|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - NINH BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 247/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 04-12-2025
Về tranh chấp: Ly hôn, nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Ông Vũ Văn Trường
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Triệu Văn Giản
Bà Trịnh Thị Kim Cúc
- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Huyền Thương – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Trần Quang Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 12 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 123/2025/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 10 năm 2025 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 11 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 22/2025/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị T, sinh ngày 03-02-1986; số căn cước công dân: [...]. Nơi đăng ký thường trú: Tổ dân phố H - H, phường T, tỉnh Ninh Bình. Nơi cư trú: Khu dân cư B, phường V, tỉnh Ninh Bình. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Trần Văn B, sinh ngày 02-02-1980; số căn cước công dân: [...]. Nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Tổ dân phố H - H, phường T, tỉnh Ninh Bình. (Vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Tại đơn khởi kiện tranh chấp về hôn nhân và gia đình nộp ngày 02-10-2025, trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn chị Đỗ Thị T trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Trần Văn B kết hôn trên cơ sở tự nguyện, vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện M, tỉnh Nam Định ngày 16-06-2004. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận đến khoảng năm 2014 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh B là người gia trưởng thích quản lý mọi việc sinh hoạt, quan hệ gia đình bạn bè, kinh tế của vợ. Chị muốn chi tiêu mua sắm, thăm hỏi người thân trong gia đình đều phải hỏi và được sự đồng ý của anh B. Trong quan hệ bạn bè cũng phải hỏi ý kiến của anh B và không được quyền tự quyết định. Mỗi năm anh B cho chị về thăm bố mẹ đẻ từ 2-3 lần nếu không chấp hành sẽ bị anh B đánh đập, chửi bới bạo hành. Gia đình hai bên đều biết và có nói chuyện với anh B nhưng anh B không thay đổi. Thời gian gần đây mâu thuẫn căng thẳng nên chị đã về nhà bố mẹ đẻ để sinh sống. Vợ chồng đã sống ly thân từ đó cho đến nay không còn quan tâm đến nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, để ổn định cuộc sống của chị và các con, chị có nguyện vọng xin được ly hôn anh Trần Văn B.
Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có hai con chung là Trần Thị Phương O (Giới tính: Nữ), sinh ngày 24-03-2005; Trần Văn Tuấn A (Giới tính: Nam), sinh ngày 13-10-2008. Hiện nay cháu Trần Thị Phương O đã trưởng thành tự lập. Khi ly hôn chị có nguyện vọng nuôi cháu Trần Văn Tuấn A. Chị không yêu cầu anh B phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và vay nợ chung của vợ chồng: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng đối với anh Trần Văn B theo quy định của pháp luật nhưng anh Trần Văn B không đến Tòa án làm việc.
3. Tại biên bản thu thập tài liệu chứng cứ tại chính quyền địa phương xác nhận: Chị Đỗ Thị T và anh Trần Văn B đăng ký kết hôn và sinh sống tại Tổ dân phố H - H, phường T, tỉnh Ninh Bình. Vợ chồng anh chị có hai con chung là Trần Thị Phương O và Trần Văn Tuấn A. Trong quá trình chung sống vợ chồng chị T, anh B có phát sinh mâu thuẫn do tính cách không hoà hợp, quan điểm sống bất đồng. Nay chị T làm đơn xin ly hôn anh B, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
4. Tại biên bản lấy lời khai ngày 27-10-2025: Cháu Trần Văn Tuấn A có nguyện vọng ở với mẹ Đỗ Thị T.
6. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình căn cứ Điều 21, Điều 262 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nhận xét đánh giá:
Về quá trình tiến hành tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật.
Về việc chấp hành pháp luật của các đương sự: Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật. Bị đơn đã được tống đạt các thủ tục tố tụng nhưng vắng mặt không có lý do.
Về việc giải quyết vụ án: Chị Đỗ Thị T và anh Trần Văn B kết hôn trên cơ sở tự nguyện, anh chị có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện M, tỉnh Nam Định ngày 16-06-2004 (nay là phường T, tỉnh Ninh Bình) nên hôn nhân giữa chị T và anh B là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, do tích cách không hoà hợp. Nay chị T có nguyện vọng ly hôn, xét hôn nhân của chị T và anh B đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó căn cứ áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 đề nghị Hội đồng xét xử xử ly hôn giữa chị Đỗ Thị T và anh Trần Văn B.
Về con chung: Vợ chồng anh chị có hai con chung là Trần Thị Phương O (Giới tính: Nữ), sinh ngày 24-3-2005; Trần Văn Tuấn A(Giới tính: Nam), sinh ngày13-10-2008. Xét nguyện vọng của chị T về việc nuôi con chung và nguyện vọng của con, căn cứ Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giao cháu Trần Văn Tuấn A (Giới tính: Nam), sinh ngày 13-10-2008 cho chị T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, chấp nhận sự tự nguyện của chị T, không yêu cầu anh B không phải cấp dưỡng nuôi con cho chị T.
Về tài sản chung và công nợ chung: Chị Đỗ Thị T không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.
Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Đỗ Thị T là nguyên đơn nên phải nộp theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:
[1]Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn là chị Đỗ Thị T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn là anh Trần Văn B được tống đạt hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị Đỗ Thị T và anh Trần Văn B.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị T và anh Trần Văn B kết hôn trên cơ sở tự nguyện, anh chị có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện M, tỉnh Nam Định ngày 16-06-2004 (nay là phường T, tỉnh Ninh Bình) nên hôn nhân giữa chị T và anh B là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận đến khoảng năm 2014 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng đã nói chuyện để khắc phục mâu thuẫn nhưng hai bên không tìm được tiếng nói chung. Mâu thuẫn căng thẳng nên chị T đã về nhà bố mẹ đẻ để sinh sống, vợ chồng đã sống ly thân, hai bên không còn quan tâm chăm sóc nhau, cuộc sống chung không còn trên thực tế. Nay chị T xác định không còn tình cảm với anh B và đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn. Anh B đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thủ tục tố tụng, tuy nhiên anh B không đến Tòa án, không có quan điểm gì. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh B ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử có căn cứ cho ly hôn giữa chị T và anh B theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[3] Về con chung và tranh chấp nuôi con: Vợ chồng có hai con chung là Trần Thị Phương O (Giới tính: Nữ), sinh ngày 24-3-2005; Trần Văn Tuấn A (Giới tính: Nam), sinh ngày 13-02-2008. Hiện nay cháu Trần Thị Phương O đã trưởng thành tự lập được nên Hội đồng xét xử không xem xét. Khi ly hôn chị T có nguyện vọng được chăm sóc nuôi dưỡng con chung Trần Văn Tuấn A, con Trần Văn Tuấn A cũng có nguyện vọng ở với chị T, anh B không có quan điểm gì. Để ổn định sinh hoạt và tâm lý của con khi bố mẹ ly hôn, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ giao con Trần Văn Tuấn A cho chị Đỗ Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Xét thấy sau khi ly hôn chị Đỗ Thị T trực tiếp nuôi dưỡng con chung tuy nhiên chị T tự nguyện không yêu cầu anh B phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[5] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng: Chị Đỗ Thị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[6] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội chị Đỗ Thị T là nguyên đơn trong vụ án nên phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Căn cứ vào khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Đỗ Thị T và anh Trần Văn B.
- Về con chung: Giao con Trần Văn Tuấn A (Giới tính: Nam), sinh ngày 13-10-2008 cho chị Đỗ Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Chấp nhận sự tự nguyện của chị Đỗ Thị T không yêu cầu anh Trần Văn B phải cấp dưỡng nuôi con.
Bên không trực tiếp nuôi con chung có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Không ai được hạn chế, cản trở các quyền này.
Bên không trực tiếp nuôi con chung có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi con, không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng con của người trực tiếp nuôi con chung.
- Về án phí: Chị Đỗ Thị T phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ly hôn 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị Đỗ Thị T đã nộp tại biên lai số [...] ngày 02-10-2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình.
- Quyền kháng cáo: Chị Đỗ Thị T và anh Trần Văn B có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì chị Đỗ Thị T và anh Trần Văn B có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Văn Trường |
Bản án số 247/2025/HNGĐ-ST ngày 04/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - NINH BÌNH về ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 247/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đỗ Thị T - Trần Văn B
