Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 1 - SƠN LA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập- Tự do - Hạnh phúc

----------

Bản án số: 23/2025/HS-ST

Ngày 16 - 12 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- SƠN LA

Tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Sơn La:

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Lò Thị Mai Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Ngọc Lan

Ông Hà Văn Tiêm

- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Trà My– Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Sơn La tham gia phiên toà:

Bà Nguyễn Thị Lan Hương - Kiểm sát viên.

Tại điểm cầu thành phần Phân trại tạm giam M:

- Người tiến hành tố tụng:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Sơn La: Ông Nguyễn Chí C – Kiểm sát viên.

Thư ký Tòa án: Ông Cầm Việt H – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Sơn La.

- Người tham gia tố tụng khác:

Cán bộ, Chiến sỹ thuộc phân trại tạm giam M: Ông Giàng A D, ông Nguyễn Văn A - Cán bộ chiến sỹ thuộc Phân trại tạm giam M.

Ngày 16 tháng 12 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Sơn La và điểm cầu thành phần Phân trại tạm giam Mường La xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 18/2025/TLST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2025/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:

Lò Văn T, (tên gọi khác: Không), sinh ngày: 08 tháng 10 năm 1982 tại xã C, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản M, xã C, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 7/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đoàn thể, đảng phái: Không; con ông Lò Văn T1 (đã chết) và con bà Lò Thị M (sinh năm 1958); bị cáo có vợ là Cà Thị P (sinh năm 1982) và 02 con, con lớn nhất sinh năm 2003, con nhỏ nhất sinh năm 2005; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/8/2025 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Trần Mạnh T2 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh S.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lò Văn T là đối tượng đang điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế theo Quyết định số: 81/QĐ-UBND ngày 08/5/2024 của Ủy ban nhân dân xã C, thời hạn từ ngày 09/5/2024 đến khi hết thời hạn.

Khoảng 15 giờ 20 phút ngày 27/8/2025, Công an xã C, tỉnh Sơn La phối hợp với Trạm Y tế xã C tiến hành kiểm tra, test ma túy đối với Lò Văn T. Kết quả: Lò Văn T dương tính với chất ma tuý, loại H1 và Hồ N (Methamphetamine). Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh S đã lập biên bản sự việc, đồng thời tiến hành lập Hội đồng để thu giữ mẫu nước tiểu của Lò Văn T, ký hiệu mẫu là T1 và T2; trong đó mẫu T1 sử dụng để tiến hành gửi trưng cầu giám định; mẫu T2 để bảo quản, lưu trữ theo quy định.

Ngày 27/8/2025, tiến hành khám xét khẩn cấp nhà ở của Lò Văn T nhưng không thu giữ gì thêm.

Ngày 28/8/2025, Lò Văn T bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S đã tiến hành bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Lò Văn T.

Ngày 28/8/2025, Trung tâm y tế khu vực M cung cấp bộ hồ sơ Lò Văn T gồm: đơn đăng ký điều trị Methadone tự nguyện của Lò Văn T; giấy tiếp nhận điều trị; Bệnh án điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone từ ngày 09/5/2024; thông báo số 92/TB-TTYT ngày 29/8/2025 của Trung tâm y tế khu vực M về việc chấm dứt điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone, lý do vi phạm điểm a khoản 1 Điều 256a Luật số 86/2025/QH15. Luật sử đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S tiến hành khám nghiệm hiện trường nơi Lò Văn T sử dụng trái phép chất ma túy. Hiện trường được xác định là nhà vệ sinh của gia đình Lò Văn T, địa điểm bản Mường Pia, xã C, tỉnh Sơn La. Kết quả: Tại vị trí số (1) được xác định là vị trí Lò Văn T ngồi sử dụng trái phép chất ma túy, mốc xác định là cửa ra vào của nhà vệ sinh. Từ cửa ra vào đến vị trí số (1) khoảng cách là 1,20 m. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh S tiến hành truy tìm mảnh giấy bạc và chiếc bật lửa ga tại khu vực rãnh nước trước nhà Lò Văn T. Kết quả: không phát hiện thu giữ được.

Ngày 17/10/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành thực nghiệm điều tra, cho Lò Văn T diễn lại hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 26/8/2025, kết quả: Lò Văn T thực hiện lại toàn bộ hành vi, động tác, tư thế trước, trong và sau khi sử dụng trái phép chất ma túy phù hợp với lời khai của Thoải tại Cơ quan điều tra.

Tại Kết luận giám định số 1049/KL-KTHS ngày 31/8/2025 của Phòng K - Công an tỉnh S kết luận: “Mẫu ký hiệu T1 gửi giám định có chất ma túy, loại Methamphetamine, M1, C1 và M2”.

2

Quá trình điều tra Lò Văn T khai nhận: Lò Văn T là người nghiện ma túy đang điều trị bằng thuốc thay thế (Methadone) tại Trạm y tế xã C, tỉnh Sơn La theo Quyết định số 81/QĐ-UBND ngày 08/5/2024 của Ủy ban nhân dân xã C. Trong quá trình điều trị cai nghiện, T vẫn tìm mua ma túy để sử dụng. Vào khoảng 09 giờ 20 phút ngày 26/8/2025 tại khu vực bản Mường Pia, xã C, tỉnh Sơn La, Lò Văn T gặp và mua được 01 gói ma tuý được gói bằng nilon màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng và nửa viên nén màu hồng (T khai nhận là ma tuý loại Heroine và Hồng P1) của một người nam giới không quen biết với số tiền 100.000đ (một trăm nghìn đồng). Sau đó, T cất gói ma túy vừa mua được vào túi quần bên phải mặc trên người rồi đi bộ về nhà. Khoảng 18 giờ 00 phút cùng ngày, T mang theo một chiếc bật lửa, một mảnh giấy bạc cùng gói ma tuý vừa mua được vào nhà vệ sinh của gia đình. Tại nhà vệ sinh, T lấy gói ma túy ra, đổ hết số ma túy lên một mặt của mảnh giấy bạc, dùng bật lửa đốt phía dưới mặt còn lại của giấy bạc rồi sử dụng hết số ma túy bằng hình thức đốt hít vào cơ thể. Sau khi sử dụng xong, T vứt mảnh nilon màu trắng dùng để gói ma túy vào bồn cầu nhà vệ sinh và xả nước trôi đi, còn mảnh giấy bạc và chiếc bật lửa dùng để sử dụng chất ma túy T vứt xuống rãnh nước trước nhà. Khoảng 15 giờ 20 phút ngày 27/8/2025, tại Trạm Y tế xã C, tỉnh Sơn La, tổ công tác Công an xã C yêu cầu kiểm tra ma túy trong nước tiểu đối với T; kết quả trong nước tiểu của T dương tính với ma túy nên Tổ công tác công an xã C đã lập biên bản sự việc đối với Lò Văn T.

Thực hiện điều tra, xác minh đối với người bán trái phép chất ma túy cho Lò Văn T nhưng không thu thập được tài liệu khác.

Đối với mẫu dự phòng ký hiệu T2, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S đã tiến hành hủy mẫu theo Công văn số 2858/CAT-PC09-PC04 ngày 24/7/2025 của Công an tỉnh S.

Bản cáo trạng số 16/CT-VKSKV1, ngày 03/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Sơn La, truy tố bị cáo Lò Văn T về tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý” theo điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Tại phiên toà, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội là do không từ bỏ được ma tuý nên đã mua ma túy cất giữ và sử dụng thì bị bắt như cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Sơn La luận tội và tranh luận: đề nghị tuyến bố bị cáo Lò Văn T phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý”. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025); điểm i, s khoản 1 Điều 51, 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lò Văn T từ 24 (hai mươi tư) đến 30 (ba mươi) tháng tù.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, miễn tiền án phí hình sự cho bị cáo.

Bị cáo Lò Văn T tự bào chữa, tranh luận: Nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Sơn La.

Người bào chữa cho bị cáo tranh luận: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, nhận thức pháp luật còn hạn chế, khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo không rủ rê, lôi kéo thêm người khác cùng thực hiện. Do đó, nhất trí với đề nghị của Đại diện Viện kiểm

3

sát, đề nghị Tòa án áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

Bị cáo xin Hội đồng xét xử khoan hồng giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người khác không có ý kiến, khiếu nại, tố cáo về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp và thống nhất với lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với Cáo trạng của Viện kiểm sát và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xác định: Ngày 26/8/2025, Lò Văn T đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine và H1 bị lực lượng chức năng kiểm tra, phát hiện, giám định có chất ma tuý Methamphetamine, M1, C1 và M2 trong cơ thể. Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng: Quyết định số: 81/QĐ-UBND ngày 08/5/2024 của Ủy ban nhân dân xã C đối với Lò Văn T, thời hạn từ ngày 09/5/2024 đến khi hết thời hạn; Biên bản thu mẫu, niêm phong mẫu giám định và mẫu lưu kho; Kết luận giám định số 1049/KL-KTHS ngày 31/8/2025 của Phòng K - Công an tỉnh S kết luận: Mẫu ký hiệu T1 (mẫu nước tiểu thu giữ của Lò Văn T) gửi giám định có chất ma túy; loại Heroine, M3, M1 và C1; Biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp; Biên bản truy tìm vật chứng; Biên bản khám nghiệm hiện trường; Biên bản thực nghiệm điều tra; các biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung bị cáo Lò Văn T đều thừa nhận do nghiện chất ma túy nên vào ngày 26/8/2025, T đã có hành vi sử dụng chiếc bật lửa màu đỏ, giấy bạc và ma túy mua được của một người đàn ông không quen biết, sử dụng trái phép chất ma túy bằng hình thức đốt, hít ma túy vào cơ thể, tại địa điểm nhà vệ sinh của gia đình T.

Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được việc đang trong thời gian quản lý sau cai nghiện ma túy của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã C, nhưng do nghiện chất ma túy, bị cáo đã cố tình đi tìm mua ma túy về để sử dụng trái phép cho bản thân, xâm phạm chế độ thống nhất quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Hành vi của bị cáo thực hiện sau ngày 01/7/2025, đã đủ cấu thành của tội phạm, nên phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025 theo Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc Hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự), có khung hình phạt tù từ 02 năm đến 03 năm tù và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.

[3] Về tính chất mức độ của hành vi: Bị cáo được tuyên truyền, vận động, tham gia điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone nhưng do ý thức

4

coi thường kỷ cương xã hội, pháp luật của Nhà nước, bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quy định của Nhà nước về chế độ quản lý, sử dụng chất ma tuý; với lỗi cố ý trực tiếp, bị cáo đã sử dụng trái phép chất ma tuý khi đang điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone; tội phạm bị cáo thực hiện đã hoàn thành không những làm ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ, sự phát triển về thể chất của con người, suy giảm khả năng lao động mà còn ảnh hưởng xấu về trật tự an toàn xã hội, trật tự trị an ở địa phương, là nguyên nhân gây ra những loại tội phạm, vi phạm pháp luật khác nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Sơn La truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật áp dụng là đúng người, đúng tội; tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát luận tội quy kết bị cáo phạm tội và đề nghị phạt tù đối với bị cáo là có căn cứ và phù hợp.

[4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[4.1] Tình tiết tăng nặng, nhân thân: Bị cáo Lò Văn T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[4.2] Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về các vấn đề khác liên quan đến vụ án: Đối với người đã bán ma túy cho Lò Văn T, do không biết họ tên và địa chỉ cụ thể, ngoài lời khai của bị cáo, không còn tài liệu, chứng cứ nào khác nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không có cơ sở xử lý.

[6] Về biện pháp ngăn chặn: Áp dụng Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm việc thi hành án; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/8/2025 được xem xét khấu trừ vào thời gian chấp hành hình phạt tù.

[7] Về vật chứng của vụ án: Đối với mẫu dự phòng ký hiệu T2, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh S đã tiến hành hủy mẫu theo Công văn số 2858/CAT-PC09-PC04 ngày 24/7/2025 của Công an tỉnh S là đúng theo quy định của pháp luật.

[8] Về án phí: Tài liệu trong hồ sơ xác định các bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa, bị cáo xin miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm. Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, cần miễn tiền án phí cho bị cáo.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025, Điều 38, điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

    Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn T phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma tuý”.

    Xử phạt: Bị cáo Lò Văn T 24 (hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 28/8/2025).

  2. Về án phí: Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn T.
  3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 16/12/2025).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sơn La;
  • - VKSND khu vực 1- Sơn La;
  • - CA tỉnh Sơn La;
  • - THADS tỉnh Sơn La;
  • - UBND xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lò Thị Mai Hương

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 23/2025/HS-ST ngày 16/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - SƠN LA về sử dụng trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 23/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Sử dụng trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án số 23/2025/HS-ST ngày 16/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Sơn La
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger