Hệ thống pháp luật

TÒA PHÚC THẨM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 254/2025/DS-PT

Ngày: 15/12/2025

“Tranh chấp giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy Giấy CNQSD đất”

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Xuân Trọng;
Các Thẩm phán: Ông Điều Văn Hằng;
Bà Hoàng Thị Bích Hải.

Thư ký phiên tòa: Ông Phan Nhật Phong - Thư ký viên.

Đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Vũ Đức M, Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 15 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án dân sự thụ lý số 36/TLPT-DS ngày 12 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”, do có kháng cáo của bị đơn đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 120/2024/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 6389/2025/QĐ-PT ngày 01 tháng 12 năm 2025 giữa:

* Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L (tên gọi khác: Phan Thị Q), sinh năm 1930; Địa chỉ: Xóm P, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An (nay là xã H, tỉnh Nghệ An); Vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Hoàng Phương M1, sinh năm 1997 – Chuyên viên pháp lý và ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1985 - Luật sư thuộc Văn phòng L1 và cộng sự thuộc Đoàn luật sư tỉnh N; Địa chỉ: Số B đường N, phường V, tỉnh Nghệ An; Bà M1 vắng mặt, ông D có mặt.

* Bị đơn: Anh Phan Văn Q1, sinh năm 1976 và chị Đặng Thị C, sinh năm 1980; Cùng địa chỉ: Xóm P, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An (nay là xã H, tỉnh Nghệ An); Đều vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Dương Đức T, sinh năm 1966; địa chỉ: Khối M, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An (nay là phường T, tỉnh Nghệ An); Có mặt.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Nghệ An (Kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng là Ủy ban nhân dân xã H, tỉnh Nghệ An); Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ, nguyên đơn bà Nguyễn Thị L (tên gọi khác: Phan Thị Q) và đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thống nhất trình bày:

Bà Nguyễn Thị L và ông Phan Văn Q2 kết hôn với nhau năm 1948. Sau khi kết hôn vợ chồng bà được Nhà nước cấp cho thửa đất để ở tại xóm B (nay là xóm P), huyện H, tỉnh Nghệ An. Năm 1982, chồng bà chết. Năm 1983, bà L được Hợp tác xã cấp thêm thửa đất nông nghiệp bên cạnh thửa đất ở. Hiện nay, thửa đất nông nghiệp này là thửa đất số 424, tờ bản đồ số 27, diện tích 312,4m² thuộc xóm P, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An. Sau khi được cấp thửa đất nông nghiệp này thì bà L đã sử dụng để trồng rau và hoa màu. Năm 2017, bà L đã chia thửa đất ở của bà cho 03 người con trai (trong đó có anh Phan Văn Q1), còn thửa đất nông nghiệp này bà L vẫn sử dụng và chưa chia cho ai. Tuy nhiên, hiện nay con trai út là Phan Văn Q1 đã tự ý xây bờ tường xung quanh thửa đất và kê khai để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất này của bà L. Qua tìm hiểu thì được biết để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất này thì anh Q1 đã làm giả giấy tặng cho đất ngày 02/8/1999. Thực tế, bà L chưa bao giờ tặng cho hay chuyển nhượng thửa đất này cho vợ chồng anh Q1. Bà L không biết chữ và giấy tặng cho ngày 02/8/1999 không phải là chữ ký, chữ viết của bà L và quá trình cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh Q1 thì UBND xã H và UBND huyện H cũng không thông báo gì cho bà L được biết. Lợi dụng việc được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên hiện nay anh Q1 đã xâm chiếm luôn thửa đất này để sử dụng và xây tường rào trên thửa đất có chiều cao là 1,5m và chiều dài là 20m.

Thửa đất này là của bà L nhưng anh Q1 đã giả mạo hồ sơ giấy tờ để được UBND huyện H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CY 140352 ngày 20/10/2020 thể hiện tại thửa đất số 424, tờ bản đồ số 27, diện tích 287m² thuộc xóm P, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An mang tên ông Phan Văn Q1 - bà Đặng Thị C và hiện nay anh Q1 xây bờ tường và sử dụng thửa đất là trái quy định pháp luật và xâm phạm nghiêm trọng đến quyền lợi của bà.

Tuy nhiên, sau khi xem xét các tài liệu, lời khai và yêu cầu của các bên liên quan trong vụ án và tại buổi thẩm định, định giá ngày 17/09/2024 thì bà L xin sửa đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện đề nghị Toà án giải quyết như sau:

- Tuyên buộc ông Phan Văn Q1 phải tháo, dỡ tường rào ở phía Bắc thửa đất số 424, tờ bản đồ 27 giáp với thửa số 2469, tờ bản đồ 27 có chiều dài 13,74m, chiều cao 1,5m cùng với móng bờ tường xâu đá hộc có chiều rộng 0,9m, chiều cao 1m và phá, dỡ phần móng ở phía Tây thửa đất 424, tờ bản đồ 27 có chiều dài 16,9m, chiều rộng 0,9m, cao 1m. Bên cạnh đó, di dời, thu hoạch toàn bộ cây trồng gắn liền với đất (bao gồm cây trồng sau: 09 cây ổi có quả, 02 cây bưởi có quả, 01 cây cóc, khoảng 20 cây chuối có quả, 10 cây chuối chưa có buồng, 01 cây khế, 01 cây sung, rau khoai lang có diện tích trồng 20m², rau các loại có diện tích trồng 20m², 100 bụi tam thất). Đồng thời, trả lại cho bà một phần thửa đất số 424, tờ bản đồ 27, có diện tích 219,2m² thuộc xóm P, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An, hiện anh Nguyễn Văn Q3 và chị Đặng Thị C đang sử dụng. Sau khi thẩm định cho thấy thửa đất này có một phần bà L đang sử dụng nên nguyên đơn rút một một yêu cầu khởi kiện đối với diện tích đất 93,2m² (chỉ yêu cầu anh Q3 chị C trả lại 219,2m²).

- Tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CY 140352 do UBND huyện H cấp ngày 20/10/2020 cho ông Phan Văn Q1 và bà Đặng Thị C tại thửa đất số 424, tờ bản đồ 27, diện tích 278m² (diện tích thực tế là 312,4m²) thuộc xóm P, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn anh Phan Văn Q1 và chị Đặng Thị C trình bày:

Bố mẹ anh Phan Văn Q1 là ông Phan Văn Q2 (đã mất năm 1982) và bà Nguyễn Thị L (sinh năm 1930) sinh được 08 người con (06 con trai và 02 con gái). Anh trai cả là Phan Văn T1 sinh năm 1953, hiện trú tại: Xóm P, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An; chị gái thứ hai là Phan Thị H (không nhớ rõ năm sinh), hiện trú tại: huyện N, tỉnh Hà Tĩnh (không nhớ cụ thể địa chỉ nhà); anh trai thứ ba là Phan Văn M2 sinh năm 1958, hiện trú tại: Xóm P, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An; chị gái thứ tư là Phan Thị T2 (không nhớ rõ năm sinh), hiện trú tại: Xóm P, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An; anh trai thứ năm là Phan Văn Bình S năm 1966, hiện trú tại: Xóm P, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An; anh trai thứ sáu là Phan Văn D1 (không nhớ rõ năm sinh), hiện trú tại: Xóm P, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An; anh trai thứ bảy là Phan Văn H1 (không nhớ rõ năm sinh), hiện trú tại: Xóm P, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An; con trai út là anh Phan Văn Q1. Thửa đất số 424, tờ bản đồ số 27 tại xóm P, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An được cấp cho vợ chồng anh Q1, chị C ngày 20/10/2020, số giấy chứng nhận QSDĐ là CY 140352. Thửa đất này trước đây là ao hồ hoang hóa. Năm 1998, mẹ anh (bà L) có thả một số vịt để nuôi, chứ không nhận quản lý sử dụng vì sợ phải đóng thuế. Năm 1999, anh lấy vợ thì về ở chung với mẹ anh (bà L). Vợ chồng anh đã đứng ra trả một số nợ cho bà L nên vào ngày 02/8/1999, bà L đã đồng ý tặng cho vợ chồng anh thửa đất trên và có lập thành văn bản đề “Giấy tặng cho”. Vì mẹ anh không biết đọc và chỉ viết nguệch ngoạc đôi chữ nên chị C (vợ anh Q1) đã viết giấy tặng cho này. Rồi bà L điểm chỉ tay vào giấy tặng cho và trước khi tặng cho thì bà L có nói chuyện này với các anh chị bà ở trong nhà và không có ai phản đối việc này. Sau đó thì vợ chồng anh bắt đầu san lấp ao từng tí một để chăn nuôi gia súc, trồng trọt hoa màu. Đến năm 2004 thì vợ chồng anh đã san lấp hết toàn bộ ao và xây tường bao quanh. Anh Q1 và chị C vẫn sử dụng ổn định thửa đất để trồng trọt, chăn nuôi cho đến năm 2020 thì vợ chồng anh được cấp bìa.

Nay nguyên đơn bà Nguyễn Thị L khởi kiện đề nghị Tòa án buộc vợ chồng anh Q1, chị C phải tháo, dỡ tường rào ở phía Bắc thửa đất số 424, tờ bản đồ 27 giáp với thửa số 2469, tờ bản đồ 27 có chiều dài 13,74m và phá, dỡ phần móng ở phía Tây thửa đất 424, tờ bản đồ 27 có chiều dài 16,9m. Bên cạnh đó, di dời, thu hoạch toàn bộ cây trồng gắn liền với đất (bao gồm cây trồng sau: 09 cây ổi có quả, 02 cây bưởi có quả, 01 cây cóc, khoảng 20 cây chuối có quả, 10 cây chuối chưa có buồng, 01 cây khế, 01 cây sung, rau khoai lang có diện tích trồng 20m², rau các loại có diện tích trồng 20m², 100 bụi tam thất). Đồng thời, trả lại cho bà L một phần thửa đất số 424, tờ bản đồ 27, có diện tích 219,2m² thuộc xóm P, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An, hiện anh Nguyễn Văn Q3 và chị Đặng Thị C đang sử dụng. Đồng thời yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CY 140352 do UBND huyện H cấp ngày 20/10/2020 cho vợ chồng tại thửa đất số 424, tờ bản đồ số 27, diện tích 287m² thuộc xóm P, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An thì anh Q3, chị C không đồng ý. Mẹ anh là bà Nguyễn Thị L đã tặng cho vợ chồng anh thửa đất số 424, tờ bản đồ số 27, diện tích 287m² thuộc xóm P, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An và thửa đất cũng đã dược UBND huyện H cấp đúng quy trình, thủ tục nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không có căn cứ.

- Tại bản tự khai đề ngày 26 tháng 12 năm 2022, người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan UBND huyện H trình bày : Ông Phan Văn Q1 và bà Đặng Thị C được UBND huyện H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CY140352 ngày 20/10/2020 tại thửa đất số 424, tờ bản đồ số 27 (Bản đồ địa chính xã H) tại xóm P, xã H, huyện H với diện tích 287m² vào mục đích đất trồng cây hằng năm.

Thửa đất ông Phan Văn Q1 và bà Đặng Thị Chuyên đề N cấp giấy thể hiện trên bản đồ 299 là thửa đất số 582, tờ bản đồ số 02, trên sổ mục kê 299 thửa 582, tờ bản đồ số 02 thể hiện mục đích sử dụng đất là đất ao nhưng không thể hiện chủ sử dụng đất là đất của ai. Tuy nhiên, tại giấy xác nhận nguồn gốc sử dụng đất, phiếu ý kiến khu dân cư và đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận, UBND xã H đã xác nhận thửa đất 582, tờ bản đồ số 02 có nguồn gốc sử dụng đất là đất của bà Phan Thị Q (mẹ ông Phan Văn Q1) sử dụng từ năm 1998; ông Phan Văn Q1 sử dụng đất từ năm 1999 đến thời điểm được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Thửa đất trước 01/01/2018 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần nào.

Ngày 02/8/1999, bà Phan Thị Q đã có giấy tặng cho quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 582, tờ bản đồ số 02, bản đồ 299 xã H cho ông Phan Văn Q1. Giấy viết tay này được bà Phan Thị Q ký tên và điểm chỉ.

Ngày 05/8/2020, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai đã có Thông báo số 116/TB-CNVPĐKĐĐ về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Phan Văn Q1 và đã niêm yết tại UBND xã H 30 ngày, đồng thời gửi cho bà Phan Thị Q được biết. Sau khi niêm yết đủ 30 ngày, bà Phan Thị Q và những người khác không có ý kiến gì.

Khoản 1 Điều 82 Nghị định 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định về thủ tục đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với trường hợp đã chuyển quyền sử dụng đất nhưng chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền theo quy định: “Trường hợp người đang sử dụng đất do nhận chuyển nhượng, nhận thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất trước ngày 01 tháng 01 năm 2018 mà đất đó chưa được cấp Giấy chứng nhận và không thuộc trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều này thì người nhận chuyển quyền sử dụng đất thực hiện thủ tục đăng ký đất đai, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất lần đầu theo quy định của Luật Đất đai và quy định tại Nghị định này mà không phải làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất; cơ quan tiếp nhận hồ sơ không được bắt buộc người nhận chuyển quyền sử dụng đất nộp hợp đồng, văn bản chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật”. Từ những lý do nêu trên, ông Phan Văn Q1 và bà Đặng Thị C đủ điều kiện để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 582, tờ bản đồ số 02, bản đồ 299 xã H.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 120/2024/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã quyết định:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 37, điểm c khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 34, Điều 147, Điều 157, Điều 227, Điều 228, Điều 244, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 32 Luật Tố tụng hành chính; Điều 463, Điều 691 Bộ luật Dân sự 1995; Điều 117, 166 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 203 Luật Đất đai năm 2013; khoản 3 Điều 26 NQ 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội 14 quy định về án phí, lệ phí của Tòa án. Tuyên xử:

  1. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc ông Phan Văn Q1 và bà Đặng Thị C phải trả lại cho bà Nguyễn Thị L diện tích đất 93,2m² đất thuộc thửa đất số 424, tờ bản đồ 27, xóm P, xã H, huyện H, Nghệ An.
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L.
  3. Buộc ông Phan Văn Q1 và bà Đặng Thị C phải trả lại cho bà Nguyễn Thị L diện tích đất 219,2m² tại thửa đất số 424, tờ bản đồ 27 có địa chỉ tại xóm P, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An (Là một phần của thửa đất hiện nay đã được UBND huyện H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CY 140352 cấp ngày 20/10/2020 cho ông Phan Văn Q1 và bà Đặng Thị C).
  4. Nguyên đơn bà Nguyễn Thị L được sở hữu tường rào ở phía Bắc thửa đất 424, tờ bản đồ 27 giáp với thửa số 2469, tờ bản đồ 27 có chiều dài 13,74m và phần móng ở phía Tây thửa đất 424, tờ bản đồ 27 có chiều dài 16,9m; các loại cây trồng gắn liền với đất gồm cây trồng sau: 09 cây ổi có quả, 02 cây bưởi có quả, 01 cây cóc, 01 cây na xiêm, khoảng 20 cây chuối có quả, 10 cây chuối chưa có buồng, 01 cây khế, 01 cây sung, rau khoai lang có diện tích trồng 20m², rau các loại có diện tích trồng 20m², cây sả diện tích trồng 7m², cây sắn diện tích 20m².

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị L phải trả cho bị đơn anh Phan Văn Q1 và chị Đặng Thị Chuyên trị G tài sản là móng tường rào phía Tây thửa đất, hàng rào phía Bắc thửa đất; các loại cây ăn quả, rau các loại tổng số tiền là 14.790.000 đồng.

  1. Về quyền yêu cầu thi hành án: Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
  2. Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật.

Bị đơn ông Phan Văn Q1 và bà Đặng Thị C tự thu hoạch 100 bụi tam thất trên thửa đất tranh chấp.

  1. Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CY 140352 do UBND huyện H cấp ngày 20/10/2020 cho ông Phan Văn Q1 và bà Đặng Thị C tại thửa đất số 424, tờ bản đồ 27, diện tích 312,4m² thuộc xóm P, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An.

Các đương sự có trách nhiệm liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyên đề lập thủ tục kê khai, đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, điều chỉnh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp (hoặc một phần diện tích trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp).

(Đặc điểm chi tiết phần đất trả lại có sơ đồ kèm theo).

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí sơ thẩm và thông báo quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Ngày 08/10/2025, bị đơn anh Phan Văn Q1 có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đại diện theo ủy quyền của bị đơn anh Phan Văn Q1 giữ nguyên nội dung kháng cáo và cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết vụ án khi chưa đủ điều kiện để thụ lý, giải quyết vượt quá yêu cầu khởi kiện và không đúng quy định của pháp luật, có những vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án.

Đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội có quan điểm: Sau khi phân tích tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện theo ủy quyền của bị đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo nhưng không xuất trình được tài liệu có thể làm thay đổi nội dung vụ án nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị đơn. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn và giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên đại diện cho Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn anh Phan Văn Q1 có đơn kháng cáo trong thời hạn luật định, phù hợp với quy định tại các Điều 271, 272, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự nên kháng cáo là hợp lệ, được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[1.2] Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt nhưng có mặt người đại diện theo ủy quyền; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy sự vắng mặt của các đương sự không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án; việc tiếp tục giải quyết vụ án như đề nghị của đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.3] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ vào đơn khởi kiện và các tài liệu, ý kiến của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã áp dụng khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm c khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 34 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 32 Luật Tố tụng hành chính để thụ lý, giải quyết vụ án và xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” là đúng quy định pháp luật.

[2] Xét kháng cáo của bị đơn anh Phan Văn Q1, Hội đồng xét xử thấy những nội dung trong đơn kháng cáo đã được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét, cụ thể tại bản án sơ thẩm đã nhận định:

[2.1] Về nguồn gốc phần diện tích đất đang tranh chấp:

Theo sổ mục kê 299 thì thửa đất số 582, tờ bản đồ số 02, diện tích 330m² thể hiện mục đích sử dụng là đất ao, không thể hiện chủ sử dụng thửa đất. Theo bản đồ địa chính nay là thửa số 424, tờ bản đồ số 27, diện tích 287m². Năm 2020, UBND huyện H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh Phan Văn Q1 và chị Đặng Thị C. Hiện nay, thửa đất đang do vợ chồng bị đơn anh Q1, chị C, bà L (Q) quản lý và sử dụng.

Quá trình giải quyết vụ án, bà L (Q) trình bày, thửa đất đang tranh chấp là thửa đất nông nghiệp được Hợp tác xã cấp cho bà năm 1983, bà chưa chuyển nhượng hay tặng cho bất kỳ ai.

Theo bị đơn trình bày thì thửa đất đang tranh chấp có nguồn gốc là của bà L (Q) sử dụng để nuôi thả vịt chứ không nhận quản lý, sử dụng.

Theo giấy xác nhận nguồn gốc và thời gian sử dụng đất ngày 10/01/2020 của UBND xã H thì thửa đất đang tranh chấp có nguồn gốc là của bà Phan Thị Q sử dụng từ năm 1998, sau đó anh Phan Văn Q1 sử dụng từ năm 1999 đến nay. Như vậy, có căn cứ xác định nguồn gốc thửa đất đang tranh chấp có nguồn gốc là của nguyên đơn bà Phan Thị Q.

Căn cứ vào bản đồ 299, sổ mục kê và ý kiến của UBND huyện H thì bà Nguyễn Thị L và ông Phan Văn Q2 kết hôn với nhau năm 1948. Sau khi kết hôn, vợ chồng bà L được Nhà nước cấp cho thửa đất để ở tại xóm B (nay là xóm P), huyện H, tỉnh Nghệ An. Năm 1982, chồng bà Nguyễn Thị L chết. Năm 1983, bà Nguyễn Thị L được Hợp tác xã cấp thêm thửa đất nông nghiệp bên cạnh thửa đất ở. Hiện nay, thửa đất nông nghiệp này là thửa đất số 424, tờ bản đồ số 27, diện tích 287m² thuộc xóm P, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An. Sau khi được cấp thửa đất nông nghiệp này thì bà Nguyễn Thị L đã sử dụng để trồng rau và hoa màu.

Ngày 20/10/2020, UBND huyện H cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CY 140352 ngày 20/10/2020 thửa đất số 424, tờ bản đồ số 27, diện tích 287m² thuộc xóm P, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An mang tên ông Phan Văn Q1 và bà Đặng Thị C.

Quá trình thu thập chứng cứ và hòa giải, các đương sự đều thừa nhận nguồn gốc thửa đất đang tranh chấp là của bà Nguyễn Thị L sử dụng sau năm 1983 (Sau thời điểm chồng bà L là ông Phan Văn Q2 chết là năm 1982) nên có căn cứ xác định nguồn gốc tài sản là của bà Nguyễn Thị L, không phải là tài sản chung của bà L và ông Q2. Các đương sự đều thừa nhận từ năm 1983, bà L sử dụng thửa đất trên.

[2.2]. Xét văn bản “Giấy tặng cho” đề ngày 02/8/1999:

- Về hình thức: Văn bản được viết tay, có dấu điểm chỉ, ghi Phan Thị Q; không được chứng thực của cơ quan có thẩm quyền, không phù hợp với quy định của pháp luật về hợp đồng bắt buộc phải công chứng, chứng thực cơ quan có thẩm quyền theo quy định tại Điều 691 Bộ luật Dân sự năm 1995.

Quá trình giải quyết vụ án, bà L trình bày bà chưa bao giờ tặng cho hay chuyển nhượng thửa đất này cho vợ chồng anh Q1, bà cũng không điểm chỉ vào văn bản.

Anh Q1, chị C trình bày sau khi anh chị kết hôn thì anh trả nợ cho bà L, nên bà L đã tặng cho vợ chồng anh thửa đất nhưng bà L không thừa nhận, anh Q1 không có tài liệu chứng cứ chứng minh nên không có cơ sở chấp nhận. Mặt khác, quá trình giải quyết anh Q1, chị C đều trình bày do bà L không biết đọc và chỉ viết được nguệch ngoạch đôi chữ nên chị C đã viết giấy tặng cho và viết Phan Thị Q (tức bà Nguyễn Thị L), rồi đưa cho bà L điểm chỉ tay, nhưng bà L không thừa nhận, dấu vân tay tại văn bản không thể hiện là dấu vân tay ngón nào của bà L và không ai yêu cầu giám định nên không có căn cứ xác định bà L đã điểm chỉ vào giấy tặng cho đất.

- Về nội dung: Giấy tặng cho thể hiện “Hôm nay ngày 2/8/1999 tại nhà bà Phan Thị Q, xóm P, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An. Bà đã tặng cho con trai là Phan Văn Q1 và con dâu là Đặng Thị C được quyền sử dụng thửa đất của bà diện tích là 290m². Thửa đất này bà đã sử dụng từ trước năm 1998 cho đến nay, không có tranh chấp gì với các hộ liền kề ...”. Nội dung trên của văn bản không thể hiện cụ thể về số thửa đất, tờ bản đồ, tứ cận cũng như vị trí của thửa đất giữa nguyên đơn và bị đơn đang giao dịch về hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất.

- Về thực hiện hợp đồng: Căn cứ vào tài liệu có trong vụ án thấy rằng, sau thời điểm văn bản “Giấy tặng cho” được lập ra, anh Q1 và chị C đã sử dụng, canh tác trên thửa đất. Cuối năm 2006, anh Q1 xây dựng tường bao quanh thửa đất.

Theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ thì hiện nay trên thửa đất một phần do bà L quản lý sử dụng. Một phần do vợ chồng anh Q1, chị C quản lý sử dụng.

Theo Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự như sau:

“1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;

b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;

c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

2. Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định”.

Trong vụ án này, văn bản “Giấy tặng cho” không thể hiện được ý chí tự nguyện của nguyên đơn trong việc tặng cho quyền sử dụng đất cho bị đơn, bởi lẽ nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận bà L không biết chữ và giấy tặng cho không phải chữ viết của bà L. Trong quá trình lập văn bản chỉ có bị đơn và nguyên đơn, không có sự tham gia của người chứng kiến. Như vậy, văn bản trên không có hiệu lực pháp lý về hình thức, nội dung cũng như chủ thể giao dịch. Không có đủ cơ sở xác định nguyên đơn bà L tặng cho quyền sử dụng đất thông qua văn bản “Giấy tặng cho” ngày 02/8/1999.

[2.3]. Đối với yêu cầu anh Phan Văn Q1, chị Nguyễn Thị C1 tháo dỡ tài sản trả lại thửa đất có diện tích 287m² cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị L, Hội đồng xét xử thấy:

Theo Biên bản thẩm định và định giá ngày 24/7/2023 và ngày 17/9/2024 thể hiện diện tích theo hiện trạng của thửa đất tranh chấp là 314,4m², tăng 25,4m² so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Theo Báo cáo số 686/UBND ngày 20/9/2024 của UBND xã H diện tích tăng là do tại thời điểm xác định mốc ranh giới thửa đất để đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã xác nhận sai ranh giới thửa đất dẫn đến phần diện tích tăng, thửa đất không lấn chiếm.

Hiện trạng sử dụng đất hiện nay: Diện tích đất 93,2m² do bà Nguyễn Thị L sử dụng còn diện tích đất 219,2m² do anh Q1 sử dụng.

Phía Bắc của thửa đất có bờ tường dài 13,74m; phía Tây có một phần móng có chiều dài 16,9m đều do bị đơn xây dựng năm 2006. Trên thửa đất tranh chấp bị đơn đã trồng các loại cây, gồm: 09 cây ổi có quả, 02 cây bưởi có quả, 01 cây cóc, 01 cây na xiêm, khoảng 20 cây chuối có quả, 10 cây chuối chưa có buồng, 01 cây khế, 01 cây sung, rau khoai lang có diện tích trồng 20m², rau các loại có diện tích trồng 20m², cây sả diện tích trồng 7m², cây sắn diện tích 20m².

Ngoài ra, hiện trạng thửa đất còn có diện tích đất ao đổ 219,2m², chiều sâu đắp đất tôn tạo lên 3m được anh Q1, chị C1 đổ đất năm 2006.

Như vậy, hiện nay thửa đất đang do bà L, vợ chồng anh Q1, chị C1 quản lý sử dụng, nên Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L về việc yêu cầu anh Q1, chị C1 trả lại cho nguyên đơn diện tích 219,2m² tại thửa đất số 424, tờ bản đồ số 27 thuộc xóm P, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An là có căn cứ.

[2.4]. Về việc UBND huyện H, tỉnh Nghệ An đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Phan Văn Q1 và bà Đặng Thị C:

Ngày 12/8/2010, UBND huyện đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CY 140352 ngày 20/10/2020 tại thửa đất số 424, tờ bản đồ số 27, diện tích 287m² thuộc xóm P, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An mang tên ông Phan Văn Q1 và bà Đặng Thị C. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã yêu cầu UBND huyện H cho ý kiến về việc UBND huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tuy nhiên UBND huyện đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật.

[2.5]. Đối với yêu cầu Tòa án tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông Phan Văn Q1 và bà Đặng Thị C:

Quá trình giải quyết vụ án, UBND huyện H và Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện H cho rằng họ đã gửi Thông báo số 116/TB-CNVPĐKĐĐ ngày 05/8/2020 đến bà Nguyễn Thị L, nhưng bà L trình bày trong quá trình anh Q1 làm thủ tục đề nghị và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà không nhận được bất kỳ thông báo nào về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh Phan Văn Q1, bà Đặng Thị C. Theo Công văn số 495/UBND ngày 28/6/2024 của UBND xã H thì Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện H không giao cho UBND xã H gửi Thông báo số 116/TB-CNVPĐKĐĐ ngày 05/8/2020 đến bà Nguyễn Thị L nên việc Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện H cho rằng trong quá trình làm thủ tục đã gửi Thông báo số 116/TB-CNVPĐKĐĐ ngày 05/8/2020 cho bà L, không có ai khiếu nại về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cho anh Q1, chị C là không phù hợp.

Mặt khác, như đã phân tích ở trên thửa đất số 424, tờ bản đồ số 27, diện tích 287m² thuộc xóm P, xã H, huyện H có nguồn gốc là của bà Nguyễn Thị L. Thông qua “Giấy tặng cho” ngày 02/8/1999, anh Phan Văn Q1, chị Đặng Thị C đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất số 424, tờ bản đồ số 27, diện tích 287m² thuộc xóm P, xã H, huyện H. Tuy nhiên, văn bản “Giấy tặng cho” ngày 02/8/1999 không đủ điều kiện để đảm bảo hiệu lực pháp luật nên việc UBND xã H và UBND huyện H căn cứ văn bản “Giấy tặng cho” nói trên để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 424, tờ bản đồ số 27, diện tích 287m² thuộc xóm P, xã H, huyện H là không đúng quy định của pháp luật về đất đai. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ Điều 34 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nói trên là đúng quy định.

Như vậy, có đủ căn cứ để khẳng định việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Phan Văn Q1 và bà Đặng Thị C đối với thửa đất trên là trái pháp luật nên cần tuyên hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CY 140352 do UBND huyện H cấp ngày 20/10/2020 cho ông Phan Văn Q1 và bà Đặng Thị C tại thửa đất số 424, tờ bản đồ 27, diện tích 312,4m² thuộc xóm P, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An.

[2.6]. Về tài sản trên phần diện tích đất tranh chấp:

Trên phần diện tích đất tranh chấp có các loại tài sản: Móng và tường rào ở phía Bắc thửa đất 424, tờ bản đồ 27 giáp với thửa số 2469, tờ bản đồ 27 có chiều dài 13,74m và móng ở phía Tây thửa đất 424, tờ bản đồ 27 có chiều dài 16,9m cùng các loại cây trồng sau: 09 cây ổi có quả, 02 cây bưởi có quả, 01 cây cóc, 01 cây na xiêm, khoảng 20 cây chuối có quả, 10 cây chuối chưa có buồng, 01 cây khế, 01 cây sung, rau khoai lang có diện tích trồng 20m², rau các loại có diện tích trồng 20m², cây sả diện tích trồng 7m², cây sắn diện tích 20m², 100 bụi tam thất.

Bị đơn xây dựng bờ tường rào năm 2006, nguyên đơn có biết sự việc và không có hành vi cản trở. Vì vậy cần buộc nguyên đơn bồi thường giá trị tài sản đối với móng tường rào phía Tây và móng, bờ tường rào phía Bắc theo kết quả định giá ngày 17/9/2024, có trị giá là 10.976.000 đồng.

Theo kết quả định giá ngày 24/7/2024 đối với các loại cây trồng trên thửa đất gồm: 09 cây ổi có quả, 02 cây bưởi có quả, 01 cây cóc, 01 cây na xiêm, khoảng 20 cây chuối có quả, 10 cây chuối chưa có buồng, 01 cây khế, 01 cây sung, rau khoai lang có diện tích trồng 20m², rau các loại có diện tích trồng 20m², cây sả diện tích trồng 7m², cây sắn diện tích 20m², có tổng trị giá là 3.814.700 đồng. Xét thấy quá trình bị đơn trồng trọt, bà L có biết vợ chồng anh Q1 trồng các loại cây trên nhưng bà L không có ý kiến gì, các loại cây trồng trên chưa thể thu hoạch nên cần buộc nguyên đơn thanh toán số tiền giá trị cây trồng cho bị đơn số tiền 3.814.700 đồng.

Từ những phân tích trên thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tài liệu có trong hồ sơ và quyết định chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là đúng. Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn anh Phan Văn Q1 không cung cấp thêm được tài liệu nào khác nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của anh Phan Văn Q1. Hội đồng xét xử đồng tình với quan điểm của đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Hà Nội tham gia phiên tòa và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[3]. Án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận anh Phan Văn Q1 phải chịu án phí phúc thẩm dân sự.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Bác kháng cáo của bị đơn anh Phan Văn Q1; giữ nguyên quyết định của Bản án dân sự sơ thẩm số 120/2024/DS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
  2. Về án phí: Anh Phan Văn Q1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được đối trừ số tiền tạm ứng án phí tại Biên lai thu số 0013549 ngày 25/11/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
  3. Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực ngay sau khi tuyên án.

* Nơi nhận:

  • - Viện Công tố và KSXXPT tại Hà Nội;
  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - THADS tỉnh Nghệ An;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Xuân Trọng

CÁC THẨM PHÁN

 

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Điều Văn Hằng

Hoàng Thị Bích Hải

Bùi Xuân Trọng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 254/2025/DS-PT ngày 15/12/2025 của TOÀ PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI về tranh chấp giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy cnqsd đất

  • Số bản án: 254/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy Giấy CNQSD đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 15/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị L - Phan Văn Q1
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger