Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 247/2025/HS-ST

Ngày 23 tháng 12 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: ông Đào Anh Đức

Thẩm phán: bà Trương Thị Anh

Hội thẩm nhân dân: ông Lê Như Hạnh, ông Lê Sỹ Hải, bà Phạm Thị Sơn.

Thư ký phiên toà: bà Trịnh Thu Trang - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hóa

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thu - Kiểm sát viên

Ngày 23 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 233/2025/TLST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 246/2025/QĐXXST- HS ngày 09 tháng 12 năm 2025, đối với bị cáo:

Trần Văn L

Trần Văn L, sinh năm 1986, tại tỉnh Thanh Hóa; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở trước khi bị bắt: tiểu khu B, xã N, tỉnh Thanh Hóa; căn cước công dân số: 038086027599; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Trần Văn L1 (đã chết) và bà Mai Thị H; vợ là Phạm Thị T và có 02 con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • Ngày 06/12/2012 bị Toà án nhân dân huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Đánh bạc”.
  • Ngày 28/8/2023 bị Công an thị trấn N xử phạt hành chính về hành vi “Sử dụng rượu bia gây mất trật tự công cộng”.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 04/10/2024 đến ngày 13/10/2023 áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú, bắt tạm giam ngày 24/12/2024. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo: bà Nguyễn Thị H1, Luật sư, Công ty L2, Đoàn Luật sư tỉnh T; địa chỉ: số G T, phường H, tỉnh Thanh Hóa (có mặt).

Bị hại: anh Nguyễn Ngọc H2, sinh năm 1990

Địa chỉ: Thôn B, xã N, tỉnh Thanh Hóa (có mặt).

Những người làm chứng: anh Phạm Quang H3, anh Trương Văn K, anh Trương Văn T1, anh Mai Văn H4, anh Nguyễn Văn T2 (có mặt anh Nguyễn Văn T2, còn lại đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 01 giờ 20 phút, ngày 02/10/2024, sau khi uống rượu bia, Trần Văn L, Trương Văn K, Trương Văn T1, Phạm Quang H3, Hoàng Đình C, Nguyễn Văn C1, Vũ Quốc N, Nguyễn Ngọc H2, Mai Văn H4, Nguyễn Văn T2 rủ nhau đi hát Karaoke tại quán G1 thuộc Tiểu khu Y, xã N, tỉnh Thanh Hóa.

Khi đến quán hát, nhóm người trên được Hoàng Đức T3 - lễ tân của quán bố trí lên Phòng VIP 202 để hát karaoke. Sau khi hát được khoảng 30 phút, nhìn thấy Mai Văn H4, Nguyễn Văn C1 và Nguyễn Ngọc H2 rủ nhau về thì Trương Văn K đứng dậy đi theo xuống tầng 1 để chào những người này. Sau khi xuống khu vực quầy lễ tân, do không thấy Nguyễn Văn T2 nên Nguyễn Ngọc H2 và Mai Văn H4 quay lại phòng hát để gọi Nguyễn Văn T2 về, thấy vậy Trương Văn K cũng đi theo phía sau lên. Lúc này Trần Văn L đang hát karaoke thì Mai Văn H4 và Nguyễn Ngọc H2 mở cửa đi vào, đến vị trí của Trần Văn L, khoác vai nói chuyện để chào về. Cho rằng những người này giật micro của Trần Văn L nên Trương Văn T1 đi đến và nói H4 không nên làm như thế. Sau đó, giữa T1 và H4 xảy ra lời qua tiếng lại, to tiếng chửi bới, thách thức và T1 đã dùng tay đấm liên tiếp vào đầu, mặt của H4. Thấy vậy, những người đang hát trong phòng đứng dậy can ngăn thì T1 dừng lại. Bực tức vì bị T1 đánh nên Mai Văn H4 đã chửi bới T1. Thấy vậy, Trương Văn K lấy cốc thủy tinh (dùng để uống bia) ở trên bàn và đánh 01 phát vào đầu H4. H4 mở cửa phòng hát đi ra ngoài, K cầm cốc thủy tinh đi theo và dùng cốc đánh nhiều phát vào vùng mặt của H4. Lúc này T1 cũng đi ra, thấy K và H4 đang giằng co thì T1 gạt K ra và xông vào dùng tay trái đấm vào vùng mặt của H4. Sau đó được mọi người can ngăn nên T1 và K dừng lại.

Về phía Trần Văn L, nhìn thấy Trương Văn T1 và Trương Văn K dùng cốc thủy tinh và tay đánh H4 nên cũng cầm 01 cốc thủy tinh trên tay đi đến. Thấy Trần Văn T4 đi từ phòng hát ra bên ngoài và chửi bới thì L đã dùng cốc đánh 01 cái vào vùng đầu T4 (đánh từ phía sau) làm cốc bị vỡ, chỉ còn cầm quai của phần cốc bia còn lại trên tay. Lúc này, Nguyễn Ngọc H2 đang đứng trước cửa phòng hát nhìn thấy L đi ra, vì sợ L tiếp tục đánh H4 nên H2 đi đến can ngăn, đứng đối diện với L ngay trước cửa phòng VIP 202. L đã dùng tay trái túm vào cổ bên phải của H2, đồng thời dùng tay phải đang cầm quai cốc thuỷ tinh (đã bị vỡ, có cạnh sắc) ấn sát vào vùng cổ bên trái của H2 và tấn công bằng cách đẩy mạnh tay phải về phía trước chếch theo hướng từ phải sang trái. Bị tấn công, H2 gập cổ, quay lưng lại thì L tiếp tục dùng tay phải (cầm cốc thuỷ tinh) đánh 01 phát vào vùng gáy phía sau của H2. Ngay sau đó, khi những người xung quanh ngăn cản thì L mới dừng lại.

Nguyễn Văn H5, Trần Văn T4 và Mai Văn H4 đi xuống tầng 1, còn Trần Văn L cầm theo quai cốc thủy tinh bị vỡ đi theo sau. Khi xuống khu vực quầy lễ tân, Nguyễn Văn T2 tiếp tục chửi bới, thách thức nên Trần Văn L cầm quai cốc thủy tinh (đã bị vỡ) xông vào đánh anh Nguyễn Văn T2, anh T2 giơ hai tay lên đỡ nên bị nhiều vết thương ở tay. Sau đó, Trần Văn L về nhà; anh H5, anh T2 và anh H4 được mọi người đưa đến bệnh viện cấp cứu, điều trị.

Nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên ngày 03/10/2024, Trần Văn L đến Công an huyện N đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình.

* Kết quả khám nghiệm hiện trường:

- Hiện trường nơi xảy ra vụ án tại cơ sở kinh doanh karaoke G, ở Tiểu Khu Y, thị trấn N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Tầng 2 của cơ sở kinh doanh có 03 phòng hát được đánh số gồm: VIP 202, VIP 203, VIP 204 và 02 nhà vệ sinh ở phía Tây đối diện nhau. Phòng VIP 202 ở phía Đông, có kích thước (5x6)m, có 01 cửa ra vào (dạng cửa chống khói, chống cháy) kích thước (1,9x0,8)m ở phía T dẫn ra hành lang. Mặt ngoài phía Bắc trên khung cạnh cửa có các vết máu dạng giọt bắn li ti trên diện tích (0,2x0,4)m, vết cao cách mặt đất từ 1,25-1,65m. Bên trong phòng hát có bố trí nội thất như sau:

+ Dọc tường phía Đông, T5, N là hàng ghế da hình chữ U, có kích thước (4x5x4)m, mặt ghế rộng 0,6m, cao 0,5m. Mặt trên đầu Bắc ghế phía Tây có 01 vết máu dạng nhỏ giọt;

+ Giữa phòng có 02 bàn mặt kính có kích thước (1,6x0,7x0,6)m, kê cách nhau 1m và cách đều các ghế 0,7m;

+ Phía Bắc phòng hát ngay phía dưới màn hình chính có 01 loa kích thước (0,6x0,7x0,6)m, bên trên mặt loa để 02 micro không dây, trong đó có 01 chiếc micro mặt ngoài tay cầm bám dính máu;

- Phía cuối hành lang thoát hiểm phía Bắc có 01 thùng nhựa đựng rác hình chóp cụt màu đỏ, mặt trên thùng có đường kính miệng 55cm, đường kính đáy 40cm, cao 60cm, bên trong có 01 túi nilong đen đựng rác. Phát hiện thấy các mảnh thủy tinh vỡ có các kích thước, hình dạng khác nhau trong túi nilong;

- Từ trước cửa vào Phòng VIP 202 dẫn đến khu cầu thang xuống quầy lễ tân, trước hè, sân gạch, lối đi bê tông dưới cổng và đường Lê Thị H6 ngay trước cổng chính có các vết máu đã bị lau chùi, dạng nhỏ giọt lớn.

* Vật chứng của vụ án:

- T6 tại hiện trường: Vết máu bám dính tại mặt ngoài khung cửa thoát hiểm dẫn vào phòng VIP 202, mặt trên ghế da phía Tây trong phòng VIP 202, mặt ngoài tay cầm micro trên mặt loa (đã sử dụng hết trong quá trình giám định); 05 mảnh thủy tinh vỡ của cốc (loại cốc vại uống bia có tay cầm) có nhiều hình dạng, kích thước khác nhau. Vật chứng này được chuyển đến Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa.

- Đối với hung khí của vụ án là 01 cốc thuỷ tinh có quai, hình trụ, bị vỡ phần thân cốc, do Trần Văn L sử dụng đánh anh Nguyễn Ngọc H2 và anh Nguyễn Văn T2, sau đó L vứt ở tầng 1 quán G1. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã tổ chức truy tìm và thông báo truy tìm nhưng không thấy.

* Kết luận giám định số 4093/KL-KTHS ngày 29/10/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận:

- Mẫu được ký hiệu T1 (05 mảnh vỡ thuỷ tinh có hình dạng, kích thước khác nhau) gửi giám định đều có ADN của nhiều người, không tách được kiểu gen riêng biệt của từng người.

- Các mẫu được ký hiệu T2 (vết máu bám dính tại mặt ngoài tay cầm micro trong Phòng VIP 202) và T3 (vết máu bám dính tại mặt ngoài khung cửa thoát hiểm dẫn vào Phòng VIP 202) gửi giám định đều có ADN của Nguyễn Văn T2.

- Mẫu được ký hiệu T4 (vết máu bám dính tại mặt ghế da phía Tây trong Phòng VIP 202) gửi giám định có ADN của một người nam giới (ADN của người nam giới này không trùng với ADN của Mai Văn H4, Nguyễn Văn T2, Trương Văn K, Trương Văn T1, Nguyễn Ngọc H2 và Trần Văn L).

* Hình ảnh Camera:

- Thu giữ: 01 ổ cứng có nhãn hiệu Ahua TechNoLogy lưu trữ dữ liệu video của hệ thống camera tại quán G1. Tại thời điểm thu giữ, kiểm tra bên trong ổ cứng không lưu trữ dữ liệu camera. Ngày 03/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N trưng cầu Phòng K1 Công an tỉnh T phục hồi dữ liệu video lưu trữ trong ổ cứng, kết quả:

- Kết luận giám định số 4008/KL-KTHS ngày 24/10/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận: Tìm thấy 07 (bảy) tệp video trong khoảng thời gian từ 02 giờ 00 phút ngày 02/10/2024 đến 03 giờ 00 phút ngày 02/10/2024 của 01 (một) đầu ghi gửi giám định. Trích xuất một số hình ảnh diễn tả hành động của các đối tượng trong các tệp video đã tìm thấy.

- Kết luận giám định số 3490/KL-KTHS ngày 17/9/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận: Không tìm thấy dấu vết cắt ghép chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong các tệp video lưu trong mẫu vật gửi giám định.

* Thương tích của bị hại Nguyễn Ngọc H2:

- Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể Nguyễn Ngọc H2 hồi 02 giờ 40 phút, ngày 02/10/2024 tại Bệnh viện đa khoa huyện N, thể hiện:

+ 01 vết thương vùng cổ bên trái, kích thước (8x2)cm, bờ mép nham nhở.

- Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 7684/KL-KTHS ngày 10/10/2024 của V - Bộ C2, kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Ngọc H2 tại thời điểm giám định tối thiểu là 7%.

- Kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 8439/KL-KTHS ngày 02/12/2024 của V - Bộ C2, kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Nguyễn Ngọc H2 tại thời điểm giám định là 16%.

- Kết luận giám định vật gây thương tích số 568/KLVGTT-PYTH ngày 15/9/2025 của Trung tâm P, kết luận:

+ Cơ chế hình thành thương tích: Vết thương vùng cổ bên trái: Do tác động của ngoại lực; được tạo nên bởi vật có cạnh sắc, hoặc vật có cạnh sắc nhọn. Tại thời điểm giám định: Không đủ chứng cứ khoa học và các dữ liệu khách quan để xác định chính xác tư thế, chiều hướng tác động và lực tác động của vật gây thương tích.

+ Nếu đối tượng sử dụng cốc thuỷ tinh (loại cốc vại uống bia có tay cầm) đã bị vỡ và cứa vào vùng cổ của Nguyễn Ngọc H2 thì có thể gây ra vết thương như đã ghi nhận trong hồ sơ giám định do Cơ quan trưng cầu cung cấp.

- Xác minh tại Bệnh viện đa khoa huyện N, kết quả: Anh Nguyễn Ngọc H2 vị vết thương phức tạp vùng cổ, nếu không được cấp cứu, chữa trị kịp thời sẽ tử vong.

* Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo Trần Văn L đã tác động gia đình bồi thường dân sự cho anh Nguyễn Ngọc H2, số tiền 320.000.000 đồng. Anh H2 không yêu cầu bồi thường gì thêm.

* Tại Cáo trạng số: 28/CT-VKS-P2 ngày 24/11/2025, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Trần Văn L về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật Hình sự.

Tại Cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm bị cáo Trần Văn L khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Bị hại anh Nguyễn Ngọc H2 trình bày: Sau khi sự việc xảy ra, giữa gia đình bị cáo và bị hại đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường với nhau, tổng số tiền bị cáo L bồi thường cho bị hại là 320.000.000 đồng, nay bị hại không yêu cầu bồi thường thêm gì khác, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo L.

Người làm chứng có mặt, vắng mặt tại phiên tòa nhưng trước đó đã có lời khai tại Cơ quan điều tra phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, khoản 1 Điều 54, Điều 57 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn L từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù.

Người bào chữa của bị cáo Trần Văn L đồng ý với luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xét xử bị cáo nhẹ hơn mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đã đề nghị.

Bị cáo Trần Văn L nhất trí với luận cứ bào chữa nêu trên của người bào chữa, đồng thời không bào chữa bổ sung hoặc tranh luận thêm gì khác.

Lời nói sau cùng bị cáo gửi lời xin lỗi bị hại, đồng thời xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để có cơ hội sửa chữa lỗi lầm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

- Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

- Tại phiên tòa các người làm chứng là Phạm Quang H3, Trương Văn K, Trương Văn T1, Mai Văn H4 vắng mặt. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của bị hại, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Xuất phát từ mâu thuẫn trong quá trình hát karaoke, khoảng 02 giờ ngày 02/10/2024 tại trước cửa Phòng VIP 202 quán G1 thuộc Tiểu khu Y, xã N, tỉnh Thanh Hóa, Trần Văn L tay phải cầm 01 cốc thủy tinh (có quai, hình trụ, bị vỡ phần thân cốc) ấn sát vào vùng cổ bên trái của anh Nguyễn Ngọc H2 và tấn công bằng cách đẩy mạnh tay phải về phía trước chếch theo hướng từ phải sang trái. Anh Nguyễn Ngọc H2 gập cổ, quay lưng lại thì bị L dùng tay phải đang cầm cốc thuỷ tinh vỡ đánh 01 phát vào vùng gáy phía sau; làm anh H2 bị vết thương vùng cổ trái, đứt tĩnh mạch cảnh trong bên trái, bị tổn hại 16% sức khỏe.

Hành vi nêu trên của bị cáo Trần Văn L đã phạm tội “Giết người”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 123 của Bộ luật Hình sự. Do vô cớ và chỉ vì một duyên cớ nhỏ nhặt bị cáo đã có hành vi dùng cốc thuỷ tinh đã bị vỡ ấn sát vào vùng cổ là vùng trọng yếu trên cơ thể của bị hại. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp “Có tính chất côn đồ” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự và thuộc trường hợp “phạm tội chưa đạt” như Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính mạng của con người; đến quyền tự do thân thể của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an và an toàn cho xã hội, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình.

[4] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tặng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo và thực sự ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã tự nguyện ra đầu thú; tác động với gia đình thỏa thuận bồi thường toàn bộ cho bị hại và bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét thấy: Hành vi của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, do đó cần áp dụng mức hình phạt tù để cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội. Do bị cáo được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ ở khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, nên cần xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng theo quy định tại khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự. Mức hình phạt tù có thời hạn mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là tương xứng với tính chất mức độ mà tội phạm đã gây ra nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về hình phạt bổ sung: theo quy định tại khoản 4 Điều 123 của Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm. Xét thấy, việc áp dụng hình phạt chính là phạt tù có thời hạn đã nghiêm khắc nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: các đương sự đã tự thỏa thuận bồi thường với nhau, nay bị hại không yêu cầu bồi thường gì khác nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết.

[7] Về vật chứng: 05 mảnh thuỷ tinh vỡ của cốc là công cụ phương tiện phạm tội nên tịch thu tiêu huỷ.

[9] Về các vấn đề khác: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Các tình tiết khác có liên quan:

- Đối với thương tích của anh Nguyễn Văn T2: Trần Văn L dùng cốc thủy tinh đánh vào đầu, tay của anh Nguyễn Văn T2 từ khi ở trên phòng hát VIP 202 đến khi xuống dưới tầng 1. Hậu quả làm anh T2 bị tổn hại 09% sức khỏe. Tuy Trần Văn L có hành vi dùng cốc thủy tinh (hung khí nguy hiểm) đánh vào vùng đầu (vùng trọng yếu trên cơ thể) anh Nguyễn Văn T2 nhưng chỉ gây ra 01 vết thương phần mềm (rách da đầu) thể hiện hành vi không quyết liệt trong khi tấn công vào vùng trọng yếu trên cơ thể anh T2, không có ý định tước đoạt mạng sống của anh T2. Do đó, hành vi của Trần Văn L có dấu hiệu phạm tội: “Cố ý gây thương tích”, quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Ngày 25/10/2024, anh Nguyễn Văn T2 có đơn xin rút yêu cầu khởi tố, đo đó không đủ cơ sở xem xét trách nhiệm hình sự đối với Trần Văn L, về tội: “Cố ý gây thương tích”, quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Ngày 30/9/2025, Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T xử phạt hành chính đối với Trần Văn L, về hành vi: Cố ý gây thương tích cho người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

- Đối với thương tích của anh Mai Văn H4: Anh Mai Văn H4 bị Trương Văn T1 dùng tay đánh vào đầu và mặt; bị Trương Văn K dùng cốc thủy tinh (vỡ) đánh 01 phát vào đầu (gây vết thương vùng đỉnh chẩm trái, kích thước 6cm x 1cm, bờ mép sắc gọn, sâu sát xương), cầm cốc thủy tinh (không bị vỡ) đánh nhiều phát vào vùng mặt. Hậu quả: Mai Văn H4 bị nhiều vết thương rách da, bầm tím vùng đầu, mặt, bị tổn hại 06% sức khỏe.

+ Hành vi của Trương Văn K: dùng cốc thủy tinh (hung khí nguy hiểm) tấn công vào vùng đầu (vùng trọng yếu trên cơ thể) của Mai Văn H4, tuy nhiên chỉ gây ra vết thương phần mềm gây rách da đầu, chảy máu, xương hộp sọ không bị rạn, lún, não không bị ảnh hưởng, thể hiện hành vi không quyết liệt trong khi tấn công vào vùng trọng yếu trên cơ thể nạn nhân, không có ý định tước đoạt tính mạng của nạn nhân. Do đó, hành vi của Trương Văn K có dấu hiệu tội: “Cố ý gây thương tích”, quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Ngày 10/10/2024, anh Mai Văn H4 có đơn yêu cầu khởi tố, nên ngày 28/10/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N khởi tố bị can đối với Trương Văn K, về tội: “Cố ý gây thương tích”, quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Ngày 01/11/2024, anh Mai Văn H4 rút yêu cầu khởi tố, nên ngày 02/12/2024 Cơ quan Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đình chỉ điều tra vụ án hình sự đối với bị can Trương Văn K.

+ Hành vi của Trương Văn T1 nêu trên có dấu hiệu đồng phạm với Trương Văn K về tội: “Cố ý gây thương tích”. Do anh H4 rút đơn yêu cầu khởi tố nên không có cơ sở xử lý hình sự đối với Trương Văn T1 về tội: “Cố ý gây thương tích”, quy định tại khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Ngày 30/9/2025, Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T xử phạt hành chính đối với Trương Văn K và Trương Văn T1 về hành vi Cố ý gây thương tích cho người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

- Đối với anh Nguyễn Văn T7, sinh năm 1990, trú tại thôn Y, xã N, tỉnh Thanh Hóa - chủ quán G1: Ngày 30/9/2025, Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T xử phạt hành chính đối với Nguyễn Văn T7, về hành vi: “Kinh doanh dịch vụ karaoke ngoài khoảng thời gian từ 8 giờ đến 24 giờ mỗi ngày”.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: bị cáo Trần Văn L phạm tội “Giết người”.

Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 54; Điều 57 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Văn L 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giam 24/12/2024, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 04/10/2024 đến ngày 13/10/2024.

2. Về trách nhiệm dân sự: Công nhận giữa bị cáo và bị hại đã giải quyết xong.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy vật chứng của vụ án được đựng trong 01 (một) hộp giấy dán kín niêm phong, xung quanh có chữ ký chữ viết ghi rõ họ tên của Lưu Bình N1, Vũ Văn T8 và các hình dấu của Phòng KTHS Công an tỉnh T (Theo bên giao bên trong là: 05 mảnh thuỷ tinh vỡ của cốc loại cốc vại uống bia).

Toàn bộ vật chứng có đặc điểm mô tả theo Biên bản giao nhận vật chứng số 30/2026/TV-CTHADS ngày 11/12/2025 giữa Phòng PC01 Công an tỉnh T và Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa.

4. Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 và Danh mục án phí, lệ phí ban hành kèm theo Nghị quyết:

Buộc bị cáo Trần Văn L phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Sở Tư pháp tỉnh Thanh Hóa;
  • - Viện kiểm sát tỉnh Thanh Hóa;
  • - Phòng Hồ sơ - Công an tỉnh Thanh Hóa;
  • - Trại tạm giam, Công an tỉnh Thanh Hóa;
  • - Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, Tòa Hs, Vp.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Đào Anh Đức

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 247/2025/HS-ST ngày 23/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về giết người

  • Số bản án: 247/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Giết người
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn L phạm tội “Giết người”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger