Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 3- HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 255/2025/HS-ST

Ngày: 19/12/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3- THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thu Hiền

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Kim Dung

Bà Tạ Thị Thà

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Quang – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 3, Thành phố Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Anh- Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 12 năm 2025 tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân khu vực A- thành phố Hà Nội và điểm cầu thành phần tại trại tạm giam số 2- Công an Thành phố H xét xử sơ thẩm công khai, trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 273/2025/TLST-HS ngày 01/12/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 276/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:

Bùi Đức T –Sinh năm 1985, tại Hà Nội; Nơi thường trú: P nhà E tập thể A Đ, phường B, Thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Huấn C và bà Nguyễn Thị B; vợ đã ly hôn, có một con sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: không. Về nhân thân: Năm 2001, công an quận H, thành phố Hà Nội xử phạt cảnh cáo về hành vi cướp giật tài sản (đã hết thời hiệu). Bản án số 109/2008/HSST ngày 07/5/2008, Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 2 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/10/2009 (đã xóa án tích). Bản án số 02/2010/HSST ngày 14/10/2010 Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội xử phạt 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/12/2012 (đã xóa án tích). Bản án số 135/2022/HSST ngày 17/5/2022 Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội xử phạt 20 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/9/2023 (đã xóa án tích). Năm 2024 cai nghiện tự nguyện trong thời gian từ ngày 04/9/2024 đến ngày 04/3/2025. (Theo D chỉ bản số 3247 do công an thành phố H lập ngày 05/10/2025); Bị cáo bị tạm giữ ngày 24/9/2025, tạm giam ngày 03/10/2025. Bị cáo có mặt tại điểm cầu thành phần, trại tạm giam số 2- Công an Thành phố H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bùi Đức T là đối tượng nghiện ma túy từ năm 2007. T đã bị ba lần kết án về hành vi phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 04/9/2024 T đi cai nghiện tự nguyện tại cơ sở cai nghiện ma túy số B Hà Nội. Ngày 04/3/2025 hoàn thành cai nghiện ma túy tự nguyện tại cơ sở cai nghiện. Hiện nay Bùi Đức T trong diện quản lý sau cai nghiện theo quyết định số 79/QĐ-UBND ngày 22/4/2025 của UBND phường Đ, quận H, Thành phố Hà Nội (nay là phường B, Thành phố Hà Nội), thời hạn quản lý đến ngày 22/4/2026.

Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 16 giờ ngày 22/9/2025, T đi bộ một mình đến khu vực đầu ngõ B phố K, phường H, Thành phố Hà Nội để tìm mua ma túy, mục đích sử dụng cho bản thân. Tại đây, T gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 150.000 đồng ma túy “đá”. Sau khi T trả tiền, người đàn ông đưa lại cho T một túi nilong màu trắng kích thước khoảng (1x1)cm bên trong chứa tinh thể màu trắng. T cất giấu ma túy vừa mua được trong lòng bàn tay trái rồi đi bộ về nhà sử dụng. Tại nhà, T tự chế coóng bằng chai nước, sau đó đốt, hít ma túy vào cơ thể. T đã sử dụng hết số ma túy mua được, sau đó vứt coóng tự chế vào thùng rác ngoài đường. Khoảng 04 giờ sáng ngày 24/9/2025, khi T đang đứng trước số nhà I phố T, phường B, thành phố Hà Nội, tổ công tác công an phường B đang làm nhiệm vụ phát hiện T có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Tại chỗ, T tự giác khai nhận vừa sử dụng ma túy Methamphetamine. Ngày 24/9/2025, trạm y tế phường B, Thành phố Hà Nội xét nghiệm ma túy trong nước tiểu đối với T, kết quả thể hiện: dương tính với Methamphetamine. Cơ quan điều tra đã khám xét chỗ ở của T nhưng không phát hiện và thu giữ đồ vật gì liên quan đến hành vi phạm tội.

Tại kết luận giám định số 6566/KL-KTHS ngày 01/10/2025 của Phòng K công an thành phố H kết luận: trong mẫu nước tiểu của Bùi Đức T thu ngày 24/9/2025 có tìm thấy ma túy loại Methamphetamine

Tại cơ quan điều tra, Bùi Đức T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Tại bản cáo trạng số 57/CT-VKS ngày 27/11/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3- Thành phố Hà Nội truy tố Bùi Đức T về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a- Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025.

Tại phiên toà:

  • *Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3- Hà Nội đã truy tố, ăn năn, hối cải đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
  • *Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3- Hà Nội giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:
    • +Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 47-Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo từ 26 tháng đến 30 tháng tù.
    • +Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội: Bùi Đức T là đối tượng nghiện ma túy đang trong thời hạn quản lý sau cai nghiện ma túy theo quy định của Luật phòng, chống ma túy đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy loại Methamphetamine tại nhà riêng của T tại phòng 110 nhà E2 tập thể A Đ, phường B, Thành phố Hà Nội ngày 22/9/2025. Ngày 24/9/2025, kết quả xét nghiệm mẫu nước tiểu đối với T thể hiện có tìm thấy ma túy loại Methamphetamine. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định hành vi của Bùi Đức T đã phạm vào tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 256a- Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3, Thành phố Hà Nội truy tố bị cáo ra xét xử theo tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên là có căn cứ.

[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51- Bộ luật hình sự. Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Từ những nhận định trên, xét bị cáo có nhân thân xấu đã được cải tạo giáo dục nhiều lần về hành vi phạm tội về ma túy tuy nhiên không sửa chữa sai lầm nên cần áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[5] Đối với đối tượng đã bán ma túy cho T: T khai không biết tên tuổi, địa chỉ của đối tượng. Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng chưa làm rõ nhân thân lý lịch của đối tượng, khi nào xác minh, làm rõ sẽ tiến hành xử lý sau.

[6]Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại Điều 136 - Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

[7]Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, 333- Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2025.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38- Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025.

  1. Về tội danh: Tuyên bố Bùi Đức T phạm tội "Sử dụng trái phép chất ma túy".
  2. Về hình phạt: Xử phạt Bùi Đức T 24 (hai bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 24/9/2025.
  3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 - Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: bị cáo Bùi Đức T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333- Bộ luật tố tụng Hình sự: Bị cáo Bùi Đức T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
  5. Về việc thi hành án: Áp dụng Điều 26 Luật thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định của tòa án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo, những người tham gia tố tụng;
  • - Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3-Hà Nội;
  • - Cơ quan thi hành án hình sự- TP Hà Nội;
  • - Phòng thi hành án dân sự khu vực 3- Hà Nội;
  • - Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội ;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội,
  • - Lưu HSVA; VP

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

Trần Thị Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 255/2025/HS-ST ngày 19/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3- THÀNH PHỐ HÀ NỘI về sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 255/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3- THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Đức T bị truy tố tội sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger