TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 – CÀ MAU
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bản án số: 246/2025/HNGĐ-ST
Ngày 26 – 11 – 2025
V/v ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Lâm Hoài Ân.
- Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Bà Nguyễn Kim Huệ.
- 2. Ông Nguyễn Minh Trọn.
- - Thư ký phiên toà: Ông Châu Sơn Ca – Là Thư ký Toà án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau.
Ngày 26 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 3 – Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 276/2025/TLST - HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2025 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 448/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đinh Tuyết N, sinh năm 1997; Căn cước công dân số: [...], cấp ngày 19/11/2022, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; Địa chỉ: Ấp Cái H, xã Đất M, tỉnh Cà Mau (xin vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Tiêu Phước H, sinh năm 1994; Địa chỉ: Ấp Rạch L, xã Phú M, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Về hôn nhân, chị Đinh Tuyết N và anh Tiêu Phước H chung sống với nhau vào năm 2017, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phú T, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau nay thuộc Ủy ban nhân dân xã Phú M, tỉnh Cà Mau. Trong thời gian đầu, giữa vợ chồng chung sống rất hạnh phúc nhưng theo chị N trình bày đến khoảng tháng 6 năm 2025, giữa vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn nguyên nhân do điều kiện kinh tế gia đình khó khăn, anh H không lo làm ăn, không quan tâm đến vợ con dẫn đến vợ chồng không có sự cảm thông, chia sẽ với nhau nên thường xảy ra cự cải từ đó cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc và đã sống ly thân từ tháng 3 năm 2021 cho đến nay, hiện chị cũng không còn tình cảm với anh H. Vì vậy, chị N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H.
Về con chung, chị Đinh Tuyết N và anh Tiêu Phước H chung sống với nhau có 02 người con chung là Tiêu Đinh Đăng Khoa, sinh ngày 10/11/2018 và Tiêu Đinh Thiên Phú, sinh ngày 05/11/2019. Hiện các con đang chung sống với anh Hậu nên khi ly hôn, chị N tự nguyện giao con cho anh Hậu nuôi, không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung, chị Đinh Tuyết N khai không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đồng thời, do đang làm thuê, việc đi lại và xin nghỉ phép gặp nhiều khó khăn nên chị N có yêu cầu Tòa án hòa giải, xét xử vắng mặt chị. Riêng anh Tiêu Phước H (bị đơn) đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng anh vắng mặt, không có lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng, bị đơn đã được triệu tập tham gia phiên tòa xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng đều vắng mặt, không có lý do. Riêng nguyên đơn đã có lời khai và có yêu cầu xin xét xử vắng mặt với lý do bận công việc làm thuê, việc đi lại, xin nghỉ phép gặp khó khăn nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng Dân sự chấp nhận yêu cầu xin vắng mặt của nguyên đơn và tiến hành đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về hôn nhân, nguyên đơn và bị đơn chung sống với nhau vào năm 2017, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phú T, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau nay thuộc Ủy ban nhân dân xã Phú M, tỉnh Cà Mau theo giấy chứng nhận kết hôn số: 36/2017, ngày 18/4/2017 nên hôn nhân của các đương sự được pháp luật công nhận và bảo vệ. Mặc dù, trong suốt quá trình tố tụng, bị đơn biết được việc nguyên đơn khởi kiện nhưng bị đơn không đến Tòa, không gửi văn bản ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn là tự từ bỏ nghĩa vụ chứng minh của mình đều đó cho thấy bị đơn không mong muốn hàn gắn mối quan hệ hôn nhân với nguyên đơn nên lời trình bày của nguyên đơn về thời gian chung sống, nguyên nhân mâu thuẫn và yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.
[3] Về con chung là Tiêu Đinh Đăng Khoa, sinh ngày 10/11/2018 và Tiêu Đinh Thiên Phú, sinh ngày 05/11/2019. Tuy bị đơn vắng mặt, song Hội đồng xét xử xét thấy việc giao con cho cha hoặc mẹ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng cần căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con. Hiện nguyên đơn đang đi làm thuê còn các cháu đang chung sống cùng bị đơn đã ổn định, việc các đương sự ly hôn đã phần nào làm ảnh hưởng đến đời sống, sinh hoạt và tâm lý của các cháu, trong khi nguyên đơn cũng tự nguyện giao các cháu cho bị đơn nuôi dưỡng. Do đó, để hạn chế việc ảnh hưởng tâm lý, việc học tập và xáo trộn cuộc sống bình thường của con trẻ nên yêu cầu về con của nguyên đơn được chấp nhận.
Đối với việc cấp dưỡng nuôi con nhằm đảm bảo nhu cầu thiết yếu của con, đảm bảo cho cuộc sống của con được đầy đủ, tốt hơn và thể hiện được trách nhiệm, tình thương của người làm cha, làm mẹ đối với con cái nhưng quá trình giải quyết vụ án, bị đơn không đến Tòa, không gửi ý kiến bằng văn bản đối với việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con trong khi nguyên đơn không đồng ý cấp dưỡng nên chưa đủ cơ sở để Hội đồng xét xử không đặt xem xét.
[4] Về tài sản chung và nợ chung, nguyên đơn khai không có, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[5] Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình, nguyên đơn phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 56, 81, 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ các Điều 144, 147 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- - Chấp nhận yêu cầu của chị Đinh Tuyết N về việc xin ly hôn anh Tiêu Phước H.
- - Về con chung là Tiêu Đinh Đăng Khoa, sinh ngày 10/11/2018 và Tiêu Đinh Thiên Phú, sinh ngày 05/11/2019. Hiện các con đang chung sống với anh Tiêu Phước H nên khi ly hôn, tiếp tục giao các con cho anh H chăm sóc, nuôi dưỡng và không đặt ra trách nhiệm chị N cấp dưỡng nuôi con.
- Chị N được quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai có quyền cản trở.
- - Về tài sản chung và nợ chung, chị Đinh Tuyết N khai không có, nên không đặt ra xem xét.
- - Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình, chị Đinh Tuyết N phải chịu số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Ngày 10/10/2025, chị N đã nộp tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai số 0001407 được đối trừ, chuyển thu sung quỹ Nhà nước.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- - Các đương sự;
- - Viện kiểm sát cùng cấp;
- - UBND xã Phú M, tỉnh Cà Mau;
- - Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
(Đã ký)
Lâm Hoài Ân
Bản án số 246/2025/HNGĐ-ST ngày 26/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU về ly hôn
- Số bản án: 246/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chị Đinh Tuyết N và anh Tiêu Phước H chung sống với nhau vào năm 2017, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phú T, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau nay thuộc Ủy ban nhân dân xã Phú M, tỉnh Cà Mau. Trong thời gian đầu, giữa vợ chồng chung sống rất hạnh phúc nhưng theo chị N trình bày đến khoảng tháng 6 năm 2025, giữa vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn nguyên nhân do điều kiện kinh tế gia đình khó khăn, anh H không lo làm ăn, không quan tâm đến vợ con dẫn đến vợ chồng không có sự cảm thông, chia sẽ với nhau nên thường xảy ra cự cải từ đó cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc và đã sống ly thân từ tháng 3 năm 2021 cho đến nay, hiện chị cũng không còn tình cảm với anh H. Vì vậy, chị N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H.
