|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 205/2025/DS-PT
Ngày: 27/11/2025
V/v tranh chấp QSD đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- - Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị An
- Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thuỷ và bà Lý Thị Thuý
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ánh Nguyệt - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 129/2025/TLPT-DS ngày 22 tháng 10 năm 2025 về "Tranh chấp QSD đất” do Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2025/DS-ST ngày 07 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Thái Nguyên bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 158/2025/QĐ-PT ngày 24 tháng 10 năm 2025 giữa các đương sự:
+ Nguyên đơn:
- Ông Lê Đắc C, sinh năm 1962 (có mặt)
- Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1966 (có mặt)
Địa chỉ: Xóm L, xã T, tỉnh Thái Nguyên
+ Bị đơn:
- Ông Dương Văn C1, sinh năm 1966 (đã chết)
Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Dương Văn C1:
- Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1972 (có mặt)
Địa chỉ: Xóm L, xã T, tỉnh Thái Nguyên
- Chị Dương Thị T, sinh năm 1997 (có mặt)
Địa chỉ: Xóm L, xã N, tỉnh Thái Nguyên
- Anh Dương Quốc T1, sinh năm 2000 (vắng mặt)
Địa chỉ: Xóm Làng Mon, xã Tân Cương, tỉnh Thái Nguyên
- Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1972 (có mặt)
Địa chỉ: Xóm L, xã T, tỉnh Thái Nguyên
- Người đại diện theo uỷ quyền của bà Nguyễn Thị H: Ông Lầu Văn C2, sinh năm 1972.
Địa chỉ: Tổ D, phường P, tỉnh Thái Nguyên (có mặt)
- Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn Thị H: Ông Sùng Văn N – Luật sư thuộc Trung tâm T3 (có mặt)
Địa chỉ Trung tâm: Tổ D, phường P, tỉnh Thái Nguyên
* Người làm chứng:
- Ông Lê Đắc P, sinh năm 1955; địa chỉ: Xóm L, xã T, tỉnh Thái Nguyên (vắng mặt)
- Ông Lê Văn Á, sinh năm 1955; địa chỉ: Xóm L, xã T, tỉnh Thái Nguyên (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Nguyên đơn ông Lê Đắc C và bà Nguyễn Thị L trình bày:
Năm 2001, gia đình nguyên đơn bán đất cho gia đình bị đơn là ông Dương Văn C1 và bà Nguyễn Thị H, diện tích là 2160m², trong đó có 200m² đất ONT, 1960m² CLN là một phần của thửa đất 466, tờ bản đồ số 15, địa chỉ tại xã T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, nay là xã T, tỉnh Thái Nguyên.
Đến năm 2023, gia đình nguyên đơn làm thủ tục cấp đổi Giấy chứng nhận (GCNQSD) đất đối với thửa 466, tờ bản đồ 15 thì phát hiện ranh giới sử dụng đất theo hiện trạng không đúng với ranh giới trong GCNQSD đất mới. Lý do đến thời điểm này mới phát hiện đất của gia đình đang bị gia đình ông C1, bà H lấn chiếm là do diện tích đất nhà nguyên đơn rất rộng, không xác định được ranh giới cụ thể.
Vợ chồng nguyên đơn đã sang gặp gia đình ông C1, bà H để trao đổi về việc sử dụng ranh giới đất theo hiện trạng không đúng với ranh giới trong GCNQSD đất nhưng không nhận được sự phối hợp.
Sau đó bà H mời Ban Hoà giải của xóm để hoà giải việc tranh chấp đất đai giữa hai gia đình. Tại buổi hoà giải, biên bản ghi gia đình ông Dương Văn C1 chỉ được sử dụng phần đất đã mua của gia đình nguyên đơn. Diện tích đất thừa phải trả lại cho gia đình ông Lê Đắc C và bà Nguyễn Thị L sử dụng. Sau đó gia đình nguyên đơn đã mời địa chính về đo đạc diện tích đất theo GCNQSD đất nhưng gia đình ông C, bà H không chấp nhận.
Gia đình nguyên đơn tiếp tục làm đơn yêu cầu U. Kết quả hoà giải ngày 22/3/2024 đã thành công. Sau đó UBND xã T, xóm L cùng đơn vị đo đạc và 2 gia đình tiến hành khôi phục mốc giới sử dụng đất. Đến ngày 19/4/2024, ông Dương Văn C1 lại gửi đơn đề nghị UBND xã về việc không đồng ý với mốc giới đã khôi phục. Đến ngày 08/7/2024, gia đình nguyên đơn tiếp tục gửi đơn đề nghị U nhưng kết quả không thành.
Vì vậy, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ông Dương Văn C1 và bà Nguyễn Thị H trả lại cho gia đình nguyên đơn diện tích đất mà gia đình nguyên đơn đã được cấp theo GCN QSD đất khoảng 647m².
Bị đơn ông Dương Văn C1 và bà Nguyễn Thị H trình bày:
Năm 2001, gia đình bị đơn có nhu cầu mua đất của ông Lê Đắc C và bà Nguyễn Thị L. Trên thửa đất của ông C bà L có 02 hàng vải thẳng hàng, hai bên thống nhất một phía ranh giới đất mà gia đình bị đơn sẽ mua là đường thẳng giữa 2 hàng vải kéo dài từ nhà ông Lê Duy Á1 xuống cánh đồng, thửa đất gia đình bị đơn hắt về phía giáp đất nhà bà Đ ông T2, 1 mặt thửa đất giáp cánh đồng, 1 mặt thửa đất giáp đất ông Lê Duy Ấ1. Hai bên lúc này chỉ biết ranh giới thửa đất, chưa biết cụ thể diện tích đất nhưng cùng thống nhất thửa đất có giá 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng), gia đình bị đơn đã thanh toán tiền đầy đủ.
Sau đó, gia đình ông C bà L gọi địa chính vào đo bằng dây và que. Tiến hành đo đạc được diện tích đất mua bán là 2160m², trong đó 1960m² đất CLN và 200m² đất ONT. Gia đình bị đơn nhận đúng hiện trạng mà 2 bên thoả thuận và đã được đo đạc, đồng thời gia đình bị đơn đã được cấp GCN QSD đất năm 2001 và sử dụng ổn định từ năm 2001 đến 2023. Đến năm 2023 thì gia đình bà L nói thửa đất gia đình bị đơn nhận chuyển nhượng bị thừa diện tích, hai bên xảy ra tranh chấp. Gia đình bị đơn có cho ông Lê Đắc C mượn xem giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau đó gia đình ông C bà L chắn đường là lối đi duy nhất nên gia đình bị đơn đã gọi xóm xuống giải quyết. Sau đó ông C bà L làm đơn ra UBND đề nghị giải quyết tranh chấp đất đai.
Gia đình bị đơn không đồng ý với ý kiến của ông C bà L. Sau đó có chính quyền xã, trưởng xóm vào đo đất nhưng sau khi đo đạc thì không thông báo kết quả cho gia đình bị đơn. Sau đó Uỷ ban lại tiếp tục hoà giải nhưng gia đình bị đơn không đồng ý.
Bị đơn xác định không lấn chiếm đất của ông C bà L, gia đình bị đơn sử dụng đúng hiện trạng ban đầu và đã được cấp GCN QSD đất.
Lời khai của những người làm chứng: Ông Lê Đắc P và ông Lê Duy Ấ1 có được biết việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Lê Đắc C, bà Nguyễn Thị L với ông Dương Văn C1, bà Nguyễn Thị H và có ký làm chứng vào giấy chuyển nhượng nhưng không chứng kiến các bên xác định ranh giới thế nào. Chỉ biết các bên thoả thuận chuyển nhượng 2.160m² đất, Sau này có biết việc tranh chấp đất giữa hai nhà, nhưng không biết phần đất tranh chấp là của ai.
Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ thể hiện: Diện tích tranh chấp là 587,7m², trong đó, phần công trình chuồng trại xây dựng có diện tích 34,4m².
Với nội dung nêu trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2025/DS-ST ngày 07/8/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 – Thái Nguyên đã xét xử và quyết định: Áp dụng khoản 9 Điều 26; Điều 35; Điểm c khoản 1 Điều 39; Điều 147, 157, 158; Điều 227, 229; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 158, 160, 163, 164, 166 và 175 của Bộ luật dân sự; Điều 5, 11, 17, 26, 31 của Luật đất đai năm 2024; Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 của Ủy ban thường vụ Q về thành lập Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực; quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực được thông qua ngày 27/6/2025; Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các toà án nhân dân; Điểm a khoản 2 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Công nhận sự tự nguyện của ông Lê Đắc C và bà Nguyễn Thị L về việc trích chia một phần diện tích đất làm lối đi vào đất của ông Dương Văn C1 và bà Nguyễn Thị H, diện tích đất là 45,4 m², tại các vị trí (c, 1, 35', z, m, d, c), có sơ đồ đo đạc kèm theo.
Ông Lê Đắc C và bà Nguyễn Thị L; ông Dương Văn C1 và bà Nguyễn Thị H có quyền, nghĩa vụ liên hệ với Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh biến động quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Đắc C và bà Nguyễn Thị L.
- Buộc ông Dương Văn C1 và bà Nguyễn Thị H phải trả lại cho ông Lê Đắc C và bà Nguyễn Thị L diện tích đất đã lấn chiếm tại thửa đất số 466, tờ bản đồ số 15 xã T, thành phố T (nay là xã T, tỉnh Thái Nguyên), diện tích 563,9m², gồm 164,3m² tại vị trí (23, 24, 25, 26, 27, m, z, 23) và 399,6m² tại vị trí (l, a, a', 28, 7', 8', 9', 4, 5, 6, 12', 8, 9, 10, 35', 1). Có sơ đồ đo đạc kèm theo.
- Buộc ông Dương Văn C1 và bà Nguyễn Thị H phải tháo dỡ toàn bộ phần công trình chuồng trại xây dựng trên mặt đất, trên không và dưới lòng đất lấn chiếm thửa đất số 466, tờ bản đồ số 15 xã T, thành phố T (nay là xã T, tỉnh Thái Nguyên), diện tích là 34,4m² tại vị trí: (A, H, E, D, C, B, A). Có sơ đồ đo đạc kèm theo.
- Buộc ông Dương Văn C1 và bà Nguyễn Thị H phải thu hoạch, di dời toàn bộ cây cối trên diện tích đất lấn chiếm gồm: 02 cây sấu và 03 cây ổi.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, việc thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị đơn ông C1 và bà H kháng cáo với nội dung: Bản án sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng: Một là, không đưa con của bị đơn là chị Dương Thị T và anh Dương Quốc T1 vào tham gia tố tụng; hai là, quá trình giải quyết vụ án, Toà án xác định sai quan hệ pháp luật dẫn đến áp dụng sai pháp luật, có lúc xác định là tranh chấp HĐCNQSD đất, khi xét xử lại xác định là tranh chấp QSD đất; ba là, nguyên đơn khởi kiện đòi tài sản là QSD đất nhưng Toà án không tiến hành định giá tài sản là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng; bốn là, tại phiên toà, đại diện Viện Kiểm sát và bị đơn đề nghị tạm ngừng phiên toà để xem xét, thẩm định lại tài sản trên đất do quá trình xem xét, thẩm định tài sản còn thiếu tài sản trong lòng đất là 03 bể Bioga nhưng Hội đồng xét xử không chấp nhận là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Về nội dung, bản án nhận định, đánh giá chứng cứ không phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, cụ thể: Thứ nhất, khi giao dịch, các bên đã bàn giao đất và xác định ranh giới, mốc giới trên thực địa. Sau khi nhận chuyển nhượng, bị đơn đã sử dụng ổn định từ năm 2001 theo đúng mốc giới. Thứ hai, sự chênh lệch diện tích giữa hiện trạng với HĐCN là do sai số khi đo đạc. Gia đình bị đơn đã san lấp, xây dựng chuồng trại trên đất nhưng gia đình nguyên đơn không có ý kiến gì phản đối, việc nguyên đơn cho rằng do đất rộng nên không biết ranh giới đến đâu là vô lý. Thứ ba, sau khi nhận chuyển nhượng, gia đình bị đơn đã tiến hành mở đường vào nhà từ năm 2001, một phần diện tích tranh chấp khoảng 200m² nằm ở đường vào nhà bị đơn, việc nguyên đơn kiện đòi cả phần này là vô lý. Thứ tư, sau khi chuyển nhượng, gia đình nguyên đơn chưa từng quản lý, sử dụng đất trong khi biết rõ quá trình sử dụng đất của bị đơn và không có ý kiến nào phản đối, nguyên đơn cũng không có căn cứ chứng mình bị đơn lấn chiếm đất. Vì vậy, bị đơn đề nghị Toà án cấp phúc thẩm giải quyết huỷ toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn bà H giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Trong phần tranh luận, bị đơn và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn cho rằng nguyên đơn khởi kiện không có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận kháng cáo của bị đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Về án phí: Các đương sự chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
Bị đơn bà H kháng cáo hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Ông C1 không nộp tạm ứng án phí phúc thẩm nên không được xem xét nội dung kháng cáo.
Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, ông C1 chết. Toà án đã có biên bản làm việc với bà H để yêu cầu cung cấp bản sao trích lục khai tử của ông Dương Văn C1 và xác định những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông C1 gồm có bà H và 02 con là chị Dương Thị T và anh Dương Quốc T1.
Tại phiên toà lần thứ hai, anh T1 vắng mặt, bà H xác định anh T1 đã nhận được Giấy triệu tập của Toà án nhưng vì lý do công việc, anh T1 đi làm xa nhà nên không có mặt tại phiên toà được. Căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt một trong số những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Dương Văn C1 là anh Dương Quốc T1.
[2]. Về nội dung:
Năm 2001, nguyên đơn có chuyển nhượng cho bị đơn một phần diện tích đất thuộc thửa 466, TBĐ số 15 xã T, TP ., nay là xã T, tỉnh Thái Nguyên. Nguyên đơn xác định diện tích chuyển nhượng theo HĐCNQSD đất là 2160m², gồm 200m² đất ở và 1960m² đất trồng cây lâu năm. Bị đơn đã được cấp GCNQSD đất đúng với diện tích có trong HĐCNQSD đất. Nay, do bị đơn sử dụng vượt quá diện tích đất theo HĐCN và GCNQSD đất nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu gia đình bị đơn trả lại diện tích đất vượt quá diện tích có trong GCNQSD đất của bị đơn. Phía bị đơn không nhất trí yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì lý do đã sử dụng phần đất mà nguyên đơn khởi kiện từ năm 2001, gia đình nguyên đơn biết rõ nhưng không có ý kiến gì. Toà án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào hồ sơ chuyển nhượng QSD đất giữa gia đình nguyên đơn và gia đình bị đơn, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả lại toàn bộ diện tích đất 563,9m² thuộc thửa số 466, tờ bản đồ số 15 xã T, thành phố T (nay là xã T, tỉnh Thái Nguyên) theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ và buộc bị đơn phải tháo dỡ tài sản trên đất, dưới lòng đất và di dời cây cối ra khỏi phần đất lấn chiếm. Bị đơn không nhất trí quyết định của bản án sơ thẩm nên đã kháng cáo toàn bộ bản án.
2.1. Xét kháng cáo của bị đơn về phần thủ tục tố tụng, Hội đồng xét xử thấy:
Đối với việc không đưa hai con của bị đơn là chị Dương Thị T (sinh năm 1997) và anh Dương Quốc T1 (sinh năm 2000) vào tham gia tố tụng, thấy rằng, tại GCNQSD đất số T647327 do UBND thành phố T cấp ngày 18/6/2001 mang tên Hộ ông Dương Văn C1. Tại thời điểm cấp GCNQSD đất của gia đình ông C1 bà H, chị T mới 04 tuổi, anh T1 chưa được sinh ra. Do đó, QSD đất trong trường hợp này được hiểu là tài sản chung của vợ chồng ông Dương Văn C1 và bà Nguyễn Thị H, không liên quan đến các con. Còn về tài sản trên đất, đến khi phát sinh vụ án này, mặc dù anh T1 cùng chung sống với bố mẹ nhưng phần đất tranh chấp không liên quan đến công trình nhà ở của gia đình, chỉ có một phần chuồng trại và một số cây cối, ông C1 (khi còn sống) và bà H xác định đây là tài sản của vợ chồng, không đề cập gì đến các con. Vì vậy, không cần thiết phải đưa hai con của ông C1 và bà H vào tham gia tố tụng. Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, do ông C1 đã chết nên Toà án xác định người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông C1 là bà H, chị T và anh T1. Việc chị T và anh T1 được triệu tập tham gia tố tụng tại phiên toà phúc thẩm là với tư cách người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông C1. Do đó, kháng cáo của bà H về nội dung đưa thiếu người tham gia tố tụng là không có căn cứ chấp nhận.
Đối với nội dung kháng cáo về việc xác định sai quan hệ pháp luật, thấy rằng, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại quyền sử dụng đất đối với phần diện tích lấn chiếm nằm ngoài diện tích đất mà các bên ký hợp đồng chuyển nhượng với nhau nên Toà án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp QSD đất là có căn cứ.
Đối với nội dung kháng cáo về việc Toà án cấp sơ thẩm không định giá tài sản tranh chấp, xét thấy, việc định giá tài sản trong trường hợp này chỉ có ý nghĩa liên quan đến việc xác định nghĩa vụ phải chịu án phí. Lẽ ra Toà án cấp sơ thẩm phải định giá tài sản để có cơ sở xác định mức án phí mà các đương sự phải chịu nhưng Toà án đã không thực hiện là thiếu sót. Tuy nhiên, trong trường hợp này, việc không tiến hành định giá tài sản không làm thay đổi bản chất của vụ việc, thậm chí là có lợi cho đương sự nên Hội đồng xét xử xác định đây không phải là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Toà án cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.
Đối với kháng cáo về việc Toà án cấp sơ thẩm không chấp nhận đề nghị của Viện Kiểm sát và yêu cầu của bị đơn tại phiên toà sơ thẩm về việc tạm ngừng phiên toà để xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tài sản dưới lòng đất là bể bioga của gia đình bị đơn, thấy rằng: Bản án sơ thẩm nhận định: Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành thẩm định tài sản, nhưng tại phiên xem xét thẩm định tại chỗ, bị đơn không đề cập đến công trình bể bioga dưới lòng đất, Toà án cũng đã mở phiên toà lần thứ ba, 02 phiên toà trước bị đơn không đề nghị nội dung này nên không có căn cứ chấp nhận. Hơn nữa, về mặt nội dung, toàn bộ công trình xây dựng trên đất cũng như dưới lòng đất ở phần lấn chiếm đều cần buộc bị đơn tháo dỡ và san lấp để trả lại hiện trạng đất cho nguyên đơn là phù hợp. Nhận định của Toà án cấp sơ thẩm trong trường hợp này là có căn cứ. Kháng cáo của bị dơn là không có cơ sở chấp nhận.
2.2. Xét kháng cáo của bị đơn về mặt nội dung giải quyết vụ án:
Bị đơn cho rằng gia đình khi mua bán đất, hai bên đã tiến hành bàn giao đất, xác định ranh giới, mốc giới tại thực địa. Sau đó, gia đình bị đơn đã sử dụng ổn định từ năm 2001, đã làm đường vào nhà, hiện nay phần đất tranh chấp nằm dưới con đường vào nhà bị đơn, nguyên đơn sinh sống ở bên cạnh nhưng không có ý kiến gì và thực tế nguyên đơn cũng không quản lý, sử dụng phần đất tranh chấp, Hội đồng xét xử thấy: Tại hồ sơ chuyển nhượng QSD đất do Toà án cấp sơ thẩm thu thập được thể hiện: Giấy mua bán viết tay chỉ ghi diện tích mua bán 2160m², hợp đồng chuyển nhượng (BL 94) cũng thể hiện bản trích đo thửa đất chuyển nhượng, trong đó phần diện tích cũng ghi 2160m², hình thể và kích thước các cạnh của phần diện tích đất mua bán cũng tương đồng với hình thể và kích thước các cạnh của thửa đất mà gia đình bị đơn được cấp GCNQSD. Bản thân gia đình bị đơn không có bất cứ thắc mắc nào về diện tích, vị trí các cạnh của thửa đất mà mình được cấp GCNQSD. Tại phiên toà phúc thẩm, nguyên đơn xác định không có việc nguyên đơn xây hàng rào làm ranh giới giữa hai gia đình, đất của nguyên đơn trước và sau khi bán cho bị đơn đều là khu đất rộng, chỉ có bãi guột, không có ranh giới để nhận diện và bàn giao như lời trình bày của bị đơn; bản thân ông C1 chồng bà H là người ký vào hồ sơ chuyển nhượng có trích lục sơ đồ hình thể và kích thước các cạnh của thửa đất, sau đó bị đơn được cấp GCNQSD trên cơ sở hồ sơ chuyển nhượng nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào hồ sơ chuyển nhượng để giải quyết. Bị đơn không đưa ra được căn cứ gì chứng minh việc bàn giao ranh giới đất theo hiện trạng mà gia đình mình sử dụng hiện nay.
Quá trình hoà giải tại địa phương, bị đơn cũng nhất trí đo đạc lại theo bản đồ địa chính và cho rằng nếu phần đất gia đình bị đơn sử dụng vượt quá phạm vi GCNQSD đất được cấp thì bị đơn trả lại cho nguyên đơn. Sau đó, bị đơn thay đổi ý kiến.
Với những tình tiết trên đây, Bản án sơ thẩm xác định phần đất mà các bên chuyển nhượng chỉ trong phạm vi hồ sơ cấp GCNQSD đất cho gia đình bị đơn, còn phần diện tích mà gia đình bị đơn sử dụng vượt quá GCNQSD đất của mình và có trong thửa 466, TBĐ 15 thuộc QSD của gia đình nguyên đơn là có căn cứ pháp lý. Do vậy, kháng cáo của bị đơn về việc đánh giá chứng cứ không khách quan, không phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đề nghị huỷ bán án sơ thẩm là không có cơ sở chấp nhận. Hội đồng xét xử thấy cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tuy nhiên, về cách tuyên án, bản án sơ thẩm tuyên “công nhận sự tự nguyện của nguyên đơn về việc trích chia một phần diện tích đất...” là không chính xác bởi lẽ, việc “công nhận” chỉ áp dụng trong trường hợp các bên thoả thuận được với nhau, còn trong trường hợp này là ý chí tự nguyện của phía nguyên đơn nên Toà án chỉ tuyên “ghi nhận sự tự nguyện...”. Hơn nữa, việc “trích chia” chỉ áp dụng trong trường hợp chia tài sản chung hoặc trong vụ án thừa kế, còn trong trường hợp này cần tuyên “ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn về việc trích một phần diện tích đất tại thửa 466, TBĐ 15 của gia đình mình để làm lối đi cho gia đình bị đơn....”. Vì vậy, mặc dù không chấp nhận nội dung kháng cáo của bị đơn, đồng thời do ông Dương Văn C1 đã chết tại giai đoạn xét xử phúc thẩm nên Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải sửa bản án sơ thẩm về cách tuyên án để đảm bảo cho việc thi hành bản án. Ngoài ra, về phần áp dụng pháp luật, bản án sơ thẩm áp dụng cả các văn bản liên quan đến sáp nhập tỉnh và thành lập Toà án khu vực là không cần thiết.
[3]. Về án phí:
3.1. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà H phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm; ngoài ra bà H, chị T và anh T1 phải chịu phần nghĩa vụ án phí dân sự sơ thẩm của ông Dương Văn C1 là 300.000đ nộp Ngân sách Nhà nước, trong đó mỗi người có nghĩa vụ nộp 100.000đ.
3.2. Án phí dân sự phúc thẩm: Bà H phải chịu 300.000đ án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
[4]. Chi phí tố tụng: Giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
[5]. Xét quan điểm và đề nghị của Luật sư bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị đơn về việc huỷ bản án sơ thẩm là không có căn cứ chấp nhận.
[6]. Xét đề nghị của đại diện VKS về việc giữ nguyên bản án sơ thẩm là có cơ sở, tuy nhiên vẫn cần sửa bản án về cách tuyên như đã phân tích ở trên.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự;
Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 13/2025/DS-ST ngày 07/8/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Thái Nguyên về cách tuyên án.
Áp dụng:
- Khoản 9 Điều 26; Điều 35; Điểm c khoản 1 Điều 39; Điều 147, 157, 158; Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 163, Điều 164, Điều 166 của Bộ luật dân sự; các điều: 5, 11, 17, 26, 31 của Luật Đất đai năm 2024; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Đắc C và bà Nguyễn Thị L.
- Buộc bà Nguyễn Thị H, chị Dương Thị T và anh Dương Quốc T1 phải trả lại cho ông Lê Đắc C và bà Nguyễn Thị L diện tích đất 563,9m² tại thửa số 466, tờ bản đồ số 15 xã T, thành phố T (nay là xã T, tỉnh Thái Nguyên), gồm 164,3m² tại vị trí có các điểm: 23, 24, 25, 26, 27, m, z, 23 và 399,6m² tại vị trí có các điểm: l, a, a', 28, 7', 8', 9', 4, 5, 6, 12', 8, 9, 10, 35', 1. (Có sơ đồ kèm theo).
- Buộc bà Nguyễn Thị H, chị Dương Thị T và anh Dương Quốc T1 phải tháo dỡ toàn bộ phần công trình xây dựng gắn liền với diện tích đất 34,4m² tại thửa số 466, tờ bản đồ số 15 xã T, thành phố T (nay là xã T, tỉnh Thái Nguyên) (gồm công trình xây dựng trên mặt đất, trên không và trong lòng đất) tại vị trí các điểm: A, H, E, D, C, B, A. (Có sơ đồ kèm theo).
- Buộc bà Nguyễn Thị H, chị Dương Thị T và anh Dương Quốc T1 phải thu hoạch, di dời toàn bộ cây cối có trên diện tích đất 563,9m² tại mục 1.1 nêu trên để trả lại đất cho gia đình nguyên đơn.
- Ghi nhận sự tự nguyện của ông Lê Đắc C và bà Nguyễn Thị L về việc trích một phần diện tích đất làm lối đi vào đất của gia đình bà Nguyễn Thị H, diện tích 45,4m² tại vị trí gồm các điểm: c, 1, 35', z, m, d, c (có sơ đồ kèm theo).
- Ông Lê Đắc C và bà Nguyễn Thị L có nghĩa vụ làm thủ tục đăng ký biến động phần diện tích đất 45,4m² để làm lối đi vào đất của gia đình bà Nguyễn Thị H, chị Dương Thị T và anh Dương Quốc T1.
- Về án phí:
- - Bà Nguyễn Thị H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước. Bà H, anh T1 và chị T phải chịu chung số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm là phần nghĩa vụ của ông Dương Văn C1 nộp ngân sách Nhà nước, trong đó mỗi người chịu 100.000đ (một trăm nghìn đồng).
- - Trả lại cho ông Lê Đắc C và bà Nguyễn Thị L số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu số 0003414 ngày 05/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 – Thái Nguyên).
- Bà H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm nộp Ngân sách Nhà nước, được trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0000971 ngày 12/9/2025 của Thi hành án Dân sự tỉnh Thái Nguyên.
- Về chi phí tố tụng: Ghi nhận sự tự nguyện của ông Lê Đắc C và bà Nguyễn Thị L về việc chịu toàn bộ số tiền chi phí tố tụng là 9.577.200 đồng (chín triệu năm trăm bẩy mươi bẩy nghìn hai trăm đồng) (đã thực hiện xong).
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b, 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị An |
Bản án số 205/2025/DS-PT ngày 27/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp qsd đất
- Số bản án: 205/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp QSD đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên bản án sơ thẩm, chỉ sửa cách tuyên
