Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 16- THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 224/2025/HS-ST

Ngày 10 - 12 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Nam.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trịnh Văn Lực

2. Ông Lê Văn Công

Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Ngọc Linh, Thư ký Tòa án nhân dân khu

vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh

tham gia phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Anh, Kiểm sát viên.

Ngày 10/12/2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 165/2025/HSST ngày 16/9/2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 209/2025/QĐXXST-HS ngày 16/10/2025, đối với các bị cáo:

  1. Hà Văn H, sinh năm 1979 tại tỉnh Đồng Tháp; thường trú: Ấp L, xã L, huyện H, tỉnh Đồng Tháp (nay là xã L, tỉnh Đồng Tháp); nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 0/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Hà Văn T, sinh năm 1950 (đã chết) và bà Trần Thị T1, sinh năm 1950; bị cáo có 09 anh em, lớn nhất sinh năm 1967, nhỏ nhất sinh năm 1985; vợ tên Lê Thị Tiếu N, sinh năm 1979; có 02 con, lớn sinh năm 2001, nhỏ sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giam từ ngày 06/4/2025 cho đến nay. Có mặt.
  2. Lưu Minh H1, sinh năm 1976 tại tỉnh Bình Dương; thường trú: Số A, khu phố T, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 07/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Lưu B, sinh năm 1945 (đã chết) và bà Phạm C, sinh năm 1950; bị cáo có 07 anh em, lớn nhất sinh năm 1971, nhỏ nhất sinh năm 1984; vợ tên Nguyễn Thị Lý Ô L, sinh năm 1977; có 01 con sinh năm 2017; tiền án: Ngày 19/01/2000, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xử phạt 07 năm tù về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Sử dụng trái phép chất ma túy, chấp hành án xong ngày 16/01/2006, chưa đóng án phí và phần hình phạt bổ sung; tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 06/4/2025 cho đến nay. Có mặt.
  3. Trần Quốc H2, sinh năm 1991 tại tỉnh Đồng Tháp; thường trú: Ấp L, xã L, huyện H, tỉnh Đồng Tháp (nay là xã L, tỉnh Đồng Tháp); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Trần Văn M, sinh năm 1965 (chết) và bà Hà Thị L1, sinh năm 1969; vợ tên Thạch Thị Bé D, sinh năm 2005; có 03 con, lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinnh năm 2025; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giam từ ngày 06/4/2025 cho đến nay. Có mặt.
  4. Võ Hữu Đ, sinh năm 1985 tại tỉnh Đồng Tháp; thường trú: Khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp (nay là phường A, tỉnh Đồng Tháp); tạm trú: Số A, khu phố T, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 05/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; giới tính: Nam; con ông Võ Văn N1, sinh năm 1968 và bà Lê Thị N2, sinh năm 1968; bị cáo có 03 anh em, lớn sinh năm 1985, nhỏ sinh năm 2004; vợ tên Nguyễn Thị Ngọc B1, sinh năm 1990; có 01 con sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 06/4/2025 đến ngày 16/4/2025 được thay đổi biện pháp ngăn chặn trả tự do và áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
  5. Nguyễn Văn C1, sinh năm 1964 tại tỉnh Bình Dương; thường trú: Số A, khu phố T, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh); nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 03/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Lê Văn Đ1, sinh năm 1930 (chết) và bà Lê Thị S, sinh năm 1924 (chết); bị cáo có 03 anh em, lớn sinh năm 1960, nhỏ sinh năm 1964; vợ tên Phạm Thị Q, sinh năm 1972; có 02 con, lớn sinh năm 1995, nhỏ sinh năm 2000; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 06/4/2025 đến ngày 16/4/2025 được thay đổi biện pháp ngăn chặn trả tự do và áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
  6. Hà Ngọc H3, sinh năm 1984 tại tỉnh Bình Định; thường trú: Xóm Đ, thôn K, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định (nay là xã P, tỉnh Gia Lai); tạm trú: Phòng số 7, số nhà B, khu phố T, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 09/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Hà Ngọc A, sinh năm 1957 (chết) và bà Đoàn Thị T2, sinh năm 1957; bị cáo có 04 anh em, lớn nhất sinh năm 1981, nhỏ nhất sinh năm 1988; vợ tên Trần Thị Mỹ D1, sinh năm 1983; có 02 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 06/4/2025 đến ngày 16/4/2025 được thay đổi biện pháp ngăn chặn trả tự do và áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
  7. Võ Văn V, sinh năm 1982 tại tỉnh Bạc Liêu; thường trú: Số E, khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh); nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Võ Văn C2, sinh năm 1951 và bà Huỳnh Thị X, sinh năm 1953; bị cáo có 05 anh em, lớn nhất sinh năm 1974, nhỏ nhất sinh năm 1982; vợ tên Võ Thị C3, sinh năm 1986; có 02 con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo đầu thú và bị tạm giữ từ ngày 06/4/2025 đến ngày 16/4/2025 được thay đổi biện pháp ngăn chặn trả tự do và áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
  8. Lê Văn T3, sinh năm 1974 tại tỉnh Bạc Liêu; thường trú: Ấp C, xã L, huyện Đ, tỉnh Bạc Liêu (nay là xã L, tỉnh Cà Mau); tạm trú: Số A, khu phố T, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Làm gốm; trình độ học vấn: 01/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Lê Văn D2, sinh năm 1950 và bà Nguyễn Thị H4, sinh năm 1950; bị cáo có 02 anh em, lớn sinh năm 1974, nhỏ sinh năm 1975; vợ tên Đỗ Thị N3, sinh năm 1973; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo đầu thú và bị tạm giữ từ ngày 06/4/2025 đến ngày 16/4/2025 được thay đổi biện pháp ngăn chặn trả tự do và áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
  9. Lê Văn Quốc V1, sinh năm 1990 tại tỉnh Vĩnh Long; thường trú: Số A, tổ A, ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long (nay là phường P, tỉnh Vĩnh Long); tạm trú: Số C, khu phố B, phường L, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 11/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Lê Văn V2, sinh năm 1969 và bà Nguyễn Mỹ H5, sinh năm 1965; bị cáo có 02 anh em, lớn sinh năm 1990, nhỏ sinh năm 1997; vợ tên Nguyễn Thị Thúy D3, sinh năm 1980; có 01 con sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo đầu thú và bị tạm giữ từ ngày 06/4/2025 đến ngày 16/4/2025 được thay đổi biện pháp ngăn chặn trả tự do và áp dụng lệnh cấm đi khởi nơi cư trú. Có mặt.
  10. Nguyễn Thành T4, sinh năm 1976 tại Thành phố Hồ Chí Minh; thường trú: Số D, khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh); nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 07/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Nguyễn Q1, sinh năm 1947 (chết) và bà Ngô Thị L2, sinh năm 1949; bị cáo có 02 anh em, lớn sinh năm 1971, nhỏ sinh năm 1976; vợ tên Phạm Hoàng M1, sinh năm 1979; có 03 con, lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo đầu thú và bị tạm giữ từ ngày 06/4/2025 đến ngày 16/4/2025 được thay đổi biện pháp ngăn chặn trả tự do và áp dụng lệnh cấm đi khởi nơi cư trú. Có mặt.
  11. Hồ Văn S1, sinh năm 1976 tại tỉnh Đồng Tháp; thường trú: Tổ B, khóm C, phường F, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp (nay là phường C, tỉnh Đồng Tháp); tạm trú: Số E, khu phố H, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Hớt tóc; trình độ học vấn: 03/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Hồ Văn T5, sinh năm 1957 và bà Nguyễn Thị T6, sinh năm 1958; vợ tên Hồ Thị P, sinh năm 1983; có 01 con sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo đầu thú và bị tạm giữ từ ngày 06/4/2025 đến ngày 16/4/2025 được thay đổi biện pháp ngăn chặn trả tự do và áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
  12. Nguyễn Duy T7, sinh năm 2003 tại tỉnh An Giang; thường trú: Ấp P, xã Đ, huyện T, tỉnh An Giang (nay là xã Đ, tỉnh An Giang); tạm trú: NT Lê Thị Thanh T8, số 1/DC77/16, tổ I, đường N, khu phố H, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 05/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; giới tính: Nam; con ông Nguyễn Văn T9, sinh năm 1976 và bà Trần Thị Hoàng C4, sinh năm 1979; bị cáo có 04 anh em, lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2024; vợ tên Lâm Cát T10, sinh năm 2006; tiền án: Ngày 05/9/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xử phạt 02 năm tù về tội Cố ý gây thương tích, chấp hành án xong ngày 26/01/2025; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 06/7/2018, bị UBND thành phố T, tỉnh Bình Dương xử phạt vi phạm hành chính tại quyết định số 4404/QĐ-XPVPHC; bị bắt tạm giữ từ ngày 06/4/2025 đến ngày 16/4/2025 được thay đổi biện pháp ngăn chặn trả tự do và áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
  13. Phạm Thanh S2, sinh năm 1989 tại tỉnh An Giang; thường trú: Ấp V, xã V, thị xã T, tỉnh An Giang (nay là xã V, tỉnh An Giang); tạm trú: Nhà trọ Nguyễn Văn L3, số A khu phố H, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh); nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 07/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; giới tính: Nam; con ông Phạm Văn S3, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị Đ2, sinh năm 1967; bị cáo có 02 anh em, lớn sinh năm 1987, nhỏ sinh năm 1989; vợ tên Nguyễn Thị Mỹ P1, sinh năm 1989; có 02 con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 06/4/2025 đến ngày 16/4/2025 được thay đổi biện pháp ngăn chặn trả tự do và áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
  14. Lý Văn T11, sinh năm 1997 tại tỉnh Sóc Trăng; thường trú: Ấp V, xã V, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng (nay là phường N, thành phố Cần Thơ); tạm trú: NT Bùi Đức T12, số B, tổ G, khu phố B, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 09/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Khmer; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Lý Văn S4, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị S5, sinh năm 1964; bị cáo có 04 anh em, lớn nhất sinh năm 1983, nhỏ nhất sinh năm 1994; vợ tên Nguyễn Kim N4, sinh năm 1996; có 01 con sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 06/4/2025 đến ngày 16/4/2025 được thay đổi biện pháp ngăn chặn trả tự do và áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
  15. Nguyễn Hùng A1, sinh năm 1993 tại tỉnh Đồng Nai; thường trú: Tổ C, ấp G, xã T, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai (nay là xã P, tỉnh Đồng Nai); tạm trú: Số F, khu phố B, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ học vấn: 07/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Nguyễn Khắc B2, sinh năm 1965 và bà Lê Thị P2, sinh năm 1970; bị cáo có 02 anh em, lớn sinh năm 1991, nhỏ sinh năm 1993; vợ tên Hoàng Thị V3, sinh năm 1998; có 02 con, nhỏ sinh năm 2019, lớn sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 06/4/2025 đến ngày 16/4/2025 được thay đổi biện pháp ngăn chặn trả tự do và áp dụng lệnh cấm đi khởi nơi cư trú. Có mặt.
  16. Nguyễn Thành N5, sinh năm 1982 tại tỉnh An Giang; thường trú: Ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang (nay là xã P, tỉnh An Giang); tạm trú: Số A, khu phố H, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh); nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 06/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Hòa Hảo; giới tính: Nam; con ông Nguyễn Văn T13, sinh năm 1954 (chết) và bà Nguyễn Thị H6, sinh năm 1939 (chết); bị cáo có 05 anh em, lớn nhất sinh năm 1970, nhỏ nhất sinh năm 1986; vợ tên Nguyễn Thị Bé H7, sinh năm 1982; có 02 con, lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2006; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 06/4/2025 đến ngày 16/4/2025 được thay đổi biện pháp ngăn chặn trả tự do và áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
  17. Trương Quốc K, sinh năm 1988 tại tỉnh Đồng Tháp; thường trú: Ấp B, xã A, huyện C, tỉnh An Giang (nay là xã B, tỉnh An Giang); tạm trú: Tổ 4, khu phố K (NT N), phường T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 06/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Trương Minh C5, sinh năm 1964 và bà Ngô Thị Ngọc D4, sinh năm 1968; bị cáo có 03 anh em, lớn sinh năm 1986, nhỏ sinh năm 1993; vợ tên Trần Thị T14, sinh năm 1989; có 02 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 28/12/2023, bị Công an phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi tham gia tụ tập đông người gây mất trật tự công cộng, đóng tiền phạt ngày 25/9/2023; bị bắt tạm giữ từ ngày 06/4/2025 đến ngày 16/4/2025 được thay đổi biện pháp ngăn chặn trả tự do và áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
  18. Trần Hoàng T15, sinh năm 1993 tại tỉnh An Giang; thường trú: Ấp V, xã V, huyện A, tỉnh An Giang (nay là xã A, tỉnh An Giang); nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 09/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; giới tính: Nam; con ông Trần Văn T16, sinh năm 1972 và bà Nguyễn Thị C6, sinh năm 1974; bị cáo có 02 anh em, lớn sinh năm 1993, nhỏ sinh năm 1998; vợ tên Nguyễn Thị D3, sinh năm 1998; có 02 con, nhỏ sinh năm 2020, lớn sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 06/4/2025 đến ngày 16/4/2025 được thay đổi biện pháp ngăn chặn trả tự do và áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
  19. Trương Hoàng N6, sinh năm 2004 tại tỉnh An Giang; thường trú: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh An Giang (nay là xã T, tỉnh An Giang); tạm trú: Nguyễn Minh Â, số A, khu phố H, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 08/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Trương Văn K1, sinh năm 1968 (chết) và bà Trần Thị N7, sinh năm 1974; bị cáo có 01 chị, sinh năm 1997; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ từ ngày 06/4/2025 đến ngày 16/4/2025 được thay đổi biện pháp ngăn chặn trả tự do và áp dụng lệnh cấm đi khởi nơi cư trú. Có mặt.
  20. Lê Thành L4, sinh năm 1985 tại tỉnh An Giang; thường trú: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang (nay là xã B, tỉnh An Giang); tạm trú: Phòng số 4, số nhà D, khu phố H, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Chạy Grab; trình độ học vấn: 05/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; giới tính: Nam; con ông Lê Văn T17, sinh năm 1942 và bà Phạm Thị L5, sinh năm 1976 (đã chết); bị cáo có 01 anh, sinh năm 1983; vợ tên Nguyễn Thị C7, sinh năm 1990; có 02 con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo đầu thú và bị tạm giữ từ ngày 06/4/2025 đến ngày 16/4/2025 được thay đổi biện pháp ngăn chặn trả tự do và áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Trần Quốc H2: Bà Nguyễn Thị Diễm H8 - Luật sư thuộc Công ty L6 luật, đoàn luật sư tỉnh Bình Dương. Có mặt.

- Người chứng kiến: Lê Thanh B3, sinh năm 1996. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 09 giờ 30 phút, ngày 06/4/2025, Lực lượng Phòng C8 Công an tỉnh B (nay là Công an Thành phố H) tuần tra, phát hiện bắt quả tang tại bãi đất trống tại địa chỉ: Số A khu phố T, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) có 14 đối tượng đang có hành vi tổ chức đánh bạc và đánh bạc dưới hình thức đá gà thắng thua bằng tiền, gồm: Hà Văn H, Lưu Minh H1, Trần Quốc H2, Hà Ngọc H3, Nguyễn Duy T7, Nguyễn Văn C1, Võ Hữu Đ, Phạm Thanh S2, Lý Văn T11, Nguyễn Hùng A1, Nguyễn Thành N5, Trương Quốc K, Trần Hoàng T15, Trương Hoàng N6 và thu giữ gồm 03 con gà đá, 02 cặp cựa, 01 miếng nhựa, 01 cái cân loại 5kg. Lực lượng Công an tiến hành lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang và đưa tất cả về trụ sở Cơ quan điều tra Công an tỉnh B (nay là Công an Thành phố H) để làm việc. Trong quá trình làm việc, có thêm 06 đối tượng ra đầu thú, gồm có: Hồ Văn S1, Nguyễn Thành T4, Lê Văn T3, Lê Thành L4, Lê Văn Quốc V1, Võ Văn V, khai nhận về hành vi đánh bạc dưới hình thức đá gà thắng, thua bằng tiền như đã nêu trên.

Tang vật thu giữ trong vụ án, gồm:

  • 03 con gà đá (01 con gà điều trọng lượng 2,7kg; 01 con gà bướm trọng lượng 2,6kg; 01 con gà điều trọng lượng 3,4kg).
  • 02 cặp cựa.
  • 01 miếng nhựa.
  • 01 cái cân hiệu Nhơn Hòa 5kg.
  • 01 điện thoại di động Iphone 14 Pro max màu đen, 128GB, không sim (Của Trương Hoàng N6).
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro max 128 Gb màu xanh, sim số 0355552809 (Của Lý Văn T11).
  • 01 điện thoại di động Reamle C55 màu đen, sim số 0933428.918 (Của Hà Văn H).
  • 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus màu gold, sim số 0968379811 (Của Trương Quốc K).
  • 01 điện thoại di động hiệu Vivo V23e màu đen sim số 0333194441, (Của Lê Văn Quốc V1).
  • 01 điện thoại di động Sam sung Galaxy A23 màu hồng, sim số 0981536578. (Của Hồ Văn S1).
  • 01 điện thoại di động hiệu Oppo A55 màu xanh, sim số 0386577990 (Của Lê Thành L4).
  • 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro màu Gold 256 GB (Của Nguyễn Duy T7).
  • Số tiền 14.890.000 đồng thu giữ trong người các bị cáo.

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H xác định như sau:

Hà Văn H là người tổ chức đứng ra cáp kèo, làm trọng tài, thu tiền của bên thua chung cho bên thắng khi các bên đánh bạc dưới hình thức đá gà, thu tiền xâu 1.000.000 đồng/trận. Để thuận tiện cho việc tổ chức đánh bạc, H thuê Trần Quốc H2 hỗ trợ cung cấp băng keo cựa gà, lấy nước tưới gà và Lưu Minh H1 hỗ trợ dọn sân, cung cấp nước tưới sân đá gà với tiền công mỗi người 20.000 đồng/1 trận. Vào khoảng 08 giờ 00 phút ngày 06/4/2025, Hà Văn H lên hệ với các đối tượng có gà đá để tổ chức đá cá cược thắng, thua bằng tiền và cùng với Trần Quốc H2, Lưu Minh H1 đã tổ chức 02 trận đá gà thắng, thua bằng tiền tại tại bãi đất trống tại địa chỉ: Số A khu phố T, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) cụ thể như sau:

Trận 1: Giữa con gà khét, trọng lượng 3,4kg và con gà điều nặng 3,4kg, đá xổ với tổng số tiền đánh bạc là 13.000.000 đồng.

Hà Văn H là trọng tài đứng ra cáp kèo cho con gà khét của Hà Văn H đá với gà điều của Võ Văn V, đá xổ 1 trận là 6.500.000 đồng (Tổng số tiền đánh bạc là 13.000.000 đồng), H thỏa thuận thu tiền xâu 1.000.000 đồng/1 trận. Cụ thể:

Nhóm thứ nhất (Gà khét) gồm: Hà Văn H (chủ gà) thỏa thuận sử dụng 3.500.000 đồng, Võ Hữu Đ sử dụng 250.000 đồng, Nguyễn Văn C1 sử dụng 250.000 đồng, Lưu Minh H1 sử dụng 500.000 đồng, Hà Ngọc H3 sử dụng 500.000 đồng, Trần Quốc H2 sử dụng 500.000 đồng và một người nam thanh niên không rõ lai lịch đứng xem thỏa thuận sử dụng 1.000.000 đồng.

Nhóm thứ hai (Gà điều) gồm: Võ Văn V (chủ gà) thỏa thuận sử dụng 2.000.000 đồng, Lê Văn Q2 V1 sử dụng 500.000 đồng, Lê Thành L4 sử dụng 2.000.000 đồng, Lê Văn T3 sử dụng 1.000.000 đồng, Nguyễn Thành T4 sử dụng 1.000.000 đồng, Hồ Văn S1 không góp tiền mà hỗ trợ giúp sức hẹn cá cược đá gà cho nhóm của V.

Sau khi thảo thuận xong 02 con gà đá được 10 phút thì con gà khét của H thua con gà điều của V. Lúc này, H thu 1.000.000 đồng của người thanh niên chưa rõ lai lịch để chung tiền cho V1 (hiện người thanh niên này đã bỏ trốn trước khi Lực lượng Công an vào bắt quả tang), số tiền còn lại nhóm của H chưa gom đủ nên H nói với V1 về đi chiều qua gặp H lấy tiền thì V1 đồng ý.

Như vậy, tổng số tiền đánh bạc trong trận đá gà này là 13.000.000 đồng (Mười ba triệu đồng).

Trận 2: Giữa con gà điều, trọng lượng 2,6 kg và con gà bướm nặng 2,6 kg, đá xổ với tổng số tiền đánh bạc là 7.000.000 đồng.

Hà Văn H là trọng tài đứng ra cáp kèo cho con gà điều của Trương Quốc K đá với con gà bướm của Lý Văn T11, đá xổ 1 trận là 3.500.000 đồng (Tổng số tiền đánh bạc là 7.000.000 đồng), H thỏa thuận thu tiền xâu 1.000.000 đồng/1 trận. Cụ thể:

Nhóm thứ nhất (gà điều) gồm: Trương Quốc K (chủ gà) thỏa thuận sử dụng 500.000 đồng, Phạm Thanh S2 sử dụng 500.000 đồng, Nguyễn Thành N5 sử dụng 500.000 đồng, Trương Hoàng N6 sử dụng 500.000 đồng, Trần Hoàng T15 sử dụng 500.000 đồng, Nguyễn Duy T7 sử dụng 500.000 đồng và một người nam thanh niên không rõ lai lịch đứng xem thỏa thuận sử dụng 500.000 đồng.

Nhóm thứ hai (gà bướm) gồm: Lý Văn T11 (chủ gà) thỏa thuận sử dụng 3.000.000 đồng và Nguyễn Hùng A1 sử dụng 500.000 đồng.

Sau khi thống nhất kèo 3.500.000 đồng thì hai bên băng cựa vào 02 con gà, bên nhóm của K thì K là người trực tiếp thả gà, bên T11 thì T11 là người trực tiếp thả gà, còn Hà Văn H làm trọng tài, sau khi thả gà đá được khoảng 10 phút thì có Lực lượng Công an tuần tra đến phát hiện bắt quả tang, có một số đối tượng không rõ nhân thân, lai lịch chạy thoát khỏi hiện trường. Riêng các đối tượng Hồ Văn S1, Nguyễn Thành T4, Lê Văn T3, Lê Thành L4, Lê Văn Quốc V1, Võ Văn V đã bỏ về trước đó do đã kết thúc trận đá gà (trận 1), nên đã đến Cơ quan Công an tỉnh B (nay là Công an Thành phố H) để đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Như vậy, tổng số tiền đánh bạc trong trận này là 7.000.000 đồng (Bảy triệu triệu đồng).

Ngày 15/4/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H ra quyết định khởi tố vụ án, quyết định khởi tố bị can, đối với Hà Văn H, Lưu Minh H1, Trần Quốc H2 về tội Đánh bạc và Tổ chức đánh bạc, quy định tại khoản 1 Điều 321 và khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025); đối với Võ Hữu Đ, Nguyễn Văn C1, Hà Ngọc H3, Võ Văn V, Lê Văn T3, Lê Văn Quốc V1, Nguyễn Thành T4, Hồ Văn S1, Nguyễn Duy T7, Phạm Thanh S2, Lý Văn T11, Nguyễn Hùng A1, Nguyễn Thành N5, Trương Quốc K, Trần Hoàng T15, Trương Hoàng N6, Lê Thành L4, về tội Đánh bạc, quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025).

Cáo trạng số 129/CT-VKS-DA ngày 12 tháng 9 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Hà Văn H, Lưu Minh H1, Trần Quốc H2 về tội Đánh bạc và Tổ chức đánh bạc quy định tại khoản 1 Điều 321 và Điểm a khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025); đối với bị cáo Võ Hữu Đ, Nguyễn Văn C1, Hà Ngọc H3, Võ Văn V, Lê Văn T3, Lê Văn Quốc V1, Nguyễn Thành T4, Hồ Văn S1, Nguyễn Duy T7, Phạm Thanh S2, Lý Văn T11, Nguyễn Hùng A1, Nguyễn Thành N5, Trương Quốc K, Trần Hoàng T15, Trương Hoàng N6, Lê Thành L4, về tội Đánh bạc, quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điểm a khoản 1 Điều 322; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 55; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025).
  • Xử phạt bị cáo Hà Văn H từ 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù về tội Đánh bạc và từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng về tội Tổ chức đánh bạc.
  • Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điểm a khoản 1 Điều 322; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 55; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025).
  • Xử phạt bị cáo Lưu Minh H1 từ 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù về tội Đánh bạc và từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng về tội Tổ chức đánh bạc.
  • Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điểm a khoản 1 Điều 322; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 55; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025).
  • Xử phạt bị cáo Trần Quốc H2 từ 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù về tội Đánh bạc và từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng về tội Tổ chức đánh bạc.
  • Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025).
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy T7 từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù.
  • Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điều 32; Điều 35; Điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025).
  • Xử phạt các bị cáo Võ Văn V, Lê Văn T3, Lê Văn Quốc V1, Nguyễn Thành T4, Hồ Văn S1, Lê Thành L4 mỗi bị cáo từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng.
  • Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điều 32; Điều 35; Điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025).
  • Xử phạt các bị cáo Võ Hữu Đ, Nguyễn Văn C1, Hà Ngọc H3, Phạm Thanh S2, Lý Văn T11, Nguyễn Hùng A1, Nguyễn Thành N5, Trương Quốc K, Trần Hoàng T15, Trương Hoàng N6 mỗi bị cáo từ 25.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng.
  • Về xử lý vật chứng trong vụ án:
    • Đối với 03 con gà đá trong đó gồm: 01 con gà điều trọng lượng 2,7kg, 01 con gà bướm trọng lượng 2,6kg, 01 con gà điều trọng lượng 3,4kg, quá trình điều tra xác định là vật chứng các bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B (nay là Công an Thành phố H) đã lập Biên bản tiêu huỷ tang vật vào ngày 16/4/2025.
    • Đối với 02 cặp cựa, 01 miếng nhựa, 01 cái cân hiệu Nhơn Hòa 5kg, quá trình điều tra xác định là công cụ các bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.
    • Đối với 01 điện thoại di động Iphone 14 Pro màu đen, 128GB, không sim (thu giữ của Trương Hoàng N6); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax 128 Gb màu xanh, sim số 0355552809 (thu giữ của Lý Văn T11), 01 điện thoại di động reamle C55 màu đen, sim số 0933428.918 (thu giữ của Hà Văn H); 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus màu gold, sim số 0968379811 (thu giữ của Trương Quốc K); 01 điện thoại di động hiệu vivo V23e màu đen sim số 0333194441 (thu giữ của Lê Văn Quốc V1); 01 điện thoại di động Sam sung Galaxy A23 màu hồng, sim số 0981536578 (thu giữ của Hồ Văn S1); 01 điện thoại di động hiệu Oppo A55 màu xanh, sim số 0386577990 (thu giữ của Lê Thành L4); 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro màu Gold 256 GB (thu giữ của Nguyễn Duy T7). Quá trinh điều tra xác định là phương tiện các bị cáo sử dụng liên hệ thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước và tịch thu tiêu huỷ các sim số 0355552809, 0933428.918, 0968379811, 0333194441, 0981536578, 0386577990 theo quy định.
    • Đối với tổng số tiền 6.250.000 đồng thu giữ trong vụ án, gồm: Hà Văn H 2.000.000 đồng, Nguyễn Thành T4 900.000 đồng, Trương Hoàng N6 500.000 đồng, Lý Văn T11 600.000 đồng, Trần Hoàng T15 850.000 đồng, Nguyễn Thành N5 500.000 đồng, Trương Quốc K 500.000 đồng, Phạm Thanh S2 400.000 đồng. Quá trình điều tra là tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc nên cần tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.
    • Đối với tổng tiền 8.640.000 đồng thu giữ trong vụ án, gồm: Trương Hoàng N6 500.000 đồng, Nguyễn Văn C1 3.040.000 đồng, Hà Ngọc H3 2.200.000 đồng, Nguyễn Thành N5 1.500.000 đồng, Trương Quốc K 1.400.000 đồng. Quá trình điều tra xác định là tiền cá nhân không sử dụng đánh bạc nên cần trả lại cho các bị cáo theo quy định.
    • Đối với hai đối tượng không rõ nhân thân, lai lịch đã trốn thoát (gồm, một đối tượng trận 1 và một đối tượng trận 2), Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H tiếp tục xác minh, xử lý sau.

Người bào chữa cho bị cáo Trần Quốc H2 trình bày: Thống nhất với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh Đánh bạc và Tổ chức đánh bạc đối với bị cáo H2. Về tình tiết giảm nhẹ, xét bị cáo H2 có nhiều tình tiết giảm nhẹ như gia đình bị cáo có công với cách mạng, bản thân bị cáo có tham gia nghĩa vụ quân sự; bị cáo phạm tội với vai trò đồng phạm giúp sức, người nhờ bị cáo thực hiện hành vi phạm tội là cậu của bị cáo; hành vi phạm tội của bị cáo không nguy hiểm cho xã hội, chưa hưởng lợi, số tiền bị cáo đánh bạc không lớn, bị cáo hiện là lao động chính trong gia đình. Bị cáo H2 và các bị cáo khác đã nhận thức được hành vi của mình là sai trái nên kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, các bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, khung hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân đồng thời các bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Căn cứ lời khai của các bị cáo và chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, xác định: Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 06/4/2025, tại bãi đất trống địa chỉ: Số A, khu phố T, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) Hà Văn H cùng với Lưu Minh H1, Trần Quốc H2 đã sử dụng địa điểm, làm trọng tài, thu tiền xâu tổ chức đánh bạc và cùng đánh bạc với các bị cáo Võ Hữu Đ, Nguyễn Văn C1, Hà Ngọc H3, Võ Văn V, Lê Văn T3, Lê Văn Quốc V1, Nguyễn Thành T4, Hồ Văn S1 dưới hình thức đá gà thắng, thua bằng tiền một trận với tổng số tiền đánh bạc là 13.000.000 đồng. Đến khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, tại địa điểm trên H, Trần Quốc H2, Lưu Minh H1 tiếp tục tổ chức cho các bị cáo Nguyễn Duy T7, Phạm Thanh S2, Lý Văn T11, Nguyễn Hùng A1, Nguyễn Thành N5, Trương Quốc K, Trần Hoàng T15, Trương Hoàng N6, Lê Thành L4 đánh bạc dưới hình thức đá gà thắng, thua bằng tiền một trận với tổng số tiền đánh bạc là 7.000.000 đồng, thì bị Lực lượng Công an phát hiện lập Biên bản bắt quả tang cùng tang vật.

Như vậy, hành vi của các bị cáo Hà Văn H, Lưu Minh H1, Trần Quốc H2 đã đủ yếu tố cấu thành về tội Đánh bạc và Tổ chức đánh bạc quy định tại khoản 1 Điều 321 và khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025); các bị cáo Võ Hữu Đ, Nguyễn Văn C1, Hà Ngọc H3, Võ Văn V, Lê Văn T3, Lê Văn Quốc V1, Nguyễn Thành T4, Hồ Văn S1, Nguyễn Duy T7, Phạm Thanh S2, Lý Văn T11, Nguyễn Hùng A1, Nguyễn Thành N5, Trương Quốc K, Trần Hoàng T15, Trương Hoàng N6, Lê Thành L4 đã đủ yếu tố cấu thành tội Đánh bạc quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025).

Do đó, Cáo trạng số: 129/CT-VKS-DA ngày 12 tháng 9 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố Hà Văn H, Lưu Minh H1, Trần Quốc H2 đã đủ yếu tố cấu thành về tội Đánh bạc và Tổ chức đánh bạc, quy định tại khoản 1 Điều 321 và Điểm a khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025); các bị cáo Võ Hữu Đ, Nguyễn Văn C1, Hà Ngọc H3, Võ Văn V, Lê Văn T3, Lê Văn Quốc V1, Nguyễn Thành T4, Hồ Văn S1, Nguyễn Duy T7, Phạm Thanh S2, Lý Văn T11, Nguyễn Hùng A1, Nguyễn Thành N5, Trương Quốc K, Trần Hoàng T15, Trương Hoàng N6, Lê Thành L4 đã đủ yếu tố cấu thành tội Đánh bạc, quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025) là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; các bị cáo hoàn toàn đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

[3] Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do các bị cáo Hà Văn H, Lưu Minh H1, Trần Quốc H2 thực hiện là nghiêm trọng; các bị cáo khác là ít nghiêm trọng. Hành vi của các bị cáo đã gây mất trật tự trị an tại địa phương, xâm phạm trật tự công cộng, trật tự xã hội. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được đánh bạc dưới mọi hình thức thắng thua bằng tiền đều vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích tư lợi đã cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc, xem xét tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo đủ để giáo dục cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

[4] Các bị cáo phạm tội có tính chất đồng phạm nhưng là giản đơn không có sự cấu kết chặt chẽ, không có sự bàn bạc, phân công vai trò cụ thể khi thực hiện hành vi phạm tội nên không xem là phạm tội có tổ chức.

[5] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Duy T7, Lưu Minh H1 phạm tội thuộc trường hợp tái phạm. Các bị cáo khác không có.

[6] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà, các bị cáo Hà Văn H, Lưu Minh H1, Trần Quốc H2, Nguyễn Duy T7 đã thành khẩn khai báo và có thái độ ăn năn hối cải. Bị cáo Hà Văn H gia đình có hoàn cảnh khó khăn, có xác nhận của chính quyền địa phương; bị cáo Trần Quốc H2 có ông là liệt sỹ, bà là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất; bị cáo H2, H1 từng tham gia nghĩa vụ quân sự. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Các bị cáo Võ Hữu Đ, Nguyễn Văn C1, Hà Ngọc H3, Võ Văn V, Lê Văn T3, Lê Văn Quốc V1, Nguyễn Thành T4, Hồ Văn S1, Phạm Thanh S2, Lý Văn T11, Nguyễn Hùng A1, Nguyễn Thành N5, Trương Quốc K, Trần Hoàng T15, Trương Hoàng N6, Lê Thành L4 thành khẩn khai báo và có thái độ ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo Phạm Văn S6 gia đình thuộc diện cận nghèo, có bà ngoại là người có công với cách mạng được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba; bị cáo Hà Ngọc H3 từng tham gia nghĩa vụ quân sự; bị cáo Võ Văn V có ông ngoại là liệt sỹ; bị cáo Lê Văn Quốc V1 gia đình có hoàn cảnh khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương; bị cáo Lý Văn T11 có bà ngoại là bà mẹ Việt Nam anh hùng, cậu ruột là liệt sỹ, dì ruột là bà mẹ Việt Nam anh hùng; các bị cáo Lê Văn T3, Lê Văn Quốc V1, Hồ Văn S1, Võ Văn V, Lê Thành L4, Nguyễn Thành T4 đầu thú. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[7] Về nhân thân: Các bị cáo Hà Văn H, Trần Quốc H2, Võ Hữu Đ, Nguyễn Văn C1, Hà Ngọc H3, Võ Văn V, Lê Văn T3, Lê Văn Quốc V1, Nguyễn Thành T4, Hồ Văn S1, Phạm Thanh S2, Lý Văn T11, Nguyễn Hùng A1, Nguyễn Thành N5, Trương Quốc K, Trần Hoàng T15, Trương Hoàng N6, Lê Thành L4 là người có nhân thân tốt thể hiện các bị cáo là người chưa có tiền án, tiền sự và người lao động. Các bị cáo Lưu Minh H1, Nguyễn Duy T7 có nhân thân xấu.

[8] Về hình phạt:

- Hình phạt chính:

+ Xét các bị cáo Hà Văn H, Lưu Minh H1, Trần Quốc H2 tổ chức cho các bị cáo khác đánh bạc đồng thời cùng tham gia đánh bạc với các bị cáo khác. Bị cáo Lưu Minh H1, Nguyễn Duy T7 có tiền án chưa được xóa án tích nay lại phạm tội mới. Hành vi của các bị cáo cần phải xử lý nghiêm nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo H, H1, H2 và T7, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung. Đồng thời để đảm bảo cho việc thi hành án nên cần tiếp tục áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo T7.

+ Xét bị cáo Võ Hữu Đ, Nguyễn Văn C1, Hà Ngọc H3, Võ Văn V, Lê Văn T3, Lê Văn Quốc V1, Nguyễn Thành T4, Hồ Văn S1, Phạm Thanh S2, Lý Văn T11, Nguyễn Hùng A1, Nguyễn Thành N5, Trương Quốc K, Trần Hoàng T15, Trương Hoàng N6, Lê Thành L4 phạm tội ít nghiêm trọng, có nơi cư trú và làm việc rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân tốt và người lao động, hơn nữa trong thời gian tại ngoại các bị cáo chấp hành tốt chính sách pháp luật tại địa phương, thời gian tạm giữ cũng đủ sức răn đe, giáo dục các bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo. Do áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo nên cần hủy bỏ các Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh đối với các bị cáo.

- Về hình phạt bổ sung: Xét việc các bị cáo bị áp dụng các hình phạt như trên cũng đủ sức răn đe giáo dục các bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[9] Về xử lý vật chứng:

- Đối với 03 (con gà đá trong đó gồm: 01 con gà điều trọng lượng 2,7kg, 01 con gà bướm trọng lượng 2,6kg, 01 con gà điều trọng lượng 3,4kg, quá trình điều tra xác định là vật chứng các bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B (nay là Công an Thành phố H) đã lập Biên bản tiêu huỷ tang vật vào ngày 16/4/2025 là có căn cứ.

- Tịch thu tiêu hủy: 02 cặp cựa, 01 miếng nhựa, 01 cái cân hiệu Nhơn Hòa loại 5kg, sim số 0355552809, 0933428.918, 0968379811, 0333194441, 0981536578, 0386577990.

- Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động Iphone 14 Pro mã màu đen, 128GB, không sim (thu giữ của Trương Hoàng N6), 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro max 128 Gb màu xanh, sim số 0355552809 (thu giữ của Lý Văn T11), 01 điện thoại di động reamle C55 màu đen, sim số 0933428.918 (thu giữ của Hà Văn H), 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus màu gold, sim số 0968379811 (thu giữ của Trương Quốc K), 01 điện thoại di động hiệu vivo V23e màu đen sim số 0333194441 (thu giữ của Lê Văn Quốc V1); 01 điện thoại di động Sam sung Galaxy A23 màu hồng, sim số 0981536578 (thu giữ của Hồ Văn S1), 01 điện thoại di động hiệu Oppo A55 màu xanh, sim số 0386577990 (thu giữ của Lê Thành L4), 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro màu Gold 256 GB (thu giữ của Nguyễn Duy T7).

- Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước: Số tiền 6.250.000 đồng thu giữ trong vụ án, gồm: Hà Văn H 2.000.000 đồng, Nguyễn Thành T4 900.000 đồng, Trương Hoàng N6 500.000 đồng, Lý Văn T11 600.000 đồng, Trần Hoàng T15 850.000 đồng, Nguyễn Thành N5 500.000 đồng, Trương Quốc K 500.000 đồng, Phạm Thanh S2 400.000 đồng.

- Đối với tổng tiền 8.640.000 đồng thu giữ trong vụ án, gồm: Trương Hoàng N6 500.000 đồng, Nguyễn Văn C1 3.040.000 đồng, Hà Ngọc H3 2.200.000 đồng, Nguyễn Thành N5 1.500.000 đồng, Trương Quốc K 1.400.000 đồng. Quá trình điều tra xác định là tiền cá nhân không sử dụng đánh bạc nên cần trả lại cho các bị cáo theo quy định.

[10] Đối với hai đối tượng không rõ nhân thân, lai lịch đã trốn thoát (gồm, một đối tượng trận 1 và một đối tượng trận 2) Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H đã điều tra nhưng không xác định được nhân thân lai lịch các đối trượng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H tiếp tục xác minh, xử lý sau.

[11] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh về các tội danh, điều luật áp dụng, xử lý vật chứng, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của các bị cáo là phù hợp. Về mức hình phạt đề nghị đối với các bị cáo H, H1, H2, T7 là chưa phù hợp nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

[12] Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo H2 là có căn cứ chấp nhận.

[13] Án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Đ3 a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Hà Văn H, Lưu Minh H1, Trần Quốc H2 phạm tội “Đánh bạc” và “Tổ chức đánh bạc”; các bị cáo Võ Hữu Đ, Nguyễn Văn C1, Hà Ngọc H3, Võ Văn V, Lê Văn T3, Lê Văn Quốc V1, Nguyễn Thành T4, Hồ Văn S1, Nguyễn Duy T7, Phạm Thanh S2, Lý Văn T11, Nguyễn Hùng A1, Nguyễn Thành N5, Trương Quốc K, Trần Hoàng T15, Trương Hoàng N6, Lê Thành L4 phạm tội “Đánh bạc”.

1.1 Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điểm a khoản 1 Điều 322; Điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 55; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025.

Xử phạt bị cáo Hà Văn H 07 (bảy) tháng tù về tội Đánh bạc và 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội Tổ chức đánh bạc.

Tổng hợp hình phạt chung của 02 tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 01 (một) năm 10 (mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/4/2025.

1.2 Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điểm a khoản 1 Điều 322; Điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 55; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025.

Xử phạt bị cáo Lưu Minh H1 07 (bảy) tháng tù về tội Đánh bạc và 01 (một) năm tù về tội Tổ chức đánh bạc.

Tổng hợp hình phạt chung của 02 tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 01 (một) năm 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/4/2025.

1.3 Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điểm a khoản 1 Điều 322; Điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 55; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025.

Xử phạt bị cáo Trần Quốc H2 06 (sáu) tháng tù về tội Đánh bạc và 01 (một) năm tù về tội Tổ chức đánh bạc.

Tổng hợp hình phạt chung của 02 tội buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/4/2025.

1.4 Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Duy T7 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 06/4/2025 đến ngày 16/4/2025.

Tiếp tục áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh cho đến khi bị cáo Nguyễn Duy T7 đi chấp hành án phạt tù.

1.5 Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025.

  • Xử phạt bị cáo Phạm Thanh S2 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng.
  • Xử phạt bị cáo Hà Ngọc H3 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng.
  • Xử phạt bị cáo Võ Văn V 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng.
  • Xử phạt bị cáo Lê Văn Quốc V1 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng.
  • Xử phạt bị cáo Lý Văn T11 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng.
  • Xử phạt bị cáo Lê Văn T3 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng.
  • Xử phạt bị cáo Hồ Văn S1 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng.
  • Xử phạt bị cáo Lê Thành L4 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng.
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T4 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng.

1.6 Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025.

  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C1 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng.
  • Xử phạt bị cáo Võ Hữu Đ 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng.
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Hùng A1 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng.
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành N5 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng.
  • Xử phạt bị cáo Trương Quốc K 25.000.000 (hai mươi lăm triệu) đồng.
  • Xử phạt bị cáo Trần Hoàng T15 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng.
  • Xử phạt bị cáo Trương Hoàng N6 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm a khoản 1 Điều 46; Điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • Tịch thu tiêu hủy: 02 cặp cựa; 01 miếng nhựa; 01 cái cân hiệu Nhơn Hòa 5kg; sim số 0355552809, 0933428918, 0968379811, 0333194441, 0981536578, 0386577990.
  • Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động Iphone 14 Pro max màu đen, 128GB; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro max 128GB màu xanh; 01 điện thoại di động realme C55 màu đen; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus màu gold; 01 điện thoại di động hiệu vivo V23e màu đen; 01 điện thoại di động Sam sung Galaxy A23 màu hồng; 01 điện thoại di động hiệu Oppo A55 màu xanh; 01 điện thoại di động Iphone 12 Pro màu Gold 256 GB.
  • Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước: Số tiền 6.250.000 đồng.
  • Hoàn trả cho các bị cáo số tiền 8.640.000 đồng thu giữ trong vụ án, gồm: Trương Hoàng N6 500.000 đồng, Nguyễn Văn C1 3.040.000 đồng, Hà Ngọc H3 2.200.000 đồng, Nguyễn Thành N5 1.500.000 đồng, Trương Quốc K 1.400.000 đồng.

Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/10/2025.

3. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Các bị cáo Hà Văn H, Lưu Minh H1, Trần Quốc H2, Võ Hữu Đ, Nguyễn Văn C1, Hà Ngọc H3, Võ Văn V, Lê Văn T3, Lê Văn Quốc V1, Nguyễn Thành T4, Hồ Văn S1, Nguyễn Duy T7, Phạm Thanh S2, Lý Văn T11, Nguyễn Hùng A1, Nguyễn Thành N5, Trương Quốc K, Trần Hoàng T15, Trương Hoàng N6, Lê Thành L4 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo, người bào chữa cho bị cáo H2 có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - VKSND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Công an Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Trại tạm giam CA Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - THADS Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - TAND khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí minh;
  • - Sở tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Phòng PV06 CA Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - UBND nơi cư trú của bị cáo;
  • - Lưu: VT, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Viết Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 224/2025/HS-ST ngày 10/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm (tội đánh bạc và tổ chức đánh bạc)

  • Số bản án: 224/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Đánh bạc và Tổ chức đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc và tổ chức đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger