Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 207/2025/DS-PT

Ngày: 27/11/2025

V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Quý Sửu

Các Thẩm phán: Bà Lý Thị Thuý và bà Vũ Thị An

Thư ký phiên tòa: Ông Cao Văn Chiến, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên: Ông Lương Dương Tùng Anh, Kiểm sát viên.

Ngày 27/11/2025, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 99/2025/DS-PT ngày 02/10/2025 về việc kiện Tranh chấp quyền sử dụng đất.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 02/2025/DS-ST ngày 17/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Thái Nguyên có kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 165/2025/QĐ-PT ngày 03/11/2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1981 và ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1979; địa chỉ: TDP K, phường B, tỉnh Thái Nguyên; có mặt.

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn G, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1975; địa chỉ: TDP K, phường B, tỉnh Thái Nguyên; có mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: UBND thành phố S, tỉnh Thái Nguyên; người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng: Chủ tịch UBND phường B; đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Văn H - Chức vụ: Trưởng phòng Kinh tế, Hạ tầng và Đô thị; đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn ông Nguyễn Văn S và bà Nguyễn Thị T trình bày:

Thửa đất số 1794, tờ bản đồ số 8 phường L, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên, nay là phường B, tỉnh Thái Nguyên có nguồn gốc do cụ Nguyễn Văn G1 và cụ Dương Thị X là bố mẹ đẻ ông S khai phá từ năm 1970, năm 1994 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 24/12/2008, cụ G1, cụ X được cấp đổi lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 1188, tờ bản đồ số 8, diện tích 2.408m2, ngày 24/01/2011 cụ G1 và cụ X đã lập hợp đồng tặng cho vợ chồng ông S, bà T một phần diện tích thửa đất số 1188. Ngày 29/4/2011, ông S, bà T được UBND thành phố T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số hiệu thửa mới là thửa số 1794, tờ bản đồ số số 8, diện tích 556m2, trong đó đất ở tại nông thôn 300m2, đất trồng cây lâu năm 256m2 mang tên Nguyễn Văn S và Nguyễn Thị T.

Giáp ranh với thửa đất số 1794 của gia đình ông S, bà T là thửa đất số 1189, tờ bản đồ số số 8, diện tích 432m2, loại đất nuôi trồng thủy sản, UBND thành phố T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 17/10/2007 mang tên ông Nguyễn Văn G và bà Nguyễn Thị C, ông G bà C sử dụng trồng lúa. Quá trình sử dụng, gia đình ông G đã cuốc đất từ thửa đất 1794 của gia đình ông S xuống thửa ruộng của ông G, diện tích đất lấn chiếm khoảng 40m2. Ngoài ra, gia đình ông G còn tự ý chặt cây cối hoa màu trên đất của gia đình ông, bà. Ngày 05/6/2023, ông G đã làm đơn đề nghị chính quyền địa phương giải quyết việc tranh chấp đất đai giữa hai gia đình nhưng không thành.

Tại biên bản xem xét thẩm định tại chỗ, nguyên đơn xác định diện tích 24,2m2, tài sản trên đất có khóm tre từ thời cha ông để lại thuộc thửa đất 1794 do ông S, bà T đang quản lý sử dụng. Sau khi được nhận bản đo hiện trạng, nguyên đơn rút yêu cầu khởi kiện đối với diện tích đất trên. Ông S, bà T yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Văn G, bà Nguyễn Thị C trả lại diện tích đất đã lấn chiếm là 39,5m2 theo bản trích đo hiện trạng thuộc thửa đất số 1794, tờ bản đồ số 8 phường L, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên, nay là phường B, tỉnh Thái Nguyên.

Bị đơn ông Nguyễn Văn G, bà Nguyễn Thị C trình bày:

Về nguồn gốc thửa đất số 1189, tờ bản đồ số 8 phường L, thành phố S (nay là phường B, tỉnh Thái Nguyên): Năm 1995, ông G, bà C được bố mẹ đẻ ông G chia cho đất để sử dụng, canh tác. Đến ngày 17/10/2007, được UBND thành phố T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 1189, tờ bản đồ số 8, diện tích 432m2, đất nuôi trồng thủy sản mang tên ông Nguyễn Văn G và bà Nguyễn Thị C. Gia đình ông G, bà C sử dụng thửa đất từ đó cho đến năm 2016 thì phát sinh tranh chấp với gia đình ông S, bà T. Nguyên nhân là do gia đình bà T, ông S đào ao chở đất đổ lấp lối xuống ao và ruộng của gia đình ông, bà. Ngoài ra, ông S, bà T còn rào lại không cho gia đình ông đi lại. Năm 2023, ông G đã làm đơn đề nghị UBND phường L giải quyết tranh chấp, lúc đó ông mới biết anh trai ông là Nguyễn Văn G1 đã tách chia đất cho vợ chồng con trai là ông S, bà T.

Ông G, bà C không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn với lý do: Hiện trạng sử dụng đất của 02 gia đình đã có từ đời cha ông, bờ cao, bờ thấp rõ ràng; cụ thể bờ cao thuộc thửa 1794, tờ bản đồ số 8 của nhà bà T, ông S là đoạn nối các điểm 34, 35, 36, 37, 38. Việc ông S, bà T cho rằng vợ chồng ông G, bà C cuốc đất từ thửa 1794 xuống thửa 1189 của gia đình là không đúng. Thời điểm ông Nguyễn Văn G1, bà Dương Thị X tặng cho đất bà T, ông S, gia đình ông G, bà C không được ký giáp ranh. Ông G, bà C đề nghị Tòa án công nhận ranh giới giữa hai thửa 1794 và 1189 theo hiện trạng sử dụng đất ổn định từ trước đến nay và đề nghị Tòa án hủy một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BG 053424 ngày 29/4/2011 mang tên Nguyễn Văn S và Nguyễn Thị T đối với diện tích là 39,5m2 mà bà T, ông S yêu cầu gia đình ông bà phải trả lại.

Đại diện UBND thành phố S, người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng là Chủ tịch UBND phường B, tỉnh Thái Nguyên trình bày:

Trên cơ sở Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Nguyễn Văn G1, bà Dương Thị X đã được UBND thành phố T cấp ngày 24/12/2008, căn cứ hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn G1, bà Dương Thị X cho ông Nguyễn Văn S, bà Nguyễn Thị T đã được UBND xã L chứng thực ngày 24/01/2011; căn cứ Biên bản kiểm tra hiện trạng sử dụng đất và chỉnh lý bản đồ ngày 17/01/2011 có sự chứng kiến của Tổ trưởng TDP Kè, UBND thành phố T đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông S, bà T thửa đất số 1794, tờ bản đồ số 8, diện tích 556m2, trong đó có 300m2 đất ở + 256m2 đất CLN theo đúng thoả thuận giữa bên tặng cho và bên nhận tặng cho, theo Biên bản xác định kích thước, diện tích hiện trạng sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngày 17/01/2011.

Ông Nguyễn Văn G, bà Nguyễn Thị C đã được UBND thành phố T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 17/10/2007 tại thửa đất số 1189, tờ bản đồ 8, diện tích 432m2 loại đất NTS theo bản đồ địa chính đo đạc tháng 01 năm 1995, đề nghị Tòa án xem xét giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 02/2025/DS-ST ngày 17/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Thái Nguyên đã quyết định:

  1. Đình chỉ xét xử yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Văn S đối với ông Nguyễn Văn G, bà Nguyễn Thị C về việc tranh chấp quyền sử dụng đất đối với diện tích 24,2m2 là đoạn nối các điểm 2, 3, 4, 5, 6, 63, 2 theo bản đo vẽ hiện trạng của Công ty CP T1 và Xây dựng số 6.
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Văn S đối với ông Nguyễn Văn G, bà Nguyễn Thị C về việc tranh chấp quyền sử dụng đất.

    - Buộc vợ chồng ông Nguyễn Văn G, bà Nguyễn Thị C phải có trách nhiệm trả lại diện tích đất đã lấn chiếm là 39,5m2 (là đoạn nối các điểm 34, 35, 36, 37, 38, 1, 59, 58, 34 theo bản trích đo hiện trạng của Công ty CP T1), đồng thời có trách nhiệm thu hoạch, di dời toàn bộ cây trồng, công trình trên đất (nếu có) để trả lại hiện trạng đất cho bà T, ông S quản lý sử dụng theo quy định của pháp luật. (Vị trí, diện tích đất phải trả lại có ký hiệu thể hiện trên sơ đồ đo vẽ hiện trạng dụng đất của Công ty CP T1 và Xây dựng số 6 cụ thể kèm theo bản án này).

  3. Về nghĩa vụ chịu chi phí tố tụng khác: Buộc vợ chồng ông G, bà C phải có nghĩa vụ hoàn trả lại cho vợ chồng ông S, bà T số tiền là 9.600.000 đồng (Chín triệu sáu trăm nghìn đồng).

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, lãi suất chậm thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự

Ngày 23/7/2025, bị đơn ông Nguyễn Văn G và bà Nguyễn Thị C có đơn kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 02/2025/DS-ST ngày 17/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Thái Nguyên.

Nội dung kháng cáo, bị đơn cho rằng nguyên đơn không có căn cứ chứng minh việc bị đơn cuốc đất lấn chiếm vào thửa 1794 của nguyên đơn. Đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xem xét lại hiện trạng thửa đất số 1794 và 1189, yêu cầu nguyên đơn trả lại mặt bằng lối xuống ao, ruộng của nguyên đơn như ban đầu.

Tại phiên toà phúc thẩm, bị đơn ông Nguyễn Văn G, bà Nguyễn Thị C giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo, các đương sự giữ nguyên quan điểm trình bày tại Toà án cấp sơ thẩm. Ông G, bà C cho rằng có thể do thửa đất 1794 của ông S nằm ở bờ cao, thửa ruộng 1189 của gia đình ông nằm phía thấp, quá trình sử dụng đất sạt lở ruộng bờ cao xuống bờ thấp, nên diện tích ruộng của gia đình ông nằm vào phần ruộng của gia đình ông S thì ông nhất trí, thực tế ông không cuốc để lấn chiếm đất.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên phát biểu quan điểm: Thẩm phán chủ tọa phiên toà, Hội đồng xét xử và các đương sự chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn G, bà Nguyễn Thị C, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

  1. Bị đơn ông Nguyễn Văn G, bà Nguyễn Thị C kháng cáo trong hạn luật định, đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm, được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Về nội dung:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và nội dung kháng cáo của bị đơn, Hội đồng xét xử thấy:

Về nguồn gốc thửa đất tranh chấp:

  1. Thửa đất số 1794, tờ bản đồ số 8 phường L, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên, nay là phường B, tỉnh Thái Nguyên có nguồn gốc do cụ Nguyễn Văn G1 và cụ Dương Thị X là bố mẹ đẻ ông S khai phá từ năm 1970, năm 1994 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngày 24/12/2008, cụ G1, cụ X được cấp đổi lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 1188, tờ bản đồ số 8, diện tích 2.408m2, ngày 24/01/2011 cụ G1, cụ X lập hợp đồng tặng cho vợ chồng ông S, bà T một phần diện tích thửa đất số 1188. Ngày 29/4/2011, ông S, bà T được UBND thành phố T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là thửa số 1794, tờ bản đồ số số 8, diện tích 556m2 mang tên Nguyễn Văn S và Nguyễn Thị T. Tiếp giáp với thửa đất số 1794 của gia đình ông S, bà T là thửa đất số 1189, tờ bản đồ số số 8, diện tích 432m2, loại đất nuôi trồng thủy sản, UBND thành phố T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 17/10/2007 mang tên ông Nguyễn Văn G và bà Nguyễn Thị C.
  2. Thửa đất 1794 ông S, bà T được tặng cho hoàn toàn nằm trong ranh giới theo bản đồ địa chính của thửa 1188 cụ G1, cụ X được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1994. Năm 2008, cụ G1, cụ X được cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không thay đổi về số thửa, diện tích thửa 1188. Thửa đất 1189 của cụ G1, cụ X và thửa đất 1188 của ông G, bà C đều được xác lập theo bản đồ địa chính chỉnh lý năm 1995.
  3. Căn cứ vào kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ hiện trạng sử dụng đất thực tế đối chiếu với bản đồ địa chính năm 1995 bằng máy toàn đạc điện tử xác định ông G, bà C sử dụng sang phần đất tại thửa đất số 1794 của gia đình ông S, bà T là 39,5m2. Toà án cấp sơ thẩm căn cứ vào bản đồ địa chính năm 1995, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn 39,5m2 đất thuộc thửa 1794, tờ bản đồ số 8 phường L, thành phố S (cũ) là có căn cứ.
  4. Quá trình xem xét thẩm định tại chỗ thể hiện ranh giới sử dụng thực tế giữa thửa 1794 của nguyên đơn lấn sang thửa đất 1189 của bị đơn là 24,2 m2. Toà án cấp sơ thẩm không thụ lý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đòi bị đơn phần diện tích đất này và phần diện tích đất này không nằm trong ranh giới theo bản đồ địa chính thửa 1794 của nguyên đơn, nên nguyên đơn không yêu cầu giải quyết buộc bị đơn trả lại diện tích đất 24,2 m2. Toà án cấp sơ thẩm đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không có căn cứ, cần rút kinh nghiệm.
  5. Từ những phân tích và nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử thấy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn G, bà Nguyễn Thị C; giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 02/2025/DS-ST ngày 17/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Thái Nguyên

Về án phí:

  1. Án phí phúc thẩm: ông Nguyễn Văn G và bà Nguyễn Thị C phải chịu án phí dân sự phúc thẩm do kháng cáo không được chấp nhận.

Từ những phân tích nêu trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn G, bà Nguyễn Thị C; giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 02/2025/DS-ST ngày 17/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Thái Nguyên.
  2. Về án phí phúc thẩm: ông Nguyễn Văn G và bà Nguyễn Thị C mỗi người phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm được trừ vào tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000369 ngày 24/7/2025 và số 0001277 ngày 06/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

- VKSND tỉnh Thái Nguyên;

- TAND khu vực 2 - Thái Nguyên;

- THADS tỉnh Thái Nguyên;

- Các đương sự;

- Lưu hồ sơ vụ án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Hoàng Quý Sửu

Lý Thị Thuý Vũ Thị An Hoàng Quý Sửu
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 207/2025/DS-PT ngày 27/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 207/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/11/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị T - Nguyễn Văn G
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger