Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 7 – NINH BÌNH

Bản án số: 234/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 27-11-2025

Về tranh chấp: Ly hôn, nuôi con

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Văn Trường

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trịnh Thị Kim Cúc

Ông Triệu Văn Giản

- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Huyền Thương - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình tham gia phiên toà: Bà Lưu Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 194/2025/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2025 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Đan H, sinh ngày 09-03-1997; số căn cước công dân: [...]. Nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Tổ dân phố H - H, phường T, tỉnh Ninh Bình. (Có mặt)

- Bị đơn: Anh Trần Tiến L, sinh ngày 13-11-1987; số căn cước công dân: [...]. Nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Tổ dân phố H - H, phường T, tỉnh Ninh Bình. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  1. Tại đơn khởi kiện tranh chấp về hôn nhân và gia đình nộp ngày 14-10-2025, trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn chị Trần Đan H trình bày:

    Về hôn nhân: Chị và anh Trần Tiến L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện M, tỉnh Nam Định (nay là Ủy ban nhân dân phường T, tỉnh Ninh Bình) ngày 28-03-2016. Sau khi kết hôn vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính cách không phù hợp, bất đồng về kinh tế, hàng tháng anh L chỉ đưa cho chị 2.000.000 đồng để chị chi tiêu, thời gian gần đây anh L có đưa 3.000.000 đồng nhưng không đủ chi tiêu trong gia đình, chị có nói chuyện với anh L nhưng hai bên không hóa giải được mâu thuẫn. Mâu thuẫn của vợ chồng đã được hai bên gia đình góp ý nhưng chị và anh L không tìm được tiếng nói chung. Khi chị nộp đơn ly hôn anh L cũng có nói chuyện với chị và muốn vợ chồng đoàn tụ, tuy nhiên chị xác định tình cảm không còn, có nguyện vọng xin được ly hôn anh Trần Tiến L.

    Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có hai con chung là Trần Linh Đ (Giới tính: Nữ), sinh ngày 03-11-2016; Trần Linh C (Giới tính: Nữ), sinh ngày 04-07-2019. Khi ly hôn chị H có nguyện vọng được chăm sóc nuôi dưỡng con chung Trần Linh C, anh L chăm sóc nuôi dưỡng con chung Trần Linh Đ. Hai bên tự thoả thuận cấp dưỡng nuôi con chung không yêu cầu Toà án giải quyết.

    Về tài sản chung và vay nợ chung của vợ chồng: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

  2. Tại bản tự khai ngày 27-10-2025, bị đơn anh Trần Tiến L trình bày:

    Về hôn nhân: Anh thống nhất với chị H về điều kiện kết hôn. Về quá trình chung sống và nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng, theo anh trong quá trình chung sống vợ chồng do tính cách không hoà hợp, hai bên không tìm được tiếng nói chung, vợ chồng đã nhiều lần ngồi lại nói chuyện với nhau để hòa giải nhưng không có kết quả. Hiện nay chị Trần Đan H xin ly hôn, quan điểm của anh là đồng ý ly hôn.

    Về con chung: Anh xác nhận quá trình chung sống vợ chồng có hai con chung là Trần Linh Đ (Giới tính: Nữ), sinh ngày 03-11-2016; Trần Linh C (Giới tính: Nữ), sinh ngày 04-07-2019. Vợ chồng anh thoả thuận thống nhất do cháu Trần Linh C còn nhỏ nên ở với mẹ là chị Trần Đan H, cháu Trần Linh Đ sẽ do anh chăm sóc nuôi dưỡng. Anh và chị H thoả thuận cấp dưỡng nuôi con chung không yêu cầu Toà án giải quyết.

    Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng: Anh xác nhận vợ chồng không có tài sản chung, không vay nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

    Tại phiên tòa chị Trần Đan H vẫn giữ nguyên quan điểm đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh Trần Tiến L.

    Tại phiên tòa anh Trần Tiến L có quan điểm mong muốn chị H suy nghĩ lại, rút đơn ly hôn để vợ chồng đoàn tụ nuôi dạy con cái. Trong trường hợp chị H kiên quyết ly hôn về việc nuôi con, anh nhất trí sẽ nuôi dưỡng cháu Trần Linh Đ.

  3. Tại biên bản thu thập tài liệu chứng cứ tại chính quyền địa phương xác nhận: Chị Trần Đan H và anh Trần Tiến L có đăng ký kết hôn và sinh sống tại Tổ dân phố H - H, phường T, tỉnh Ninh Bình. Vợ chồng anh chị có hai con chung là Trần Linh Đ và Trần Linh C. Trong quá trình chung sống vợ chồng chị H, anh L có phát sinh mâu thuẫn. Nay chị H làm đơn xin ly hôn anh L đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

  4. Tại biên bản lấy lời khai ngày 04-11-2025: Cháu Trần Linh Đ có nguyện vọng ở với bố là Trần Tiến L.

  5. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 - Ninh Bình căn cứ Điều 21, Điều 262 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nhận xét đánh giá:

    Về quá trình tiến hành tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật.

    Về việc chấp hành pháp luật của các đương sự: Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật.

    Về việc giải quyết vụ án: Chị Trần Đan H và anh Trần Tiến L1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, anh chị có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện M, tỉnh Nam Định ngày 28-03-2016 (nay là phường T, tỉnh Ninh Bình) nên hôn nhân giữa chị H và anh L1 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, do tính cách không hoà hợp. Nay chị H có nguyện vọng ly hôn, xét hôn nhân của chị H và anh L1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó căn cứ áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 đề nghị Hội đồng xét xử xử ly hôn giữa chị Trần Đan H và anh Trần Tiến L.

    Về con chung: Vợ chồng anh chị có hai con chung là Trần Linh Đ (Giới tính: Nữ), sinh ngày 03-11-2016; Trần Linh C (Giới tính: Nữ), sinh ngày 04-07-2019. Xét nguyện vọng của chị H, anh L về việc nuôi con chung và nguyện vọng của cháu Trần Linh Đ, căn cứ Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giao cháu Trần Linh C (Giới tính: Nữ), sinh ngày 04-07-2019 cho chị Trần Đan H và cháu Trần Linh Đ (Giới tính: Nữ), sinh ngày 03-11-2016 cho anh Trần Tiến L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

    Về tài sản chung và công nợ chung: Chị Trần Đan H, anh Trần Tiến L xác nhận không có tài sản chung và không có công nợ chung nên xem xét giải quyết.

Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Trần Đan H là nguyên đơn nên phải nộp theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Đan H và anh Trần Tiến L1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, anh chị có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện M, tỉnh Nam Định ngày 28-03-2016 (nay là phường T, tỉnh Ninh Bình) nên hôn nhân giữa chị H và anh L1 là hôn nhân hợp pháp.

    Trong quá trình chung sống chị H và anh L1 phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính cách không hoà hợp, quan điểm sống bất đồng, vợ chồng và hai bên gia đình đã lần nói chuyện để tìm cách khắc phục mâu thuẫn nhưng không có kết quả. Anh Trần Tiến L không đồng ý ly hôn nhưng cũng không đưa ra được phương pháp hòa giải để chị H chấp nhận. Nay chị H xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trở nên căng thẳng không thể hàn gắn khắc phục được nữa nên đề nghị Toà án giải quyết ly hôn với anh Trần Tiến L. Xét mâu thuẫn vợ chồng đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử có căn cứ cho ly hôn giữa chị Trần Đan H và anh Trần Tiến L theo quy định tại Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

  2. [3] Về con chung và tranh chấp nuôi con: Vợ chồng có hai con chung là Trần Linh Đ (Giới tính: Nữ), sinh ngày 03-11-2016; Trần Linh C (Giới tính: Nữ), sinh ngày 04-07-2019. Khi ly hôn chị H có nguyện vọng được chăm sóc nuôi dưỡng con chung Trần Linh C, anh L có nguyện vọng được chăm sóc nuôi dưỡng con chung Trần Linh Đ và con Trần Linh Đ cũng có nguyện vọng ở với bố. Để ổn định sinh hoạt và tâm lý của con khi bố mẹ ly hôn, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ giao cháu Trần Linh C cho chị Trần Đan H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Giao cháu Trần Linh Đ cho anh Trần Tiến L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

  3. [4] Về cấp dưỡng nuôi con: Xét thấy sau khi ly hôn chị Trần Đan H và anh Trần Tiến L mỗi người nuôi một con chung nên hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

  4. [5] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng: Chị Trần Đan H và anh Trần Tiến L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

  5. [6] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội chị Trần Đan H là nguyên đơn trong vụ án nên phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Căn cứ vào khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Trần Đan H và anh Trần Tiến L.
  2. Về con chung: Giao con Trần Linh C (Giới tính: Nữ), sinh ngày 04-07-2019 cho chị Trần Đan H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Giao con Trần Linh Đ (Giới tính: Nữ), sinh ngày 03-11-2016 cho anh Trần Tiến L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

    Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Trần Đan H và anh Trần Tiến L không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

    Bên không trực tiếp nuôi con chung có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Không ai được hạn chế, cản trở các quyền này.

    Bên không trực tiếp nuôi con chung có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi con, không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc giáo dục, nuôi dưỡng con của người trực tiếp nuôi con chung

  3. Về án phí: Chị Trần Đan H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ly hôn 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) chị Trần Đan H đã nộp tại biên lai số 0001697 ngày 14-10-2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình.
  4. Quyền kháng cáo: Chị Trần Đan H và anh Trần Tiến L có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì chị Trần Đan H và anh Trần Tiến L có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”./.

Nơi nhận:

  • - VKSND Khu vực 7 - Ninh Bình;
  • - Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình;
  • - UBND phường Thiên Trường, tỉnh Ninh Bình (cũ là UBND xã Mỹ Trung, TP. Nam Định, tỉnh Nam Định), ĐKKH ngày 28-03-2016;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Văn Trường

CÁC THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 234/2025/HNGĐ-ST ngày 27/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – NINH BÌNH về ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 234/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Đan H - Trần Tiến L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger