Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án: 209/2025/HS-ST

Ngày: 09/12/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Huệ Chi.
  • - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Xuyến
  • 2. Bà Đặng Thị Ngọc Hằng
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Dung – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 1, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Công Vũ - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 1, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 212/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 310/2025/QĐXXST-HS ngày 24/11/2025 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Văn S, sinh ngày 11/4/1996; tại TP. H; nơi cư trú: số A đường C, Phường B, quận P, TP. H (nay là phường C, TP. H); chỗ ở: phòng D, nhà số B đường T, Khu phố B, Phường C, Quận D, TP. H (nay là phường V, TP. H); nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Thiên Chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H (chết) và bà Phạm Thị Trường A; tiền án: Ngày 13/8/2014, Tòa án nhân dân quận Bình Tân xử phạt 05 năm 03 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Bản án số 245/2014/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/8/2017, đã nộp án phí. Ngày 24/5/2019, Tòa án nhân dân quận Tân Bình xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 52/2019/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/12/2020, đã nộp án phí. Ngày 25/11/2021, Tòa án nhân dân quận Tân Bình xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 134/2021/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 19/10/2024, đã nộp án phí; tiền sự: không; nhân thân: không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/02/2025 đến nay; bị cáo có mặt.
  2. Phan Thị Hồng X, sinh ngày 20/10/1998; tại TP. H; nơi cư trú: số C đường H, Phường A, Quận H, TP. H (nay là phường P, TP. H); nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Hoàng P (chết) và mẹ không rõ; có chồng là Nguyễn Công V và 02 con; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: ngày 15/7/2024, Ủy ban nhân dân Phường A1 Quận H ra Quyết định áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy (Quyết định số 646/QĐQL); bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/02/2025 đến nay; bị cáo có mặt.
  3. Nguyễn Đức Minh C, sinh ngày 16/01/2000; tại TP. H; nơi cư trú: số F đường L, Phường A, quận P, TP. H (nay là phường P, TP. H); chỗ ở: phòng D, nhà số B đường T, Khu phố B, Phường C, Quận D, TP. H (nay là phường V, TP. H); nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức T và bà Vi Thị Hồng N; tiền án: Ngày 22/6/2022, Tòa án nhân dân quận Bình Tân xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số 93/2022/HS-ST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/10/2024. Cơ quan Thi hành án dân sự chưa thụ lý Bản án trên; tiền sự: không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/02/2025 đến nay; bị cáo có mặt.
  4. Nguyễn Thùy D, sinh ngày 23/02/1991; tại TP. H; nơi cư trú: số C đường T, Khu phố B, phường V, TP. H; chỗ ở: số S đường T, Khu phố C, phường V, TP. H; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1 và bà Huỳnh Thị H1 (chết); có 02 con; tiền án: không; tiền sự: không; bị tạm giữ, tạm giam từ 24/02/2025 đến nay; bị cáo có mặt.
  • - Người bào chữa cho bị cáo Phan Thị Hồng X: Luật sư Cao Tuyết V1 - Luật sư thuộc Đoàn luật sư tỉnh Q.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Kim Thị Thu H2, sinh năm 1994 (vắng mặt)
  • Địa chỉ: Ấp C, xã H, huyện V, tỉnh Bạc Liêu (nay là xã H, tỉnh Cà Mau).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 21 giờ 45 phút ngày 21/02/2025, Công an P1, Quận D (nay là phường V) kiểm tra hành chính phòng 403, nhà số B đường T, Phường C, Quận D (nay là phường V), TP. H. Tại thời điểm kiểm tra phát hiện Nguyễn Văn S và Phan Thị Hồng X có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy. Quá trình kiểm tra, S lấy ra từ trong tủ quần áo 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 chai nhựa có nắp màu đỏ có gắn 01 ống hút nhựa và 01 ống thủy tinh có dính ma túy Methamphetamine tự nguyện giao nộp cho Công an. Công an P1, Quận D tiến hành thu giữ đồ vật và đưa S cùng với X về trụ sở để làm rõ. Đến 01 giờ ngày 22/02/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Q thi hành lệnh khám xét khẩn cấp phòng 403, nhà số B đường T, Phường C, Quận D, TP. H. Tại thời điểm khám xét có mặt của Nguyễn Đức Minh C (bạn cùng phòng với S). Kết quả khám xét thu giữ được 01 lọ thủy tinh màu nâu bên trong có 01 gói nylon chứa 0,4154 gam ma túy loại Methamphetamine, S khai số ma túy trên là của mình, cất giữ nhằm mục đích sử dụng.

Tại Cơ quan điều tra, S, X và C khai nhận: đã cùng nhau sử dụng ma túy đá chung với Nguyễn Thùy D và 01 đối tượng tên L (không rõ lai lịch) vào tối ngày 21/02/2025 tại phòng trọ của S và C. Cơ quan Công an tiến hành mời D về trụ sở làm việc.

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra xác định: S và C có mối quan hệ bạn bè ngoài xã hội, quen biết nhau do cùng chấp hành án phạt tù tại Trại giam P2; thông qua một người bạn tù khác tên N1, S quen biết với D. Căn phòng số 403 tại nhà số B đường T, Phường C, Quận D (nay là phường V), TP. H do C thuê từ đầu tháng 02/2025. Khoảng hai tuần trước khi bị bắt, C cho S đến ở chung và chia tiền phòng (BL 213-214, 223-224).

Khoảng 17 giờ ngày 20/02/2025, S có nhu cầu sử dụng ma túy nên liên hệ với một phụ nữ tên “T2” qua số điện thoại 0909.189.xxx để mua 500.000 đồng ma túy đá. T2 đồng ý và hẹn giao tại khu vực cầu G, TP. H. Sang thuê xe ôm đến gặp T2 tại khu vực đối diện số A đường L, phường L, TP. H giao tiền và nhận 01 gói ma túy đá. Sau đó, S về phòng trọ, lấy bộ dụng cụ gồm 01 chai nhựa có nắp màu đỏ gắn 01 ống hút nhựa và 01 ống thủy tinh, để sử dụng ma túy. S sử dụng xong, trong ống thủy tinh vẫn còn ma túy chưa dùng hết (BL 211-217).

Tối ngày 20/02/2025, S liên hệ với D nhờ gửi tiền thăm nuôi N1 (em trai D, bạn tù của S) và mua đồ ăn mang đến phòng trọ. Do bận việc, đến khoảng 00 giờ ngày 21/02/2025, D nhờ L mua đồ ăn mang sang cho S; L chở theo bạn gái là Phan Thị Hồng X cùng đi. Khi đến nơi, vì L quen biết từ trước nên xin S ở lại qua đêm, S đồng ý và đưa L cùng X lên phòng 403, lúc này C vừa đi làm về. Tại đây, S rủ L và X sử dụng ma túy, cả hai đồng ý, C cũng xin tham gia. S lấy bộ dụng cụ chứa sẵn ma túy đặt trên giường để cả nhóm cùng sử dụng. S đốt nóng ống thủy tinh rồi lần lượt đưa chuyền tay cho L sau đó đưa X, C mỗi người một lần, sau đó tự mình sử dụng. Sau đó, với cách thức tương tự, mỗi người tiếp tục sử dụng thêm hai lần rồi đi ngủ. Trong nỏ vẫn còn ma túy chưa dùng hết. Khoảng 08 giờ cùng ngày, cho rằng số ma túy còn lại không đủ cho cả nhóm sử dụng, S tiếp tục liên lạc với T2 mua thêm 500.000 đồng ma túy theo cách thức cũ. Trên đường đi, S gọi điện cho D nhờ mua đồ ăn; D đồng ý nhưng hẹn sẽ qua sau vì bận việc. Sau khi nhận ma túy, S mang về phòng trọ, để gói trên đĩa đặt trên giường ngủ để dùng dần. Lúc này, L và X vẫn ngủ, C đã ra ngoài, S liền gọi C đi mua đồ ăn cho cả nhóm.

Đến 15 giờ ngày 21/02/2025, D đến, S nhờ C xuống mở cổng đưa lên phòng. Sau đó, cả nhóm gồm S, X, C, D và L ngồi trên giường cùng sử dụng ma túy. S dùng bật lửa đốt ống thủy tinh, lần lượt đưa chuyền tay cho D, L, X, C, rồi mới tự sử dụng. Khi ma túy trong ống đã hết, S giao nỏ cho D lấy thêm ma túy từ gói trên đĩa đổ một phần vào ống thủy tinh để cả nhóm tiếp tục sử dụng, phần ma tuý còn lại D để lại trên đĩa. D sau đó đưa nỏ cho C tự đốt, những người khác thì được S đốt cho sử dụng.

Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 21/02/2025, C ngừng sử dụng ma túy để đi làm, S cũng rời phòng để về nhà mẹ ruột. L cũng ra về do có việc riêng, trong phòng chỉ còn lại D và X ngồi lại đến chiều tối. Lúc này, X lấy nỏ rồi dùng bật lửa đốt ma túy lên rồi đưa cho D sử dụng trước, X sử dụng sau. Sau khi sử dụng ma tuý xong thì D đi về.

Khoảng 19 giờ ngày 21/02/2025, L đến nhà D tại số S đường T, Phường A, Quận D (nay là phường V), nhờ D gọi điện cho X (đang ở phòng 403) tháo ống thủy tinh có chứa ma túy ra cho L đem đi sử dụng. Sau đó, L chở D đến trước nhà B đường T, X xuống đưa nỏ thủy tinh cho L rồi L chở D về lại nhà. Một lúc sau, X gọi cho D nhờ mang quần áo đến, D đồng ý. D quay lại phòng 403, đưa quần áo cho X và mang theo một ống thủy tinh khác để thay vào bộ dụng cụ X đang giữ (do trước đó X đã tháo ống cũ đưa cho L). Thấy trên đĩa còn gói ma túy đá của S, D lấy ra một phần cho cả hai sử dụng, phần còn lại để nguyên. Sau đó, X đốt nỏ, đưa D sử dụng trước rồi mới đến lượt mình. Khi số ma túy trong ống đã hết, D rời đi, X tiếp tục ở lại phòng 403 nghỉ ngơi.

Khoảng 21 giờ ngày 21/02/2025, S trở về phòng trọ, lúc này chỉ còn X ở trong phòng. Khoảng 10 phút sau, lực lượng Công an P1, Quận D tiến hành kiểm tra hành chính. Do lo sợ bị phát hiện, S lấy gói nylon ma túy còn lại trên đĩa bỏ vào lọ thủy tinh màu nâu đặt trên bàn, đồng thời cất bộ dụng cụ vào tủ quần áo. Sau đó, bị Cơ quan Công an phát hiện thu giữ tang vật và đưa về trụ sở làm việc.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, S, X, C và D đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Kết quả xét nghiệm chất ma túy đối với S, X, C, D là dương tính với ma túy đá Methamphetamine.

Tại kết luận giám định số 3035/KL-KTHS ngày 27/02/2025 của Phòng K1 Công an Thành phố H xác định 02 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Quốc K (Điều tra viên) và hình dấu Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Q, bên trong chứa: Gói 1 có 01 ống thủy tinh dính ma túy Methamphetamine, không xác định được khối lượng; Gói 2 có 01 gói nylon chứa tinh thể là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,4154 gam, loại Methamphetamine (BL 158).

Đối với người đàn ông tên L, là người chở Phan Thị Hồng X đến phòng 403, nhà số B đường T, Phường C, Quận D (nay phường V), TP. H và cùng sử dụng ma túy chung với nhóm của S, X, C, D. Do chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra chưa có căn cứ xử lý.

Đối với đối tượng tên “T2” là người bán ma túy cho S, sử dụng số điện thoại 0909.189.xxx, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh. Do chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên chưa có căn cứ xử lý.

Vật chứng vụ án:

  • - 02 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Điều tra viên Nguyễn Quốc K và hình dấu Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Q. Bên trong là chất ma túy còn lại sau giám định.
  • Thu giữ của S: 01 bình nhựa có nắp màu đỏ có gắn 01 ống hút nhựa; 01 lọ thủy tinh màu nâu, 01 cân tiểu ly; 01 bịch nylon bên trong chứa nhiều gói nylon không chứa gì; 05 bật lửa, 03 ống hút nhựa; 01 điện thoại di động Nokia màu xanh, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động Iphone màu đen, đã qua sử dụng.
  • Thu giữ của X: 01 điện thoại di động Realme màu xanh, đã qua sử dụng.
  • Thu giữ của C: 01 điện thoại di động Iphone màu tím có ốp lưng không màu, đã qua sử dụng; 01 xe mô tô Honda Vario màu đỏ, biển số 94FD-037.85, đứng tên chủ sở hữu hợp pháp là Kim Thị Thu H2 (sinh năm 1994, Bạc Liêu). Ngày 26/01/2025, H2 cho C mượn để đi lại, không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của C.
  • Thu giữ của D: 01 điện thoại di động Iphone màu xanh đậm, bị nứt vỏ màn hình, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động Nokia màu đen, Model RM-1187 đã qua sử dụng.

Toàn bộ số vật chứng tạm giữ nêu trên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an Thành phố H đã nhập kho vật chứng Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 – Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại bản Cáo trạng số 143/CT-VKSKV1 ngày 23/9/2025, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 và điểm a, b, h khoản 2 Điều 255; Nguyễn Đức Minh C, Nguyễn Thùy D về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255; Phan Thị Hồng X về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa hôm nay:

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1, Thành phố Hồ Chí Minh giữ quyền công tố luận tội và tranh luận như sau: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội như trên. Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử như sau:

1/ Đối với bị cáo Nguyễn Văn S:

  • - Áp dụng Điều 50; điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đề nghị xử phạt từ 05 (năm) năm đến 06 (sáu) năm tù;
  • - Áp dụng điểm a, b, h khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 55 Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo S phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, đề nghị xử phạt bị cáo S từ 11 (mười một) đến 12 (mười hai) năm tù.
  • Tổng hợp hình phạt từ 16 (mười sáu) năm đến 18 (mười tám) năm tù.

2/ Đối với bị cáo Nguyễn Đức Minh C:

Áp dụng Điều 50; điểm b khoản 2 Điều 255; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo C phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, đề nghị xử phạt từ 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) năm tù.

3/ Đối với bị cáo Nguyễn Thùy D:

Áp dụng Điều 50; điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo D phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, đề nghị xử phạt từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm tù.

4/ Đối với bị cáo Phan Thị Hồng X:

Áp dụng Điều 50; điểm a khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo X phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, đề nghị xử phạt từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm tù

Xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

  • - Luật sư Cao Tuyết V1 trình bày lời bào chữa cho bị cáo X: Thống nhất với tội danh tại Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố. Yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét về hoàn cảnh gia đình khó khăn, nhân thân để áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để tuyên mức án nhẹ nhất đối với bị cáo.
  • - Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã nêu. Lời nói sau cùng 04 bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Q (nay là Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Thành phố H), Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Căn cứ lời khai nhận tội của các bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, Bản kết luận giám định số 3035/KL-KTHS ngày 27/02/2025 của Phòng K1 - Công an Thành phố H và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đã có đầy đủ cơ sở kết luận:

Vào tối ngày 21/02/2025, các bị cáo Nguyễn Văn S, Nguyễn Đức Minh C, Phan Thị Hồng X và Nguyễn Thùy D có hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép ma túy” với nhau. Trong đó, S và C cung cấp địa điểm sử dụng ma tuý là phòng 403, nhà số B đường T, Phường C, Quận D (nay là phường V), TP. H; bị cáo S cung cấp ma tuý và đốt ma tuý cho cả nhóm sử dụng nhiều lần; bị cáo D bỏ ma tuý vào nỏ cho cả nhóm cùng sử dụng ma tuý.

Cũng tại địa điểm trên, bị cáo X và D cùng nhau sử dụng ma túy 02 lần vào khoảng 16 giờ 30 phút và khoảng 19 giờ ngày 21/02/2025 và X là người chủ động đưa ma tuý cho D sử dụng.

Bị cáo S là đối tượng có tiền án thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, chưa xóa án tích nên hành vi phạm tội lần này của S phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, b, h khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo S cất giữ 0,4154 gam ma tuý loại Methamphetamine nên phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Hành vi bị cáo C và D đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Hành vi của bị cáo X đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

[3] Xét các bị cáo biết ma túy là chất gây nghiện đã bị Nhà nước cấm tàng trữ và tổ chức sử dụng trái phép nên hành vi trên của các bị cáo là vi phạm pháp luật, xâm hại đến chế độ quản lý các chất gây nghiện của Nhà nước, làm phổ biến lối sống nghiện ngập, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Trong vụ án này có tính chất đồng phạm giản đơn giữa bị cáo nên căn cứ Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự quy định về đồng phạm để có mức án tương xứng với tính chất mức độ, vai trò tham gia của từng bị cáo.

[4] Tình tiết tăng nặng: Bị cáo C có 01 bản án chưa xóa án tích, nay áp dụng điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự về tái phạm để tăng nặng một phần trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

[5] Tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho 04 bị cáo.

[6] Vật chứng vụ án:

  • - Đối với 02 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Điều tra viên Nguyễn Quốc K và hình dấu Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Q. Bên trong là chất ma túy còn lại sau giám định, là vật cấm lưu hành nên tịch thu, tiêu hủy.
  • - Đối với vật chứng thu giữ của S: 01 bình nhựa có nắp màu đỏ có gắn 01 ống hút nhựa; 01 lọ thủy tinh màu nâu, 01 cân tiểu ly; 01 bịch nylon bên trong chứa nhiều gói nylon không chứa gì; 05 bật lửa, 03 ống hút nhựa. Các vật trên không có giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy; Đối với 01 điện thoại di động Nokia màu xanh, 01 điện thoại di động Iphone màu đen, không dùng để liên lạc với các bị cáo khác nên giao trả lại cho S.
  • - Đối với vật chứng thu giữ của X: 01 điện thoại di động Realme màu xanh, không dùng để liên lạc với các bị cáo khác nên giao trả lại cho X.
  • - Đối với vật chứng thu giữ của C: 01 điện thoại di động Iphone màu tím, không dùng để liên lạc với các bị cáo khác nên giao trả lại cho C;
  • - Đối với vật chứng thu giữ của D: 01 điện thoại di động Iphone màu xanh đậm; 01 điện thoại di động N2 màu đen, không dùng để liên lạc với các bị cáo khác nên giao trả lại cho D;
  • - Đối với 01 xe mô tô Honda Vario màu đỏ, biển số 94FD-037.85, đứng tên chủ sở hữu hợp pháp là bà Kim Thị Thu H2. Ngày 26/01/2025, bà H2 cho C mượn để đi lại, không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của C, nên giao trả lại cho bà H2 là có căn cứ.

[7] Đối với người đàn ông tên L, là người chở bị cáo X đến phòng 403, nhà số B đường T, Phường C, Quận D (nay phường V), TP. H và cùng sử dụng ma túy chung với nhóm của S, X, C, D. Do chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra chưa có căn cứ xử lý.

[8] Đối với đối tượng tên “T2” là người bán ma túy cho Nguyễn Văn S, sử dụng số điện thoại 0909.189.xxx, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh. Do chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên chưa có căn cứ xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ Điều 50; điểm o khoản 2 Điều 249; điểm a, b, h khoản 2 Điều 255; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025;

    Xử phạt:

    Bị cáo Nguyễn Văn S 05 (năm) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù chung cho hai tội là 15 (mười lăm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/02/2025.
  2. Căn cứ Điều 50; điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025;

    Xử phạt:

    Bị cáo Nguyễn Thùy D 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 24/02/2025.
  3. Căn cứ Điều 50; điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025;

    Xử phạt:

    Bị cáo Nguyễn Đức Minh C 09 (chín) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 24/02/2025.
  4. Căn cứ Điều 50; điểm a khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2024, 2025;

    Xử phạt:

    Bị cáo Phan Thị Hồng X 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 24/02/2025.

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

  • - Tịch thu, tiêu hủy 02 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên điều tra viên Nguyễn Quốc K và hình dấu Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Q. Bên trong là chất ma túy còn lại sau giám định; 01 bình nhựa có nắp màu đỏ có gắn 01 ống hút nhựa; 01 lọ thủy tinh màu nâu, 01 cân tiểu ly; 01 bịch nylon bên trong chứa nhiều gói nylon không chứa gì; 05 bật lửa, 03 ống hút nhựa;
  • - Giao trả cho Nguyễn Văn S 01 điện thoại di động Nokia màu xanh, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động Iphone màu đen, đã qua sử dụng.
  • - Giao trả cho Phan Thị Hồng X 01 điện thoại di động Realme màu xanh, đã qua sử dụng.
  • - Giao trả cho Nguyễn Đức Minh C 01 điện thoại di động Iphone màu tím có ốp lưng không màu, đã qua sử dụng.
  • - Giao trả cho Nguyễn Thùy D 01 điện thoại di động Iphone màu xanh đậm, bị nứt vỏ màn hình, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động Nokia màu đen, Model RM-1187 đã qua sử dụng.
  • - Giao trả cho bà Kim Thị Thu H2 01 xe mô tô Honda Vario màu đỏ, biển số 94FD-037.854.

(Tang vật tịch thu, tiêu hủy; Giao trả cho các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được ghi trong Quyết định chuyển vật chứng số 04/QĐ-VKSKV1 ngày 23/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1, Thành phố Hồ Chí Minh).

Căn cứ các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc mỗi bị cáo chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Căn cứ các Điều 331, 333, 336 và Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Các bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong hạn 15 ngày kể từ được tống đạt bản án, hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND TP. HCM;
  • - VKSND KV1, TP. HCM;
  • - Công an TP. HCM;
  • - Trại giam Chí Hòa – Công an TP. HCM;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Thi hành án dân sự TP. HCM;
  • - Đương sự;
  • - Lưu VP, hồ sơ.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Huệ Chi

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 209/2025/HS-ST ngày 09/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 209/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn văn S và đồng phạm - Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, Tàng trữ trái phep chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger