TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 218/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 01-12-2025.
V/v "Ly hôn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Hoa Hạnh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Ngọc Phương.
- Ông Lê Văn Công.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Tấn – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 277/2025/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 8 năm 2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 214/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2025, quyết định hoãn phiên tòa ngày 13 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1954; địa chỉ: 3 khu phố T, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương (nay là phường Đ, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Bà Đặng Thị N, sinh năm 1955; địa chỉ: 3 khu phố T, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương (nay là phường Đ, Thành phố Hồ Chí Minh); vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng nguyên đơn trình bày:
Ông Nguyễn Văn M và bà Đặng Thị N tự nguyện tìm hiểu, chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện T, tỉnh Sông Bé (nay là phường D, Thành phố Hồ Chí Minh) theo giấy chứng nhận kết hôn số 99/1981, cấp ngày 18/12/1981.
Sau khi kết hôn vợ chồng ông về sống tại khu phố T, phường B, D, tỉnh Bình Dương. Vợ chồng sống hạnh phúc, đều có công việc làm ổn định đủ lo cho cuộc sống gia đình. Đến năm 2016, tuy cuộc sống ổn định nhưng giữa vợ chồng lại xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là bất đồng quan điểm nên thường xuyên gây gỗ và sống lạnh nhạt với nhau. Mặc dù đã nhiều lần cố gắng hòa giải, nỗ lực hàn gắn tình cảm nhưng không thành nên đầu năm 2025, ông M gửi đơn đến Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An để xin ly hôn, sau đó ngày 25/6/2025 ông rút đơn và Tòa án đã đình chỉ việc giải quyết. Ngày 10/7/2025 ông lại tiếp tục nộp đơn xin ly hôn với bà N.
Về con chung: Ông M khai có 03 con chung tên Nguyễn Văn H, sinh năm 1980; Nguyễn Thụy Thanh T, sinh năm 1981; Nguyễn Tấn P, sinh năm 1992. Tất cả đã trưởng thành và có cuộc sống riêng nên không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn bà Đặng Thị N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, các thông báo công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo kết quả phiên họp kiểm tra công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa, bà N không đến Tòa và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; không cung cấp tài liệu, chứng cứ nào.
* Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Các đương sự không cung cấp tài liệu chứng cứ nào khác.
- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu: Từ khi thụ lý vụ án đến trước phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Về phần thủ tục Kiểm sát viên không có kiến nghị khắc phục gì thêm. Về việc giải quyết vụ án: Yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự và bị đơn cư trú tại phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương (nay là phường Đ, Thành phố Hồ Chí Minh) nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại các điều 227, 228 và 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn M và bà Đặng Thị N kết hôn năm 1981, có đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nên hôn nhân của hai bên là hợp pháp theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Quá trình chung sống, theo lời trình bày của ông M, mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ năm 2016 do bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi nhau, đời sống chung lạnh nhạt, mục đích hôn nhân không đạt được. Hai bên đã nhiều lần cố gắng hàn gắn nhưng không thành. Ông M từng nộp đơn xin ly hôn vào đầu năm 2025 nhưng rút đơn, sau đó tiếp tục yêu cầu ly hôn, thể hiện tình trạng hôn nhân đã thật sự trầm trọng và không thể khắc phục.
Xét thấy, quan hệ hôn nhân vợ chồng chỉ tồn tại bền vững dựa trên tình cảm thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình và khi có những bất đồng trong cuộc sống thì phải cùng nhau hàn gắn, xóa bỏ những mâu thuẫn, duy trì tình cảm tốt đẹp. Tuy nhiên, quan hệ hôn nhân giữa ông ông M, bà N rạn nứt, không còn quan tâm chăm sóc nhau. Đồng thời, quá trình tiến hành tố tụng Tòa án đã triệu tập bà N tham gia làm việc, hòa giải, nhưng bà vẫn không đến, không có bất kỳ ý kiến đưa ra về việc mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng. Do đó, có đủ căn cứ xác định tình trạng hôn nhân đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của ông M là có cơ sở chấp nhận.
[2.2] Về con chung: Các con chung gồm Nguyễn Văn H, sinh năm 198; Nguyễn Thụy Thanh T, sinh năm 1981, Nguyễn Tấn P, sinh năm 1992 đều đã trưởng thành, tự lập. Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không đặt ra xem xét.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét trong phạm vi vụ án.
[3] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên Tòa chấp nhận.
[4]. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: ông Nguyễn Văn M là người cao tuổi, có đơn đề nghị miễn án phí. Do đó, ông M được miễn nộp tiền án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, 227, 228, 238, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ các Điều 51, 56, 57 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn M về việc "Ly hôn" đối với bị đơn bà Đặng Thị N.
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn M được ly hôn với bà Đặng Thị N.
- Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật, giấy chứng nhận kết hôn số 99/1981, cấp ngày 18/12/1981 do Ủy ban nhân dân xã A, huyện T, tỉnh Sông Bé (nay là phường D, Thành phố Hồ Chí Minh) cấp cho ông ông M và bà N không còn giá trị pháp lý.
- Về con chung: Đã trưởng thành.
- Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về án phí: Ông Nguyễn Văn M được miễn nộp tiền án phí.
3. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hoa Hạnh |
Bản án số 218/2025/HNGĐ-ST ngày 01/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 218/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 01/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Minh yêu cầu ly hôn với bà Ngà
