Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 6 - HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 200/2025/HSST

Ngày 12/12/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Hiền

Ông Nguyễn Tiến Phúc – Bí thư Đoàn thanh niên phường Hà Đông, thành phố Hà Nội.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hường – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 6, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Trang – Kiểm sát viên

Ngày 12 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Hà Nội xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 96/2025/HSST ngày 03 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 210/2025/QĐXXST-HS ngày 01/12/2025 đối với bị cáo:

Bùi Xuân T, sinh năm 1985; Hộ khẩu thường trú: Thôn M, phường Đ, tỉnh Ninh Bình; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; đảng phái: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; con ông Bùi Xuân T1, sinh năm 1957, con bà Đỗ Thị N, sinh năm 1958; vợ, con: chưa có; danh, chỉ bản số 2925 lập ngày 17/9/2025 tại Trại tạm giam số 2; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/9/2025 đến nay; bị cáo tạm giam tại Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Chị Đỗ Thiệu T2, sinh năm 11/5/2009; hộ khẩu thường trú: N, X, Hà Nội; nơi cư trú: số B, ngõ A, Ỷ, D, Hà Nội. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Nguyễn Thị Bích T3, sinh năm 1983 (mẹ chị T2); địa chỉ: KTT Xí nghiệp G, phường H, thành phố Hà Nội. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Luật sư Hoàng Ngọc Thanh B – Công ty L2 – Đoàn Luật sư thành phố H. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Bùi Ngọc T4, sinh năm 1983; trú tại: Thôn M, Đ, Ninh Bình. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng đầu tháng 7/2025, do cần tiền chi tiêu cá nhân, Bùi Xuân T (sinh năm 1985; nơi thường trú: Thôn M, phường Đ, tỉnh Ninh Bình) nảy sinh ý định sử dụng mạng xã hội tìm những người phụ nữ nhẹ dạ cả tin để liên hệ nói chuyện rồi hẹn gặp mặt mục đích lợi dụng sơ hở trộm cắp tài sản của những người này. Thực hiện ý định trên, T lập tài khoản Facebook tên “Zin Bin” và tài khoản Zalo tên “SuJun” trên điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro Max màu tím, có lắp sim số 0981535559.

Ngày 15/7/2025, thông qua mạng xã hội, Bùi Xuân T quen biết Đỗ Triệu T5 (sinh ngày: 11/5/2009; nơi thường trú: Xã X, thành phố Hà Nội; nơi ở hiện nay: Số nhà B, ngõ A đường Ỷ phường D, thành phố Hà Nội) sử dụng tài khoản facebook và zalo tên “Gia L”. Qua nói chuyện, T tự giới thiệu là người Hàn Quốc tên Kim Su J, 34 tuổi, đang làm việc tại Việt Nam, T5 tự giới thiệu tên Gia L, 25 tuổi. T và T5 nhắn tin với nhau bằng Tiếng Anh (T và T5 đều sử dụng ứng dụng Google dịch để dịch từ Tiếng Việt sang Tiếng Anh). Ngày 16/7/2025, T hẹn T5 đến khách sạn R (địa chỉ: Số H, I B, Khu đô thị M, tổ A, phường K, thành phố Hà Nội) để gặp gỡ, nói chuyện, T5 đồng ý.

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 16/7/2025, T đi xe ôm rồi đi bộ đến Khách sạn R gặp hai nhân viên khách sạn là Nguyễn Ngọc S (sinh năm 2000, nơi thường trú: Khu B, xã T, tỉnh Phú Thọ) và Hoàng Thị L1 (sinh năm 2005, nơi thường trú: phường H, thành phố Hà Nội) cung cấp thông tin cá nhân, thuê 01 phòng nghỉ rồi thanh toán trước tiền thuê phòng là 300.000 đồng, nhân viên khách sạn đưa cho T chìa khóa phòng 303. Thịnh nhắn tin qua Z cho T5 số phòng rồi lên trước chờ.

Khoảng 20 giờ 00 phút cùng ngày T5 đến khách sạn và đi lên phòng 303 gặp T. Tại đây, cả hai ngồi cạnh nhau trên giường, T dùng ứng dụng google dịch soạn nội dung bằng Tiếng Anh dịch sang Tiếng Việt rồi đưa màn hình điện thoại cho T5 đọc. T5 cũng sử dụng ứng dụng google dịch soạn nội dung rồi dịch sang Tiếng Anh đưa cho T xem. Quá trình T5 sử dụng điện thoại, T nhìn thấy và ghi nhớ mật khẩu điện thoại di động của T5, mục đích lợi dụng lúc T5 sở hở sẽ trộm cắp chiếc điện thoại này. Đến khoảng 21 giờ 30 phút, T5 để điện thoại ở trên giường rồi đứng dậy vào nhà vệ sinh. Thấy T5 đóng cửa nhà vệ sinh T lén lút dùng tay phải cầm chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 16 Pro Max màu xám titan tự nhiên bản 256GB, có lắp sim số 0366513569 của chị T5 để ở trên giường cho vào túi quần bên phải đi ra khỏi phòng rồi bỏ đi theo lối cổng sau của khách sạn.

Sau khi phát hiện bị mất trộm điện thoại, chị T5 chạy đuổi theo xuống tầng 1 và nhờ chị Hoàng Thị L1 là nhân viên lễ tân của khách sạn đuổi theo nhưng không kịp. Sau đó chị T5 đi về nhà. Cùng ngày T sử dụng mật khẩu ghi nhớ trước đó mở khóa chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 16 Pro Max màu xám Titan tự nhiên vừa trộm cắp được của chị T5 xóa toàn bộ nội dung, dữ liệu trong chiếc điện thoại trên.

Ngày 17/7/2025, T khai đã sử dụng điện thoại Iphone 14 Pro Max màu tím của bản thân đăng thông tin rao bán chiếc điện thoại di động Iphone 16 Pro Max màu xám Titan tự nhiên chiếm đoạt được của chị T5 trên mạng internet với nội dung “Bán Iphone 16 Pro Max Titan 256GB còn bảo hành với giá 24.000.000 đồng”. Sau khi T đăng thông tin rao bán, chiều cùng ngày một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) hẹn gặp T để thỏa thuận mua lại chiếc điện thoại trên. T hẹn gặp người đàn ông ở khu vực điểm chờ xe buýt đầu phố H thuộc phường H, thành phố Hà Nội. Chiều tối cùng ngày, T đã gặp và bán chiếc điện thoại trên cho người đàn ông với giá 24.000.000 đồng tiền mặt. Số tiền bán điện thoại, T đã sử dụng tiêu xài cá nhân hết.

Ngày 08/09/2025, chị T5 và mẹ là Nguyễn Thị Bích T3 (sinh năm 1982, trú tại: số nhà B, ngõ A, Ỷ, phường D, thành phố Hà Nội) đi ăn tối ở khu vực trước số nhà C A, phường H, thành phố Hà Nội thì tình cờ gặp Bùi Xuân T6 ở đây. Chị T5 hỏi T về sự việc xảy ra ngày 16/7/2025 tại Khách sạn R trên. T thừa nhận đã lấy trộm điện thoại của chị T5 sau đó bán cho một người không quen biết với giá 24.000.000 đồng, số tiền này T đã tiêu xài cá nhân hết.

Ngày 09/9/2025, chị Đỗ Triệu T5 có đơn trình báo nội dung vụ việc trên đến Công an phường K, thành phố Hà Nội.

Ngày 11/9/2025, Bùi Xuân T nhận thức hành vi trộm cắp tài sản của bản thân là vi phạm pháp luật nên xin đầu thú tại Công an phường K, thành phố Hà Nội và khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm như trên.

Vật chứng thu giữ của Bùi Xuân T: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro Max màu tím, số máy: MQ8R3LL/A, số imei: 355909992629942, có lắp sim số 0981535559 (đã qua sử dụng).

Ngày 12/9/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H ra Lệnh khám xét khẩn cấp số A4127/LKX-VPCQCSĐT đối với Bùi Xuân T tại nơi thường trú Thôn M, phường Đ, tỉnh Ninh Bình, kết quả: Không phát hiện thu giữ đồ vật tài liệu gì liên quan đến vụ án.

Tại Kết luận định giá tài sản số 1352/KL-HĐĐGTS ngày 11/9/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Hà Nội, kết luận:

“Giá trị 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 16 Pro Max, màu xám titan tự nhiên bản 256GB (đã qua sử dụng) tại thời điểm ngày 16/7/2025 là 26.025.000 đồng”.

Quá trình điều tra vụ án, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, truy tìm 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 16 Pro Max, màu xám titan tự nhiên bản 256GB, có lắp sim số 0366513569 (đã qua sử dụng) nhưng chưa thu hồi được.

Cơ quan điều tra tiến hành dẫn giải vị trí Bùi Xuân T bán chiếc điện thoại Iphone 16 Pro Max màu xám titan tự nhiên bản 256GB chiếm đoạt của chị T5, rà soát camera, người làm chứng xung quanh khu vực này nhưng không thu được hình ảnh camera liên quan, không có người chứng kiến sự việc và không xác định được thông tin người đàn ông mua lại chiếc điện thoại mà T chiếm đoạt của chị T5.

Đối với số thuê bao 0981535559: Quá trình điều tra xác định, chủ số thuê bao là Bùi Xuân T, sinh ngày 20/8/1985; địa chỉ: Thôn M, xã K, huyện A, tỉnh Ninh Bình (nay là Thôn M, phường Đ, tỉnh Ninh Bình).

Trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, người bị hại chị Đỗ Triệu T5 yêu cầu bị cáo bồi thường theo quy định pháp luật; ngày 07/10/2025 đại diện gia đình Bùi Xuân T đã tự nguyện nộp số tiền 26.025.000 đồng (Hai mươi sáu triệu không trăm hai mươi lăm nghìn đồng) để bồi thường cho người bị hại thay cho Bùi Xuân T.

Tại Cáo trạng số 93/CT-VKS-HĐ ngày 17/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6, thành phố Hà Nội đã truy tố Bùi Xuân T về tội Trộm cắp tài sản khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội, nhận thức được hành vi vi phạm và mong muốn được gia đình bồi thường thay cho bị cáo vì bị cáo đang bị tạm giam, gia đình bị cáo tự nguyện bồi thường thêm cho bị hại 10.000.000 đồng. Bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về gia đình và xã hội.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại đề nghị: Nhất trí về tội danh, điều luật và hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng tại phiên tòa, xác nhận gia đình bị cáo đã bồi thường thiệt hại và trước phiên tòa gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường thêm 10.000.000 đồng cho bị hại, tổng số tiền là 36.025.000 đồng. Bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu gì khác về dân sự, đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

- Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố. Sau khi đánh giá tính chât mức độ hành vi phạm tội, vai trò phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

  • + Tuyên bố bị cáo Bùi Xuân T phạm tội Trộm cắp tài sản.
  • + Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình; xử phạt bị cáo Bùi Xuân T từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng. Trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
  • Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  • + Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo đã bồi thường thiệt hại thay cho bị cáo. Bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu gì khác về dân sự nên không xét.
  • Trả bị hại số tiền 26.025.000 đồng do gia đình bị cáo bồi thường thay cho bị cáo, đã nộp tại Kho bạc Nhà nước.
  • Anh Bùi Ngọc T4 (anh trai bị cáo) bồi thường thay cho bị cáo, không có yêu cầu bị cáo phải hoàn trả lại số tiền anh đã bồi thường cho bị hại nên không xét.
  • + Về xử lý vật chứng: Tịch thu 01 điện di động hiệu Iphone 14 Pro Max màu tím của bị cáo vì liên quan đến hành vi phạm tội.
  • + Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6-Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với vật chứng thu giữ và phù hợp với các tài liệu khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Nên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Ngày 15/7/2025, bị cáo Bùi Xuân T giả làm người Hàn Quốc để làm quen với chị Đỗ Triệu T5 trên mạng xã hội. Ngày 16/7/2025, bị cáo T hẹn T5 đến khách sạn R (địa chỉ: Số H, I B, Khu đô thị M, tổ A, phường K, thành phố Hà Nội) để gặp gỡ, nói chuyện, T5 đồng ý. Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 16/7/2025 tại phòng 303, khách sạn R, số H, 09, B, Khu đô thị M, phường K, thành phố Hà Nội, sau khi bị cáo và chị T5 sử dụng điện thoại để nói chuyện với nhau, nhân cơ hội chị T5 đi vào phòng vệ sinh, bị cáo Bùi Xuân T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 16 Pro Max, màu xám titan tự nhiên bản 256GB để trên giường, trị giá theo kết luận định giá là 26.025.000 đồng. Chị T5 phát hiện, đuổi theo bị cáo nhưng không kịp. Sau khi chiếm đoạt được điện thoại, bị cáo T đã bán cho đối tượng không quen biết được 24.000.000 đồng và sử dụng chi tiêu cá nhân hết số tiền này.

Hành vi chiếm đoạt tài sản của bị cáo đã phạm vào tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm. Viện kiểm sát khu vực 6, thành phố Hà Nội đã truy tố bị cáo là có căn cứ pháp luật.

[3]. Đánh giá tính chất mức độ, hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo khi quyết định hình phạt Hội đồng xem xét thấy:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội gây mất trật tự tại địa phương, xâm phạm đến tài sản hợp pháp của bị hại được pháp luật bảo vệ. Hành vi phạm tội của bị cáo cần áp dụng hình phạt tù tương xứng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gia đình bị cáo đã tự nguyện tích cực bồi thường thiệt hại cho bị hại, bị cáo mong muốn được gia đình bồi thường cho bị hại vì bị cáo đang bị tạm giam; bị cáo nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đầu thú khai nhận hành vi phạm tội nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xét hậu quả của vụ án đã được khắc phục, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng nên bị cáo đủ điều kiện được hưởng án treo, cho bị cáo được hưởng lượng sự khoản hồng của pháp luật theo Điều 65 của Bộ luật hình sự và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022, Nghị quyết số 02/2025, Văn bản hợp nhất số 03/VBHN-TANDTC hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo.

Bị cáo đang bị tạm giam căn cứ khoản 4 Điều 328 của Bộ luật tố tụng hình sự trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, tuy nhiên xét bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo cũng là phù hợp.

[5]. Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo đã bồi thường thay cho bị cáo số tiền 26.025.000 đồng (theo kết luận định giá) số tiền này được nộp tại Kho bạc Nhà nước, ngoài ra còn tự nguyện bồi thường thêm cho bị hại trước phiên tòa 10.000.000 đồng, tổng số 36.025.000 đồng. Bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu bồi thường gì khác nên Tòa không xét.

Trả bị hại (người đại diện hợp pháp của bị hại) do bị cáo bồi thường số tiền 26.025.000 đồng nộp tại Kho bạc Nhà nước theo ủy nhiệm chi số 09 ngày 10/12/2025.

Anh Bùi Ngọc T4 (anh trai bị cáo) đã bồi thường cho bị hại thay bị cáo, anh không có yêu cầu bị cáo phải hoàn trả lại số tiền đã bồi thường nên không xét.

[6]. Về xử lý vật chứng: Cơ quan Điều tra đã thu giữ 01 điện di động hiệu Iphone 14 Pro Max màu tím của bị cáo, xét chiếc điện thoại này bị cáo sử dụng để liên lạc với bị hại, liên quan đến hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

[7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định pháp luật.

[87]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Bùi Xuân T phạm tội Trộm cắp tài sản.
    • - Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự; khoản 4 Điều 328 của Bộ luật tố tụng hình sự.
    • Xử phạt bị cáo Bùi Xuân T 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
    • Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác
    • Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Đ, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách của bản án.
    • Trong thời gian thử thách, nếu các bị cáo được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
    • Trường hợp bị cáo được hưởng án treo vắng mặt nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc được thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
  2. Về trách nhiệm dân sự:
    • Bị hại, người đại diện hợp pháp đã được bồi thường, không có yêu cầu gì khác về dân sự nên Tòa không xét.
    • Trả bị hại (người đại diện hợp pháp của bị hại) do bị cáo bồi thường số tiền 26.025.000 đồng nộp tại Kho bạc Nhà nước theo ủy nhiệm chi số 09 ngày 10/12/2025.
    • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu hoàn trả lại tiền bồi thường nên Tòa không xét.
  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
    • Tịch thu 01 điện di động hiệu Iphone 14 Pro Max màu tím, số máy: MQ8R3LL/A, số IMEI: 355909992629942 lắp 01 sim đã qua sử dụng của bị cáo.
  4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án và lệ phí Tòa án.
    • Bị cáo phải phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
    • Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án, quyết định liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhân:

  • - TAND TP. Hà Nội;
  • - Phòng THA khu vực 6-Hà Nội;
  • - Công an thành phố Hà Nội;
  • - Viện kiểm sát khu vực 6-Hà Nội;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Thị Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 200/2025/HSST ngày 12/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HÀ NỘI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 200/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Bùi Xuân T có hành vi Trộm cắp 01 (một) điện thoại định giá là 26.025.000 đồng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger