|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – NINH BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 258/2025/HNGĐ-ST
Ngày 08-12-2025
Về tranh chấp; “Ly hôn, nuôi con chung
giữa chị Trần Thị Thanh Thúy và anh Bùi Duy Khánh”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Mạnh Hà.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Văn Ngọc.
Ông Trần Văn Thắng.
Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Thanh Hương - Thư ký Toà án khu vực 7 - Ninh Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Thanh Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 216/2025/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2025 về tranh chấp “Ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Thanh T, sinh ngày: 10-9-1994; căn cước công dân số: [...]; nơi thường trú: Số B đường H, phường N, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Số A đường T, phường N, tỉnh Ninh Bình; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Bùi Duy K, sinh ngày: 20-4-1992; căn cước công dân số: [...]; nơi thường trú: Số B đường H, phường N, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Số A đường T, phường N, tỉnh Ninh Bình; có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
-
Tại đơn khởi kiện đề ngày 05-10-2025, bản tự khai ngày 27-10-2025, nguyên đơn chị Trần Thị Thanh T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Bùi Duy K tự nguyện kết hôn có đăng ký kết hôn ngày 28-11-2018 tại Ủy ban nhân dân phường N, thành phố N, tỉnh Nam Định (nay là phường N, tỉnh Ninh Bình). Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống bình thường đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh K ham chơi, rượu chè, quan hệ bất chính bên ngoài, không quan tâm đến gia đình, thường xuyên đi về muộn và còn chơi bời dẫn đến nợ nần, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế và tinh thần của gia đình. Mặc dù hai bên gia đình đã nhiều lần khuyên giải, bản thân chị đã từng rút đơn xin ly hôn vào năm 2022 để tạo cơ hội cho anh K thay đổi nhưng đến nay tình trạng không cải thiện, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn khắc phục được nữa nên chị đề nghị Toà án giải quyết ly hôn với anh Bùi Duy K.
Về con chung: Chị và anh Bùi Duy K có 02 con chung là Bùi Quý Đ, sinh ngày 09-10-2019 và Bùi Khánh V, sinh ngày 19-10-2022. Hiện nay hai con chung đang sống cùng vợ chồng chị tại số A đường T, phường N, tỉnh Ninh Bình. Chị đề nghị Tòa án giao cả hai con chung cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng vì chị là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai con từ bé đến nay.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị đề nghị anh Bùi Duy K cấp dưỡng nuôi hai con chung mỗi con 2.000.000 đồng/tháng kể từ tháng 12/2025 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, có khả năng lao động, tự lập.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Chị và anh K không có tài sản chung và không có công nợ chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
-
Tại bản tự khai ngày 27-10-2025, bị đơn là anh Bùi Duy K trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh xác nhận thời gian, địa điểm đăng ký kết hôn như chị Trần Thị Thanh T trình bày là đúng. Quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hòa hợp bất đồng quan điểm sống và tính cách nên vợ chồng có xảy ra va chạm. Vợ chồng đã cố gắng hàn gắn giải quyết mâu thuẫn nhưng không có kết quả. Nay chị T đề nghị Toà án giải quyết ly hôn, anh xác định vẫn muốn chung sống với chị T để cùng nuôi dạy các con nên anh không đồng ý ly hôn.
Về con chung: Anh và chị Trần Thị Thanh T có 02 con chung là Bùi Quý Đ, sinh ngày 09-10-2019 và Bùi Khánh V, sinh ngày 19-10-2022. Nếu vợ chồng ly hôn anh đồng ý giao cả hai con cho chị T chăm sóc, nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh đồng ý cấp dưỡng nuôi hai con chung mỗi con 2.000.000 đồng/tháng.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản: Anh và chị T không có tài sản chung và không có công nợ chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Tại đơn đề nghị đề ngày 27-10-2025 có xác nhận của địa phương nơi thường trú, chị Trần Thị Thanh T trình bày: Chị và anh K có đăng ký kết hôn vào ngày 28-11-2018 tại Ủy ban nhân dân phường N, thành phố N, tỉnh Nam Định (nay là phường N, tỉnh Ninh Bình). Vợ chồng chung sống một thời gian thì phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể giải quyết được, mục đích hôn nhân không đạt. Vợ chồng có 02 con chung là Bùi Quý Đ, sinh ngày 09-10-2019 và Bùi Khánh V, sinh ngày 19-10-2022.
- Tại biên bản xác minh ngày 19-11-2025 tại phường N, tỉnh Ninh Bình cung cấp: Chị Trần Thị Thanh T và anh Bùi Duy K có nơi thường trú tại số B đường H, phường N, tỉnh Ninh Bình. Chị T và anh K đăng ký kết hôn ngày 28-11-2018 tại Ủy ban nhân dân phường N, thành phố N, tỉnh Nam Định (nay là phường N, tỉnh Ninh Bình). Anh chị có hai con là Bùi Quý Đ, sinh ngày 09-10-2019 và Bùi Khánh V, sinh ngày 19-10-2022 hiện nay đang sinh sống cùng chị T và anh K. Quá trình chung sống tại địa phương vợ chồng chị T và anh K có xảy ra mâu thuẫn nhưng địa phương không nắm được nguyên nhân mâu thuẫn của anh chị. Địa phương đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
-
5. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định pháp luật về nhiệm vụ, quyền hạn tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án thẩm phán đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ theo Điều 97 Bộ luật tố tụng dân sự.
Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Thư ký phiên toà đã tuân thủ đúng nhiệm vụ quyền hạn theo quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự
Về việc giải quyết vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy mâu thuẫn giữa chị Trần Thị Thanh T và anh Bùi Duy K đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị Thanh T.
- Về con chung: Căn cứ vào các quy định tại Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình giao chị Trần Thị Thanh T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục 02 con chung là Bùi Quý Đ, sinh ngày 09-10-2019 và Bùi Khánh V, sinh ngày 19-10-2022.
Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của anh Bùi Duy K về việc cấp dưỡng nuôi con chung mỗi con là 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, có khả năng lao động, tự lập.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Đương sự phải chịu án phí ly hôn và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
1.1 Về thẩm quyền giải quyết: Chị Trần Thị Thanh T có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn và nuôi con chung với anh Bùi Duy K, xét thấy tranh chấp giữa chị Trần Thị Thanh T và anh Bùi Duy K là tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Bùi Duy K có nơi thường trú: Số B đường H, phường N, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Số A đường T, phường N, tỉnh Ninh Bình nên căn cứ Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân khu vực 7- Ninh Bình.
1.2 Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn là chị Trần Thị Thanh T, bị đơn là anh Bùi Duy K đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; vì vậy Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị Trần Thị Thanh T và anh Bùi Duy K.
[2] Về nội dung vụ án:
2.1 Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Thanh T và anh Bùi Duy K kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 28-11-2018 tại Ủy ban nhân dân phường N, thành phố N, tỉnh Nam Định (nay là phường N, tỉnh Ninh Bình) nên là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, không hoà hợp về tính cách nên thường xuyên xảy ra va chạm. Anh chị cũng đã cố gắng khắc phục mâu thuẫn nhưng không có kết quả nên mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải tạo điều kiện để vợ chồng khắc phục mâu thuẫn về chung sống đoàn tụ nhưng anh K có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Chị T vẫn giữ nguyên quan điểm đề nghị giải quyết ly hôn với anh K.
Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh K mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 xử cho ly hôn giữa chị Trần Thị Thanh T và anh Bùi Duy K.
2.2 Về con chung: Chị Trần Thị Thanh T và anh Bùi Duy K có 02 con chung là Bùi Quý Đ, sinh ngày 09-10-2019 và Bùi Khánh V, sinh ngày 19-10-2022.
Tại bản tự khai của chị T và anh K cùng có quan điểm sau khi ly hôn giao chị T là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai con chung là Bùi Quý Đ và Bùi Khánh V. Tại phiên toà chị T và anh K vắng mặt nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét các quy định của pháp luật cũng như nguyện vọng của chị T và anh K để giao nuôi con chung đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của các cháu. Xét thấy, chị T đang trực tiếp nuôi dưỡng hai con và có đủ điều kiện để nuôi con nên giao cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả hai con chung là phù hợp với quy định tại các Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Trần Thị Thanh T và anh Bùi Duy K cùng có lời khai thể hiện quan điểm thống nhất, anh K sẽ cấp dưỡng nuôi hai con chung mỗi con 2.000.000 đồng/tháng. Vì vậy Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của anh Bùi Duy K về việc cấp dưỡng nuôi con chung mỗi con là 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, có khả năng lao động, tự lập.
2.3 Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Chị Trần Thị Thanh T và anh Bùi Duy K không có tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; căn cứ khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV thì án phí trong vụ án sẽ được quyết định như sau:
Chị Trần Thị Thanh T là nguyên đơn trong vụ án nên phải nộp toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
Anh Bùi Duy K phải nộp án phí cấp dưỡng nuôi con.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Căn cứ khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Về hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Trần Thị Thanh T và anh Bùi Duy K.
-
Về con chung: Giao chị Trần Thị Thanh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai con chung là Bùi Quý Đ, sinh ngày 09-10-2019 (giới tính: Nam) và Bùi Khánh V, sinh ngày 19-10-2022 (giới tính: Nữ).
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Bùi Duy K cấp dưỡng nuôi hai con chung mỗi con là 2.000.000 đồng/tháng (hai triệu đồng/tháng), kể từ tháng 12/2025 cho đến khi cháu Bùi Quý Đ và Bùi Khánh V đủ 18 tuổi, có khả năng lao động, tự lập.
Chị Trần Thị Thanh T và anh Bùi Duy K vẫn có đầy đủ quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên theo quy định của pháp luật. Không ai được cản trở người không trực tiếp nuôi con thực hiện quyền, nghĩa vụ thăm nom con. Người không trực tiếp nuôi con không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
-
Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Chị Trần Thị Thanh T phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) chị Trần Thị Thanh T đã nộp tại biên lai số 0002092 ngày 23-10-2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình.
- Về án phí cấp dưỡng nuôi con: Anh Bùi Duy K phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con.
-
Quyền kháng cáo: Chị Trần Thị Thanh T và anh Bùi Duy K có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Mạnh Hà |
Bản án số 258/2025/HNGĐ-ST ngày 08/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – NINH BÌNH về ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 258/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
