 viên và ba vỉ đã sử dụng còn lại 22 viên thuốc); thuốc Amoxicillin (hai vỉ đã sử dụng còn lại 10 viên); thuốc Alpha chymotrypsin C2 (hai vỉ nguyên 30 viên và hai vỉ đã sử dụng còn lại 19 viên). Hiện nay đã chuyển Phòng thi hành án dân sự khu vực 2 - Hà Tĩnh để xử lý.

* Về trách nhiệm dân sự: Sau khi vụ việc xảy ra Lê Thị D đã cùng với gia đình lo chi phí mai táng cho nạn nhân Lê Thị X và thỏa thuận bồi thường cho gia đình bị hại với tổng số tiền 20.000.000 đồng. Nay đại diện người bị hại không có yêu cầu gì thêm và có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo

Bản cáo trạng số 17/CT-VKS-KV2 ngày 30/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Hà Tĩnh truy tố bị cáo Lê Thị D về tội “Vi phạm quy định về bán thuốc” theo điểm a khoản 1 Điều 315 Bộ luật Hình sự. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 315; điểm b, p, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Lê Thị D từ 12 đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày thi hành án; Hình phạt bổ sung: Không; Về dân sự: Không; Về vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu huỷ số thuốc bị cáo dùng vào việc phạm tội.

Tại phần tranh luận, bị cáo, bị hại không có ý kiến tranh luận gì với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo, vì đã nhận thức được hành vi phạm tội, ăn năn hối cải, bản thân bị khuyết tật nặng, bị liệt tứ chi, sinh hoạt phải có người khác giúp đỡ, đang được hưởng chế độ trợ cấp của nhà nước, có hai con còn nhỏ, chồng không có việc làm ổn định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Hà Tĩnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Lê Thị D không được cơ quan có thẩm quyền thẩm định, cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thuốc chữa bệnh, thuộc trường hợp không được phép kê đơn, bán thuốc chữa bệnh, nhưng vào khoảng 07 giờ 30 phút ngày 11/4/2025 tại cửa hàng bán thực phẩm chức năng tại chợ K, thuộc địa phận tổ dân phố N, phường K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh (Nay là phường V, tỉnh Hà Tĩnh) của Lê Thị D, D đã tự mình kê đơn, bán thuốc cho bà Lê Thị X, sinh năm 1960, trú tại tổ dân phố C, phường V, tỉnh Hà Tĩnh) 10 viên Alpha chymotrypsin Choay; 10 viên Amoxicillin; 10 viên Terpin Codein 5; 10 viên Loratadin và 05 viên Paracetamol. Sau khi bà X sử dụng 02 viên Alpha chymotrypsin Choay; 02 viên Amoxicillin; 02 viên Terpin Codein 5; 02 viên Loratadin và 01 viên Paracetamol thì bị suy hô hấp, suy tuần hoàn ở người do sử dụng Terpin, C dẫn đến tử vong. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về bán thuốc” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 315 Bộ luật Hình sự.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính mạng của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an trên địa bàn, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả, bị cáo là người bị khuyết tật nặng, sinh hoạt cá nhân phải có người khác hỗ trợ có xác nhận của UBND Phường V và được hưởng chế độ trợ cấp hàng tháng của nhà nước, đại diện cho gia đình bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, p, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình Sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có. nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, bản thân bị cáo là người bị khuyết tật nặng, các con bị cáo còn nhỏ. Nên cho bị cáo cải tạo, giáo dục tại địa phương cũng đủ răn đe và cải tạo bị cáo thành người có ích cho gia đình và xã hội.

[4] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là người khuyết tật nặng, đang hưởng chế độ trợ cấp của nhà nước nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Sau khi vụ việc xảy ra Lê Thị D đã cùng với gia đình lo chi phí mai táng cho nạn nhân Lê Thị X và thỏa thuận bồi thường cho gia đình bị hại với tổng số tiền 20.000.000 đồng. Nay đại diện cho gia đình bị hại không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử miễn xét.

[6] Về vật chứng: Thuốc Loratadin (hai hộp còn nguyên 200 viên, một vỉ nguyên 10 viên và một vỉ đã sử dụng còn lại 06 viên); thuốc Paracetamol (một hộp còn nguyên 100 viên). Đã lấy mẩu giám định không hoàn lại.

Thuốc Terpin Codein 5 (ba vỉ còn nguyên 30 viên và ba vỉ đã sử dụng còn lại 22 viên thuốc); thuốc Amoxicillin (hai vỉ đã sử dụng còn lại 10 viên); thuốc Alpha chymotrypsin C2 (hai vỉ nguyên 30 viên và hai vỉ đã sử dụng còn lại 19 viên). Hiện nay đã chuyển Phòng thi hành án dân sự khu vực 2 - Hà Tĩnh. Đây là vật chứng dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử tịch thu tiêu huỷ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

[7] Về án phí: Bị cáo Lê Thị D là người khuyết tật nặng nên không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện cho bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định tại điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điểm a khoản 1 Điều 315, điểm b, p, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 331, khoản 1 Điều 333; Điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm đ Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Về tội danh: Tuyên bố Lê Thị D phạm tội “Vi phạm quy định về bán thuốc”.

Về hình phạt: Xử phạt Lê Thị D 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (02/12/2025)

Giao bị cáo Lê Thị D cho UBND Phường V, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án Hình sự.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ Thuốc Terpin Codein 5 (ba vỉ còn nguyên 30 viên và ba vỉ đã sử dụng còn lại 22 viên thuốc); thuốc Amoxicillin (hai vỉ đã sử dụng còn lại 10 viên); thuốc Alpha chymotrypsin C2 (hai vỉ nguyên 30 viên và hai vỉ đã sử dụng còn lại 19 viên)

Về án phí: Bị cáo Lê Thị D không phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Đại diện cho bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án./.

Nơi nhận:

  • - Phòng giám đốc KT,TT và THA - TA tỉnh;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Sở Tư pháp Hà Tĩnh;
  • - VKSND khu vực 2 – Hà Tĩnh;
  • - THADS tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Bị cáo; Đại diện gia đình bị hại;
  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Cơ quan THA hình sự CA tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Lưu: HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trần Quang Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 26/2025/HS-ST ngày 02/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HÀ TĨNH về vi phạm quy định về bán thuốc

  • Số bản án: 26/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về bán thuốc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt Lê Thị Duy 15 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger