TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 225/2025/DS-PT Ngày: 12/12/2025 V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Anh Trang
Các Thẩm phán: Bà Lê Thị Hạng và ông Trần Minh Thật
- Thư ký phiên tòa: Ông Mai Ngọc Khương - Thư ký viên
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa:
Bà Lê Đăng Phương Huệ - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 221/2025/TLPT-DS ngày 31 tháng 10 năm 2025 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2025/DS-ST ngày 07/8/2025 của Toà án nhân dân Khu vực 2 - Khánh Hòa bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 236/2025/QĐ-PT ngày 03 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trịnh Thị Ngọc T, sinh năm: 1957 (có mặt).
Địa chỉ: Tổ dân phố P, phường C, tỉnh Khánh Hòa.
- Bị đơn: Ông Đỗ Văn C, sinh năm: 1955 (có mặt).
Địa chỉ: Tổ dân phố P, phường C, tỉnh Khánh Hòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Trịnh Thị N, sinh năm: 1960 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số B Đại lộ H, tổ dân phố L, phường C, tỉnh Khánh Hòa.
Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm: 1955 (vắng mặt).
Ông Trịnh Đình T1, sinh năm: 1975 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Tổ dân phố L, phường C, tỉnh Khánh Hòa.
Bà Trịnh Thị Thanh Q, sinh năm: 1982 (vắng mặt).
Địa chỉ: 2 B, ấp C, xã N, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bà Trịnh Thị L (vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ dân phố P, phường C, tỉnh Khánh Hòa.
Bà Trịnh Thị D (vắng mặt).
Bà Trịnh Thị B, sinh năm: 1990 (vắng mặt).
Ông Trịnh Thế N2, sinh năm: 1989 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Tổ dân phố H, phường C, tỉnh Khánh Hòa.
Bà Đỗ Thị B1, sinh năm: 1966 (có mặt).
Bà Đỗ Thị C1, sinh năm: 1974 (vắng mặt).
Bà Văn Thị C2, sinh năm: 1959 (có mặt).
Ông Đỗ Văn H, sinh năm: 1977 (có đơn xin vắng mặt).
Ông Đỗ H1, sinh năm: 1982 (có đơn xin vắng mặt).
Bà Đỗ Thị Hồng H2, sinh năm: 1984 (có đơn xin vắng mặt).
Ông Đỗ Hòa H3, sinh năm: 1986 (có mặt).
Ông Đỗ Văn H4, sinh năm: 1993 (có đơn xin vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Tổ dân phố P, phường C, tỉnh Khánh Hòa
Bà Đỗ Thị H5, sinh năm 1990 (có đơn xin vắng mặt).
Địa chỉ: đường T, tổ C, khu phố K, phường T, thành phố Hồ Chí Minh .
-Người làm chứng:
Ông Nguyễn Công L1, sinh năm: 1974 (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ dân phố H, phường C, tỉnh Khánh Hòa.
Ông Nguyễn Bá N3, sinh năm: 1982 (vắng mặt).
Địa chỉ: Tổ dân phố P, phường C, tỉnh Khánh Hòa.
Ông Trịnh H6, sinh năm 1971 (có mặt)
Địa chỉ: Tổ dân phố P, phường C, tỉnh Khánh Hòa
Ông Văn Tiến D1, sinh năm 1947 (có mặt).
Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1951 ( có mặt).
Cùng địa chỉ: Tổ dân phố P, phường C, tỉnh Khánh Hòa.
Người kháng cáo: Bị đơn ông Đỗ Văn C kháng cáo.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn Khởi kiện, quá trình tố tụng và tại phiên tòa nguyên đơn là bà Trịnh Thị Ngọc T trình bày:
Bà là chủ sử dụng đối với thửa đất số 230, tờ bản đồ số 15, diện tích 1678.7m² tọa lạc tổ dân phố P, phường C, thành phố C (nay là tổ dân phố P, phường C, tỉnh Khánh Hòa).
Nguồn gốc thửa đất này do cha mẹ bà là ông Trịnh T2, sinh năm: 1922, chết năm 2007, mẹ Đỗ Thị H7, sinh năm: 1922, chết năm 2022, khai hoang trước năm 1971, có đông, tây, tứ cận: Bắc giáp đất ông P, nam giáp đường đi, đông giáp đất ông Mười C3, tây giáp đất ông C. Năm 1995 cha mẹ bà cho bà canh tác nhưng bà cho ông Đinh D2 trồng khoai, mì từ năm 1996 đến năm 1998, sau năm 1998 bà để hoang không trồng trọt gì trên đất này. Đến năm 2010, mẹ bà cho bà quản lý, sử dụng theo giấy cho đất ngày 20/6/2010, năm 2012 giữa bà và mẹ bà tranh chấp Ủy ban nhân phường C hòa giải tranh chấp thừa kế về quyền sử dụng đất, tại buồi hòa giải ngày 20/6/2012, mẹ bà Đỗ Thị H7 giao cho bà quản lý, sử dụng diện tích đất tại khu bồn nước (P), diện tích theo bản đồ Hn72 đo đạc năm 1999 là 1613m² vị trí đất hiện nay đang tranh chấp, trên cơ sở giấy cho đất và kết quả hòa giải, bà đăng ký kê khai diện tích đất này trên bản đồ địa chính 2011, diện tích 1678.7m².
Quá trình sử dụng đất, bị đơn ông Đỗ Văn C đã lấn chiếm đất của bà, bà đã nhiều lần yêu cầu ông C phải trả lại diện tích đất lấn chiếm nhưng ông không trả mà còn thách thức. Hành vi lấn chiếm đất của ông Đỗ Văn C là vi phạm pháp luật, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà. Theo kết quả thẩm định của Tòa án, bà yêu cầu ông Đỗ Văn C, bà Văn Thị C2 phải tháo dỡ 03 trụ bê tông, trả lại cho bà diện tích đất lấn chiếm là 298.7m² thuộc một phần thửa đất số: 230, tờ bản đồ số 15 tọa lạc tại tổ dân phố P, phường C, tỉnh Khánh Hòa.
Quá trình tố tụng và tại phiên tòa Bị đơn ông Đỗ Văn C trình bày:
Nguyên thửa đất số 165, tờ bản đồ 15 của ông và thửa đất số 230 tờ bản đồ 15 của bà T là do cha của ông là Đỗ K, sinh năm: 1927, chết năm: 1995 và cha của bà T là ông Trịnh T2 khai hoang trước năm 1975, sau đó tự thỏa thuận phân chia đất, phân chia cụ thể diện tích đất như thế nào ông không rõ.
Đối với thửa đất 165, tờ bản đồ số 15, tọa lạc tại tổ dân phố P, phường C (nay là phường C) có tứ cận: phía Đông giáp ông Trịnh T2, Tây giáp ông Đinh D3, Nam giáp đường cái, Bắc giáp suối, nguồn gốc do cha, mẹ ông khai hoang sử dụng trồng khoai, mì đến năm 1995 cha ông chết, mẹ ông và các em trong gia đình giao cho ông quản lý, sử dụng. Năm 2021, ông và các em của ông là Đỗ Thị B1 và Đỗ Thị C1 thỏa thuận, ông được quản lý, sử dụng diện tích đất 273.4m², ông giao cho bà B1 và bà C1 60.000.000 đồng (mỗi người 30.000.000 đồng), có lập giấy thỏa thuận ngày 01/7/2021 và giấy cam kết ngày 08/10/2021. Toàn bộ bản chính của 02 giấy này ông đã làm thất lạc bản gốc, chỉ còn bản photo nên ông không có bản gốc cung cấp cho Tòa án. Quá trình quản lý, sử dụng ông không đăng ký kê khai thửa đất trên, ông không biết ông Nguyễn Bá N3 là ai, ông N3 có đăng ký kê khai thửa đất 165, tờ bản đồ số 15 nêu trên hay không, ông không biết
Vào năm 2004, ông có chuyển nhượng 01 phần diện tích đất ngang 2m, chiều dài đến suối, thuộc thửa đất 165, tờ bản đồ số 15 cho ông Nguyễn Công L1, có lập giấy chuyển nhượng viết tay, giữa ông và ông L1 không tranh chấp diện tích đất đã chuyển nhượng.
Ông sử dụng đất đúng nguồn gốc, đúng ranh giới hiện trạng mà cha, mẹ để lại, không lấn đất của bà T. Do đó, ông không đồng ý yêu cầu khởi kiện của bà T.
Quá trình tố tụng và tại phiên tòa Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Văn Thị C2 trình bày:
Bà và ông Đỗ Văn C chung sống với nhau vào năm 1976, khi về chung sống với nhau vợ chồng bà cùng với cha mẹ chồng lên thửa đất này để canh tác trồng khoai, mì, bồn bồn. Cha chồng bà cho biết đất này do cha chồng khai hoang trước năm 1975, đến năm 1995 cha chồng bà chết nên giao cho vợ, chồng bà quản lý, sử dụng.
Vào năm 2004, vợ chồng bà có chuyển nhượng 01 phần diện tích đất ngang 2m, chiều dài 14m, tổng diện tích 24m² thuộc thửa đất 165, tờ bản đồ số 15 cho ông Nguyễn Công L1. Đến năm 2021, chồng bà và các em của chồng bà là Đỗ Thị B1 và Đỗ Thị C1 thỏa thuận, ông C được quản lý, sử dụng diện tích đất 273.4m², ông C giao cho bà B1 và bà C1 60.000.000 đồng (mỗi người 30.000.000 đồng). Ông C, bà B1, bà Ú lập giấy thỏa thuận ngày 01/7/2021 và lập lại giấy cam kết ngày 08/10/2021. Bà B1, bà C1 đã nhận đủ số tiền trên, giao cho chồng bà toàn quyền, quản lý sử dụng thửa đất này.
Bà không biết gì về thửa đất số 230, tờ bản đồ số 15, tọa lạc tại tổ dân phố P mà bà T đang quản lý, sử dụng. Hiện nay vợ chồng bà đang quản lý, sử dụng đất đúng ranh giới, hiện trạng mà cha, mẹ chồng để lại nên bà không đồng ý yêu cầu khởi kiện của bà T.
Quá trình tố tụng và tại phiên tòa Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đỗ Thị B1, bà Đỗ Thị C1 cùng trình bày:
Cha, mẹ bà là Đỗ K1 và Nguyễn Thị T3 (đã chết), cha mẹ bà có 03 người con là Đỗ Văn C, Đỗ Thị B1, Đỗ Thị C1.
Nguồn gốc thửa đất này do cha, mẹ bà khai hoang, khai hoang khi nào bà không rõ, khi còn nhỏ cha, mẹ bà có đưa bà lên thửa đất này để trồng mì, khoai lang. Sau khi cha bà chết, ông C quản lý, sử dụng thửa đất này cho đến nay. Đến năm 2021, bà và ông C, bà C1 thỏa thuận phần diện tích đất 273.4m², thửa đất 165, tờ bản đồ số 15 giao cho ông C quản lý, sử dụng và ông C thanh toán cho bà 30.000.000 đồng, bà C1 30.000.000 đồng, có lập giấy thỏa thuận ngày 01/7/2021, đến ngày 08/10/2021, lập giấy cam kết ông C đã thanh toán đủ tiền cho bà và bà C1. Hiện nay bà không tranh chấp gì đối với thửa đất 165, tờ bản đồ số 15 hiện nay ông C đang quản lý, sử dụng.
Diện tích đất cha, mẹ bà khai hoang gần 1.000m², hiện nay ông C nói cho bà biết diện tích giảm xuống còn 600 - 700m². Gia đình bà không chuyển nhượng cho ai, diện tích đất giảm là do sạt lở và bà T lấn chiếm.
Nguồn gốc thửa đất 230, tờ bản đồ số 15, do cha mẹ bà T khai hoang, sau khi cha mẹ bà T mất thì bà T sử dụng cho đến nay. Ngoài ra bà không biết gì khác. Bà không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà T.
Quá trình tố tụng Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan các ông Đỗ Văn H, Đỗ H1, Đỗ Hòa H3, Đỗ Văn H4, bà Đỗ Thị Hồng H2, Đỗ Thị H5 cùng trình bày:
Các ông/bà là là con của ông Đỗ Văn C, bà Văn Thị C2. Cha mẹ các ông/bà đang quản lý sử dụng thửa đất số 165, tờ bản đồ số 15, nguồn gốc do ông bà nội của là Đỗ K1 và bà Nguyễn Thị T3 khai hoang, sau khi ông bà nội mất, cha mẹ chúng tôi quản lý, sử dụng ổn định cho đến nay.
Bà Trịnh Thị Ngọc T khởi kiện yêu cầu ông Đỗ Văn C trả lại cho bà T diện tích đất lấn chiếm khoảng 500m², thuộc một phần thửa đất số 230, tờ bản đồ số 15, các ông không đồng ý, do không có thời gian đến Tòa án để giải quyết vụ án nên chúng tôi xin vắng mặt trong tất cả các buổi làm việc, Phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, xét xử sở thẩm và phúc thẩm (nếu có).
Quá trình tố tụng Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trịnh Thị N trình bày:
Thửa đất số 230, tờ bản đồ số 15, diện tích 1.678,7m² do cha mẹ bà là Trịnh T2, sinh năm: 1922 (đã chết), mẹ Đỗ Thị H7, sinh năm: 1922 (đã chết) khai hoang trước năm 1971, sau khi ba mất năm 2007 mẹ bà quản lý sử dụng, đến năm 2010 mẹ bà cho bà T quản lý, sử dụng thửa đất có lập giấy tờ có chứng thực của Ủy ban nhân dân phường C, sau khi cho đất bà T quản lý, sử dụng cho đến nay.
Cha, mẹ bà có 03 người con là Trịnh Thế M, Trịnh Thị Ngọc T, Trịnh Thị N, Trịnh Thế M (đã chết), ông M có vợ là Trịnh Thị N4 và 02 con tên là Trịnh Đình T1 và Trịnh Thị Thanh Q. Khi còn sống cha bà có 02 vợ là Đỗ Thị H7 và Nguyễn Thị Đ1, bà Đ1 đã chết năm 2023, ông H7, bà Đ1 có 04 con chung là Trịnh Thị D, Trịnh Thế N2, Trịnh Thị B, Trịnh Thị L. Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn, bà không liên quan, không tranh chấp gì trong vụ án này.
Quá trình tố tụng Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị N1, Trịnh Đình T1, Trịnh Thị Thanh Q cùng trình bày:
Ông Trịnh T2, bà Đỗ Thị Hay L2 bố, mẹ chồng bà, chồng bà là ông Trịnh Thế M chết năm 1997, bà và ông M có 02 con chung là Trịnh Đình T1 và Trịnh Thị Thanh Q. Bà không biết gì nguồn gốc thửa số 230, tờ bản đồ số 15, diện tích 1.678,7m² tọa lạc tổ dân phố P, phường C, thành phố C. Bà và các con Không tranh chấp gì trong vụ án, đề nghị giải quyết vụ án theo quy định pháp luật, không triệu tập bà tham gia tố tụng xin vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.
Quá trình tố tụng Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Trịnh Thị L, Trịnh Thị Bích C4 trình bày:
Các bà là con ruột bà Nguyễn Thị Đ1 và ông Trịnh T2, cha mẹ bà đều đề chết. Bà Trịnh Thị Ngọc T khởi kiện yêu cầu ông Đỗ Văn C trả lại cho bà T diện tích đất lấn bà đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật, đề nghị Tòa án không đưa bà vào tham gia vụ án.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2025/DS-ST ngày 07/8/2025 của Toà án nhân dân Khu vực 2 - Khánh Hòa đã quyết định:
Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 164, Điều 228, Điều 229, Điều 266, khoản 1 Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 170 Luật Đất đai 2013; Căn cứ các Điều 106, Điều 164, Điều 166, Điều 169 Bộ luật Dân sự 2015; Căn cứ Điều 12, Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Buộc ông Đỗ Văn C, bà Văn Thị C2 phải tháo dỡ 03 trụ bê tông, trả lại cho cho bà Trịnh Thị Ngọc T phần diện tích đất lấn chiếm 298.7m² thuộc một phần thửa đất số: 230, tờ bản đồ số 15 tọa lạc tại tổ dân phố P, phường C, thành phố C (nay là phường C), tỉnh Khánh Hòa.
Diện tích, vị trí đất lấn chiếm được thể hiện tại Mảnh trích đo địa chính phường C số: 26 - 2025 ngày 24/4/2025 của Chi nhánh văn phòng Đ2 tại thành phố C (kèm theo Bản án).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quyền, nghĩa vụ các bên thi hành án và quyền kháng cáo của đương sự.
Ngày 11/8/2025, bị đơn ông Đỗ Văn C kháng cáo toàn bộ Bản án số 10/2025/DS-ST ngày 07/8/2025, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa Bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, bị đơn không rút kháng cáo. Các bên đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự từ khi Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý vụ án cho đến thời điểm xét xử tại phiên tòa hôm nay.
Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Đỗ Văn C; Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 10/2025/DS-ST ngày 07/8/2025 của Toà án nhân dân Khu vực 2 – Khánh Hòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
1. Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Đơn kháng cáo của bị đơn ông Đỗ Văn C được nộp trong thời hạn luật định, hợp lệ, nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[1.2] Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nội dung khởi kiện của nguyên đơn, Tòa án cấp sơ thẩm đã thụ lý, xác định đầy đủ quan hệ pháp luật tranh chấp, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết sơ thẩm của Toà án nhân dân Khu vực 2 – Khánh Hòa là đúng quy định tại khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
[1.3] Về sự tham gia tố tụng của đương sự:
Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần 2 không lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án.
2. Xét kháng cáo của bị đơn ông Đỗ Văn C, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[2.1] Theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày và Trích lục bản đồ địa chính ngày thể hiện: đất tranh chấp diện tích 298,7m², thuộc một phần thửa đất số 230, tờ bản đồ số 15, hiện diện tích này do gia đình ông C đang quản lý, sử dụng. Trên đất có 03 trụ bê tông và không còn tài sản nào khác. Các bên đương sự đều thống nhất với kết quả đo đạc, trích lục bản đồ địa chính nên làm căn cứ để giải quyết vụ án.
Quá trình thu thập chứng cứ xác định:
Nguyên đơn bà Trịnh Thị Ngọc T đăng ký kê khai diện tích đất 1678.7m², thửa đất 230, tờ bản đồ số 15, phường C, nguồn gốc do ông Trịnh T2, bà Đỗ Thị H7 khai hoang trước năm 1975 và tặng cho theo giấy viết tay ngày 20/6/2010. Chứng cứ nguyên đơn đưa ra là Biên bản hòa giải thành về tranh chấp thừa kế ngày 20/6/2012 tại Ủy ban nhân nhân phường C. Bị đơn ông C xác định đất do cha mẹ bị đơn khai hoang, sử dụng và đưa ra chứng cứ là “Giấy thỏa thuận đề ngày 01/7/2021” thể hiện các em gái là bà Đỗ Thị B1, bà Đỗ Thị C1 giao cho ông C quản lý, sử dụng diện tích 273.4m² thửa đất số 165, tờ bản đồ số 15 và không tranh chấp”
Theo biên bản xác minh ngày 22/4/2024 Ủy ban nhân dân phường C (nay là phường C) cung cấp: “Nguồn gốc thửa đất số 230, tờ bản đồ số 15, Theo bản đồ Hn72 đo đạc năm 1999 thuộc một phần thửa đất số 43, tờ bản đồ số 08, diện tích 923.1m² và một phần thửa đất số 45, tờ bản đồ số 08, diện tích 695.7m² và một phần thuộc mương nước do nhà nước quản lý, không có hồ sơ kỹ thuật, không có người kê khai; Theo bản đồ Vn2000 đo đạc theo dự án VLAP năm 2011, phần diện tích đất trên thuộc một phần thửa đất số 199, tờ bản đồ số 15, diện tích 749.1m² và một phần thửa đất số 166, tờ bản đồ số 15; diện tích 929.6m² do bà Trịnh Thị Ngọc T kê khai; Diện tích đất 273,4m² thuộc thửa đất số 165, tờ bản đồ số 15, không có người kê khai. Hiện nay, do ông C đang quản lý sử dụng”.
Tại Công văn số 4650/CNCR ngày 20/9/2021 của Văn phòng Đ2 Chi nhánh Có cung cấp: “Theo Trích lục bản đồ địa chính số 11/2019/TLBĐ ngày 23/01/2019 thì thửa đất số 165, tờ bản đồ số 15, diện tích 273.4m² do ông Nguyễn Bá N3 đăng ký kê khai”. Tuy nhiên, ông Nguyễn Bá N3 trình bày: “ông không biết gì về nguồn gốc thửa đất 165 tờ bản đồ số 15, diện tích 273.4m², phường C, ông không đăng ký kê khai, không tranh chấp thửa đất này”.
Theo kết quả thẩm định, đo đạc, hiện trạng đo vẽ theo sự chỉ dẫn của ông C thì ông đang quản lý sử dụng diện tích đất 589.3m², khi lồng ghép ranh giới giữa hai thửa đất 230 và thửa đất số 165 cùng tờ bản đồ số 15 thể hiện ông Đỗ Văn C đang quản lý diện tích 298.7m² thuộc một phần thửa đất 230, tờ bản đồ số 15, sử dụng vượt quá diện tích 273,4m² thửa 165 và không đúng diện tích theo giấy thỏa thuận của gia đình ông lập ngày 01/7/2021.
[2.2] Bị đơn ông Đỗ Văn C kháng cáo cho rằng ông là người quản lý sử dụng phần đất này từ 1995 đến nay, có ranh giới ổn định cũng như có những người làm chứng như: ông Văn Tiến D1, bà Nguyễn Thị L3, ông Đinh H8 xác nhận, tuy nhiên những người làm chứng không xác định được ranh giới đất của ông C cũng như diện tích ông C sử dụng. Các trình bày về nguồn gốc đất của ông Nguyễn Công L1, Nguyễn Thị C5 không được xác thực chữ ký. Do đó lời khai của người làm chứng không đủ yếu tố khách quan để được xác định là chứng cứ theo Điều 95 Bộ luật tố tụng dân sự. Đồng thời ông C cho rằng thửa 230 do cha ông khai hoang cùng cha bà T và được phân chia, tuy nhiên ông không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh diện tích đất cha ông được phân chia quyền sử dụng. Hiện trạng theo thẩm định của Toà án và sự thừa nhận của ông C, bà Văn Thị C2 thì đất bỏ trống, không có dấu hiệu tôn tạo. Việc bị đơn cắm 03 trụ bê tông phân định ranh giới không được chủ sở hữu bất động sản liền kề đồng ý, việc sử dụng đất của bị đơn có diện tích 298,7m² nằm trong thửa đất được bà T đăng ký kê khai là chiếm hữu không có căn cứ pháp luật quy định tại Điều 165 của Bộ luật dân sự. Do đó, Bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn di dời 03 trụ bê tông để trả lại cho nguyên đơn quyền sử dụng đất là có căn cứ. Bị đơn ông C kháng cáo nhưng không đưa ra được bất kỳ tài liệu hay chứng cứ nào làm thay đổi nội dung vụ án vì vậy kháng cáo của không được chấp nhận.
Từ những phân tích và nhận định nêu trên, quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên tại phiên tòa; Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của Bị đơn ông Đỗ Văn C; Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2025/DS-ST ngày 07/8/2025 của Toà án nhân dân Khu vực 2 - Khánh Hòa.
3. Về chi phí tố tụng: Số tiền 8.457.000 đồng phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản, trích lục bản đồ địa chính. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu chi phí tố tụng và có nghĩa vụ hoàn trả lại cho nguyên đơn. Tuy nhiên nguyên đơn bà T tự nguyện chịu và đã nộp đủ.
4. Về án phí dân sự:
- Án phí dân sự sơ thẩm: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận, nên người kháng cáo ông C phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm.
Ông Đỗ Văn C là người cao tuổi, có đơn nên được miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm. Bà Trịnh Thị Ngọc T được miễn nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm nên không phải hoàn trả tiền.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Khoản 9 Điều 26, Điều 37, Điều 39, Điều 91, Điều 95, Điều 147, Điều 148, Điều 227, Điều 228, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 165, Điều 175, Điều 176 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 11, Điều 26 Luật đất đai năm 2024; Điều 12, 26, 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Đỗ Văn C. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2025/DS-ST ngày 07/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Khánh Hòa. Cụ thể như sau:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trịnh Thị Ngọc T đối với bị đơn ông Đỗ Văn C về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Buộc ông Đỗ Văn C, bà Văn Thị C2 phải có nghĩa vụ tháo dỡ 03 trụ bê tông, trả lại cho cho bà Trịnh Thị Ngọc T quyền sử dụng đất diện tích 298.7m² thuộc một phần thửa đất số 230, tờ bản đồ số 15, phường C, được xác định bởi các mốc giới (10, 12, 5, 1, 2, 6, 7, 8, 9 ) theo Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 26 ngày 24/4/2025 của Chi nhánh văn phòng Đ2.
Về chi phí tố tụng:
Bà Trịnh Thị Ngọc T tự nguyện chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản, trích lục bản đồ địa chính và đã nộp đủ.
Về án phí dân sự:
Miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm, án phí dân sự phúc thẩm cho ông Đỗ Văn C.
Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự
Án xử phúc thẩm công khai, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 12/12/2025).
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Anh Trang |
Bản án số 225/2025/DS-PT ngày 12/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 225/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/12/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trinh Thi Ngoc T - Do Van C
