|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 236/2025/HSST Ngày: 28/11/2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Dung
Thẩm phán: Bà Lê Thị Phương Thanh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Danh Lơi; ông Trần Viết Ty; bà Phạm Thị Sơn.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phi – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Lương Văn Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 220/2025/TLST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 236/2025/QĐXXST-HS ngày 12/11/2025 đối với bị cáo:
Bùi Ngọc L; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không. Căn cước công dân: [...]; Sinh ngày 15 tháng 12 năm 1987 tại tỉnh Thanh Hóa; nơi thường trú và nơi ở hiện tại: Số E, TDP T, phường S, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Mường; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: lao động tự do; Tiền án, tiền sự: không; Con ông Bùi Minh T (Đã chết); Con bà Nguyễn Thị H; có vợ là Hà Thị H1 và có 01 con; Bị tạm giữ từ ngày 24/6/2025 đến 27/6/2025 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh T. Có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo: Bà Lê Thị T1 – Luật sư thuộc Công ty L2, đoàn Luật sư tỉnh Thanh Hoá. Địa chỉ: Số E - E Đại Lộ V, phường H, tỉnh Thanh Hóa (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
* Người bị hại: Anh Nguyễn Văn D, sinh 1981 (đã chết).
Đại diện hợp pháp của bị hại: Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1984 (Có mặt) Địa chỉ: Số E, đường L, phường S, tỉnh Thanh Hóa.
* Người làm chứng:
-
Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1956. Có mặt. Địa chỉ: Số E, ngõ H, đường P, P. S, tỉnh Thanh Hóa.
-
Anh Đào Thanh T2, sinh năm 1980. Vắng mặt.
-
Anh Đào Xuân H2, sinh 2011. Vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Số E, X, TDP T, phường S, tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trưa ngày 23/6/2025, Bùi Ngọc L, sinh năm 1987, trú tại số nhà E X, TDP T, P. T cũ (nay là P. S, tỉnh Thanh Hóa) cùng anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1981 (là anh họ L), ở cùng phố ngồi uống rượu với nhau tại nhà L. Đến khoảng 15h00' cùng ngày, mẹ L không đồng ý cho L và D uống rượu ở nhà nên L và D đi xe máy về nhà D tiếp tục uống rượu. Sau đó anh Văn Đình N, sinh năm 1983, cùng ở gần nhà D (số nhà D X) đi ngang nhà thấy D và L ngồi uống rượu nên đi vào ngồi uống rượu cùng L và D. Khoảng 30 phút sau, N đứng dậy đi về nhà, còn L và D tiếp tục ngồi uống rượu.
Trước đó, trong quá trình uống rượu, do D lêu lổng, không chịu làm ăn nên L có rủ D đi làm bốc vác công trình cùng L ở tỉnh Hà Nam thì D đồng ý. Tuy nhiên, sau đó D bảo không đi và đuổi L “Mi cút về đi”. Do bực tức thái độ của D, L nảy sinh ý định đánh D cho bỏ tức. L cầm sẵn chiếc điếu cày bằng tre, dài khoảng 60cm để hút thuốc lào nên đã dùng điếu cày vụt 3 - 4 cái vào vùng tay, chân và bụng D, khiến D nằm ngã xuống đất. Sau đó, L đứng dậy tiếp tục cầm điếu cày vụt thêm khoảng 3 - 4 cái nữa vào vùng chân, tay và bụng D, khiến chiếc điếu cày bị gãy đôi, L vứt điếu cày xuống nền nhà rồi dùng chân phải đá thêm vài phát nữa vào vùng bụng, hông D. Sau đó, L chạy lại góc nhà lấy một chiếc chổi lau nhà, có cán làm bằng gỗ, dài khoảng 01m tiếp tục vụt nhiều phát vào người anh D làm cán chổi bị gãy. Do quan sát trong nhà không còn hung khí gì khác để đánh D nên L chạy ra ngoài đường thấy phía nhà ông bà Thiết S (đối diện nhà D) có nhiều cành củi khô đang phơi ngoài đường nên L chạy lại nhặt 01 cành củi dài khoảng 70cm rồi chạy vào nhà thấy D đang nằm ngửa trên chiếu trong phòng ngủ, L xông đến cầm cành củi vụt thêm 6 - 7 phát nữa vào người D. Đào Thanh T2, sinh năm 1980 là hàng xóm, đối diện nhà D nghe thấy tiếng hô của anh D nên sang thì phát hiện sự việc L đang đánh anh D nên đã can ngăn. Bị căn ngăn, L bỏ ra phòng khách, D vẫn nằm bất động trên chiếu trong phòng ngủ, còn anh T2 ra về. Do say rượu và buồn ngủ nên L nằm ngủ ngay trên sàn ngoài phòng khách nhà anh D, đến rạng sáng ngày 24/6/2025, L không biết việc anh D đã tử vong mà vẫn bắt xe khách ra tỉnh Hà Nam để đi làm như bình thường.
Sau khi biết tin anh D bị mình đánh đã bị tử vong, Bùi Ngọc L đã đến Cơ quan CSĐT đầu thú và khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của L phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác Cơ quan CSĐT đã thu thập được trong quá trình điều tra.
* Kết quả khám nghiệm hiện trường
Hiện trường vụ án tại nhà anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1981, trú tại số G X, TDP T, P. T, TP S, tỉnh Thanh Hóa. Vị trí phát hiện vụ việc là tại phòng ngủ thuộc góc Tây Nam của tầng 01.
Trên nền nhà tại góc Đ có 01 đệm, bên trên có 01 chiếu mành bằng tre trúc, tử thi Nguyễn Văn D trong tư thế nằm ngửa trên đệm, đầu hướng Đông và cách tường phía Đông 50cm, cách tường phía Nam 50cm. Hai tay co về trước ngực, H3 chân duỗi thẳng hướng Tây, gót chân cách tường phía Tây 50cm. Trên mặt chiếu tương ứng vị trí tử thi phát hiện các mảnh vỡ (dạng tre luồng).
Trên nền nhà tương ứng vị trí tử thi phát hiện chất màu nâu đỏ dạng quệt và dạng bắn bám dính vị trí cao nhất của vết trên mặt tường so với nền nhà là 120 cm. Trên nền nhà ngay dưới góc Đông Bắc của đệm phát hiện 01 dao phay dài 41cm, cán gỗ, lưỡi kim loại, trên mặt đệm phía dưới chiếu phát hiện 01 con dao cán nhựa dạng dao gọt hoa quả. Trên các dao không có dấu vết nghi vấn.
* Kết quả khám nghiệm tử thi
- Khám ngoài:
+ Vết xây xát da không rõ hình KT(8.5x2)cm vùng trán, chiều hướng từ trước về sau;
+ Kết mạc hai mắt xung huyết; vết xây xước do bầm tụ máu không rõ hình KT(41x22)cm vùng ngực bụng có chiều hướng từ trước về sau;
+ Vết xây xát da bầm tụ máu không rõ hình, không liên tục trong diện KT(61x15)cm từ cánh tay phải đến mu bàn tay phải, vết có chiều từ trên xuống, từ trước ra sau;
+ Vết xây xát da bầm tụ máu không rõ hình, không liên tục trong diện KT(17x9)cm mặt ngoài trước ½ cánh tay trái, vết có chiều có trái sang phải, từ trước ra sau;
+ Vết xây xát da bầm tụ máu không rõ hình, không liên tục trong diện KT(61x15)cm từ cánh tay phải đến mu bàn tay phải, vết có chiều từ trên xuống, từ trước ra sau;
+ Vết rách da có hình bầu dục KT(3x1)cm, mặt ngoài 1/3 dưới cánh tay trái, vết có chiều từ trái sang phải, chếch trên xuống, bờ mép gọn;
Vết xây xát da bầm tụ máu không rõ hình, không liên tục trong diện KT(23x8,5)cm mặt ngoài trước 1/3 dưới cẳng tay trái, từ trước ra sau;
+ Vết xây xát da bầm tụ máu không rõ hình, không liên tục trong diện KT(58x22)cm vùng hông và mông phải, mặt ngoài đùi sau đùi phải, vết có chiều từ phải sang trái;
+ Hậu môn bám dính phân;
+ Vết xây xát da bầm tụ máu không rõ hình, không liên tục trong diện KT(120x31) cm từ nách trái, vùng lưng trái đến mặt trước ngoài sau đùi trái, vết từ trước ra sau;
+ Vết xây xát da bầm tụ máu không rõ hình, không liên tục trong diện KT(35x8) cm mặt ngoài trước cẳng chân trái, vết có chiều từ dưới lên trên.
- Khám trong:
+ Vùng đầu, mở hộp sọ không thấy tổn thương;
+ Vùng cổ, ngực bụng: Tổ chức da cơ vùng ngực, bụng tụ ngấm máu diện rộng. Gãy xương ức, gãy xương cung trước sườn 2,3,4,5,6,7 bên trái; gãy cung trước sườn 4,5,6 bên phải; xung quanh các ổ gãy, mặt sau xương ức, trung thất trước tụ ngấm máu diện rộng. Hai phổi căng, bề mặt 02 bên có nhiều vết xung huyết, nhu mô phổi phải bầm dập, tụ ngấm máu diện rộng, diện cắt qua nhu mô 2 phổi có nhiều dịch máu lẫn dịch bọt khí thoát ra. Lòng khí phế quản có nhiều dịch nhầy, dịch bọt, lẫn dịch máu.
+ Tim: Tổ chức liên kết quanh bao màng ngoài tim tụ ngấm máu, khoang ngoài tim có ít dịch màu hồng, bề mặt cơ tim có các diện tụ máu rải rác. Cơ tâm thất trái tụ máu.
+ Gan màu nâu nhạt rạn vỡ, tụ máu nhu mô gan trái, tổ chức liên kết quanh rốn thận phải tụ ngấm máu, niêm mạc dạ dày xung huyết.
* Đồ vật, tài liệu thu giữ và xử lý vật chứng
- 01 Thùng catong niêm phong gồm: 01 đoạn gậy gỗ dài 83,5 cm, một đầu hình chữ "Y" rộng 21,5cm, một đầu hình trụ tròn đường kính 6,5cm (ký hiệu M1); 01 đoạn gậy gỗ dạng ống nứa dạng thân điếu cày dài 34cm, hình trụ tròn, đường kính 3,6cm, bên ngoài quấn nilon màu đen (ký hiệu M2); 01 đoạt gậy gỗ dạng ống nứa thân điếu cày dài 19,5cm, hình trụ tròn đường kính 4cm (ký hiệu M3); 01 gậy gỗ hình trụ tròn dài 32cm, đường kính 2,5cm (ký hiệu M4); 01 nỏ điếu màu đen dài 10,5cm (ký hiệu M5); 01 chổi lưới màu xanh đã gãy cán, phần cán bằng gỗ hình trụ tròn dài 37cm, đường kính 2,5cm (ký hiệu M6); 01 quạt nhựa màu đen, màu cam bị gãy thành nhiều đoạn, mãnh nhựa khác nhau.
- 01 phong bì niêm phong bên trong gồm: Mẫu bọc điếu cày (mảnh vỡ của điếu cày).
Đây là vật chứng của vụ án, hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng Công an tỉnh T sẽ được chuyển đến Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa để xử lý theo quy định.
* Kết quả trưng cầu giám định
- Bản kết luận giám định độc chất, số 4966B/KL-KTHS ngày 04/7/2025 của V - Bộ C đối với Nguyễn Văn D:Trong mẫu máu ghi thu của tử thi Nguyễn Văn D gửi giám định có tìm thấy ethanol (cồn), nồng độ ethanol là 428 mg/100ml máu.
- Trong mẫu máu, phủ tạng và chất chứa trong dạ dày ghi thu của tử thi Nguyễn Văn D gửi giám định không tìm thấy các chất ma tuý và các chất độc thường gặp: Xyanua; methanol; thuốc diệt chuột (nhóm chống đông máu, các muối phốt phua, fluoroacetat, tetramine); hoá chất bảo vệ thực vật (phospho hữu cơ, clo hữu cơ, carbamat, pyrethroid, sulfonyl urea, acetamid, triazin, paraquat, diquat, glycosate, glufosinate, nerestoxin); alkaloid độc của lá ngón, mã tiên, cà độc dược, ô đẫu-phụ tử, các chất an thần gây ngủ và kim loại nặng độc.
- Bản kết luận giám định mô bệnh học số 4966A/KL-KTHS ngày 09/7/2025 của V Bộ C kết luận: Hình ảnh xuất huyết lan tỏa khoang dưới nhện, nhu mô não phù mạnh, sung huyết; phổi xuất huyết mạnh, rách đứt vách phế nang, phù phế nang rải rác; tụ máu cơ vân vùng đùi phải; các tạng còn lại sung huyết, thoái hóa tế bào.
- Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 2631/KLGĐTT-PC09 ngày 23/7/2025 của Phòng KTHS Công an tỉnh T xác định: Nguyễn Văn D chết do đa chấn thương trên người có ethanol trong máu 428mg/100ml máu.
- Kết luận giám định ADN số 2689/KL-PC09 ngày 28/7/2025 của Phòng KTHS Công an tỉnh T xác định: Trên các mẫu máu thu tại hiện trường vụ án là máu của nạn nhân Nguyễn Văn D; mẫu gậy gỗ hình trụ tròn thu tại hiện trường do bị cáo xác nhận là hung khí có máu của nạn nhân.
Về phần dân sự: Gia đình bị cáo đã tự nguyện thỏa thuận và bồi thường xong số tiền 39.000.000 đồng cho gia đình bị hại. Đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu đền bù gì thêm. Đồng thời đề nghị cơ quan pháp luật xem xét xử lý giảm nhẹ đến mức thấp nhất về hình phạt cho bị cáo Bùi Ngọc L.
Tại bản cáo trạng số 17/CT-VKS-P2, ngày 28 tháng 10 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa truy tố Bùi Ngọc L về tội “Giết người” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 BLHS.
* Quan điểm của đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa:
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Bùi Ngọc L về tội “Giết người” theo quy định tại Điểm n Khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự.
- Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ Điểm n Khoản 1 Điều 123; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị xử phạt: Bùi Ngọc L mức án từ 15 – 16 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/6/2025.
- Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận phần bồi thường dân sự hai bên đã giải quyết xong.
- Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu huỷ toàn bộ vật chứng đang tạm giữ tại Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hoá.
* Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo:
Tại phiên tòa Luật sư có đơn xin xét xử vắng mặt và gửi luận cứ bào chữa cho bị cáo. Bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt người bào chữa. Quan điểm của Luật sư thống nhất về tội danh khung hình phạt mà VKSND tỉnh Thanh Hóa đã truy tố đối với bị cáo. Đề nghị HĐXX xem xét các tình tiết giảm nhẹ như: Bị cáo nhân thân tốt, sau khi phạm tội đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tác động gia đình bồi thường cho gia đình bị hại, đại diện gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bị cáo có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự, bố bị cáo được tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhất. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 BLHS. Đề nghị quyết định cho bị cáo hình phạt thấp nhất để bị cáo yên tâm cải tạo sớm thành công dân tốt.
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:
Cơ quan CSĐT, điều tra viên Công an tỉnh T, Viện kiểm sát nhân dân và Kiểm sát viên VKSND tỉnh Thanh Hóa trong quá trình điều tra, truy tố đều thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện là hợp pháp.
[2] Quá trình điều tra và lời khai tại phiên tòa của bị cáo xác định:
Ngày 23/6/2025, vào khoảng hơn 15 giờ tại nhà của Nguyễn Văn D, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ trong lúc uống rượu về việc đi làm ăn cùng nhau, Bùi Ngọc L đã sử dụng điếu cày, cán chổi lau nhà, chân, đánh nhiều phát vào vùng người anh Nguyễn Văn D, dẫn đến anh D nằm ngã xuống đất, L tiếp tục chạy ra ngoài đường lấy cành củi khô dài khoảng 83,5cm rồi chạy vào nhà vụt vào người anh D. Chỉ đến khi có người đến can ngăn thì L mới dừng lại bỏ đi ra ngoài. Hậu quả anh Nguyễn Văn D bị đa chấn thương trên người dẫn đến tử vong. Hành vi của Bùi Ngọc L thể hiện tính côn đồ, xem thường pháp luật, xem thường tính mạng sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, do đó hành vi của Bùi Ngọc L đã phạm tội “Giết người”, quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
[3] Xét tính chất vụ án:
Đây là vụ án “Giết người” có tính chất đặc biệt nghiêm trọng. Bị cáo và người bị hại có quan hệ anh em họ hàng với nhau, không có mâu thuẫn gì. Chỉ từ nguyên cớ nhỏ nhặt, bị cáo có hành vi dùng nhiều loại hung khí đánh vào nhiều vị trí trên cơ thể bị hại dẫn đến hậu quả anh Nguyễn Văn D bị đa chấn thương trên người dẫn đến tử vong. Hành vi của bị cáo đặc biệt nguy hiểm, thể hiện tính côn đồ, xâm phạm trật tự trị an địa phương, xâm phạm đến tính mạng của người khác trái pháp luật. Do đó, cần phải xử lý nghiêm nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Xét nhân thân và trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Trong vụ án này bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian dài để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi lượng hình nên giảm nhẹ cho bị cáo Bùi Ngọc L một phần hình phạt vì sau khi phạm tội đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tác động gia đình tự nguyện bồi thường thiệt hại, đại diện gia đình bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đến mức thấp nhất cho bị cáo, bị cáo đã từng tham gia Q, gia đình có công với cách mạng, bố bị cáo là ông Bùi Minh T3 được tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhất, bị cáo và bị hại có quan hệ anh em họ hàng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Gia đình bị cáo và gia đình bị hại đã thỏa thuận bồi thường số tiền 39.000.000đ, đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm. Xét việc không yêu cầu là tự nguyện, phù hợp pháp luật nên công nhận phần bồi thường dân sự đã giải quyết xong.
[6] Về xử lý vật chứng:
Toàn bộ vật chứng thu giữ của vụ án thể hiện tại mục 1 và mục 2 của biên bản giao nhận vật chứng số 13/2026 ngày 18 tháng 11 năm 2025) của Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa là hung khí bị cáo dùng để gây án, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.
[7] Về án phí, quyền kháng cáo:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo và đại diện hợp pháp của người bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: Điểm n Khoản 1 Điều 123; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Khoản 1, Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Bùi Ngọc L phạm tội “Giết người”.
Xử phạt: Bùi Ngọc L 16 (Mười sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/6/2025.
Về trách nhiệm dân sự: Công nhận phần bồi thường dân sự đã giải quyết xong.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy vật chứng thu giữ của vụ án tại mục 1 và mục 2 của biên bản giao nhận vật chứng số 13/2026 ngày 18 tháng 11 năm 2025) của Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa.
Về án phí: Bị cáo Bùi Ngọc L phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo, đại diện hợp pháp của người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Dung |
Bản án số 236/2025/HSST ngày 28/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về hình sự - giết người
- Số bản án: 236/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Giết người
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Ngọc L phạm tội "Giết người"
