Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 19/2025/HNGĐ-PT

Ngày: 28 - 11 - 2025.

V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi

con chung"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Văn Biền.

Các thẩm phán: Ông Trần Công Đoàn và bà Trần Thị Sâm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Lại Thị Thuỳ Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 17/2025/TLPT-HNGĐ ngày 06/10/2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”.

Do bản án số 08/2025/HNGĐ-ST ngày 19 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5, tỉnh Ninh Bình bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2025/QĐ-PT ngày 28/10/2025; Quyết định hoãn phiên toà số 14/5025/QĐ- PT ngày 18/11/2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Anh Vũ Văn H, sinh ngày 03/4/1985; số định danh cá nhân: 035085005740; nơi cư trú: Tổ dân phố số B, phường T, thị xã K, tỉnh Hà Nam (nay là tổ dân phố số B, phường K, tỉnh Ninh Bình);
  2. Bị đơn: Chị Trần Thị X, sinh ngày 25/3/1986; số định danh cá nhân: 035186001389; nơi cư trú: Tổ dân phố số B, phường T, thị xã K, tỉnh Hà Nam (nay là tổ dân phố số B, phường K, tỉnh Ninh Bình);

Hiện tạm trú tại: Tổ C, phường H, tỉnh Ninh Bình.

  1. Người kháng cáo: Nguyên đơn anh Vũ Văn H.

Tại phiên toà anh Vũ Văn H, chị Trần Thị X có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Bản án sơ thẩm, đơn khởi kiện, lời khai của các đương sự và các tài liệu trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Anh Vũ Văn H trình bày: Anh kết hôn với chị Trần Thị X trên cơ sở tự nguyện, được tự do tìm hiểu, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn ngày 19/9/2020 tại UBND xã V, huyện B, tỉnh Hà Nam (nay là xã B, tỉnh Ninh Bình). Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận tại thôn B, xã N, huyện K, tỉnh Hà Nam (nay là tổ dân phố số B, phường K, tỉnh Ninh Bình) đến ngày 20/10/2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do chị X có quan hệ tình cảm với người đàn ông khác, anh và gia đình đã khuyên bảo nhiều lần nhưng chị X không thay đổi mà vẫn tiếp tục mối quan hệ dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra đánh cãi chửi nhau, vợ chồng sống với nhau nhưng không còn tình cảm. Anh chị sống ly thân và chấm dứt quan hệ vợ chồng từ đầu tháng 3 năm 2025 đến nay không ai quan tâm đến tình cảm, cuộc sống của nhau nữa. Nay anh H xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Trần Thị X.

Bị đơn chị Trần Thị X trình bày: Về thời gian, điều kiện kết hôn giữa chị với anh Vũ Văn H và thời điểm vợ chồng sống ly thân đúng như anh H đã trình bày. Còn nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra xô xát căng thẳng. Nay anh H xin ly hôn, chị xác định tình cảm vợ chồng giữa chị với anh H không còn nên chị nhất trí ly hôn.

Về con chung: Anh H và chị X thống nhất xác định vợ chồng anh chị có 01 con chung là Vũ Gia H1, sinh ngày 02/5/2021, hiện nay cháu H1 đang ở với chị X. Tuy nhiên, anh chị không thống nhất được việc nuôi dưỡng con chung. Cả anh H và chị X đều xin được nuôi dưỡng cháu H1 và không yêu cầu bên kia góp tiền cấp dưỡng nuôi con. Tại cấp sơ thẩm chị X có nộp hợp đồng lao động chứng minh chị X có nghề nghiệp và thu nhập ổn định;

Về con riêng: Anh H và chị X thống nhất không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung, tài sản riêng, công sức đóng góp, công nợ, đất nông nghiệp: Anh H và chị X thống nhất không yêu cầu Toà án xem xét, giải quyết.

Tại Bản án số 08/2025/HNGĐ-ST ngày 19/8/2025, Tòa án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình đã quyết định:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 55, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Vũ Văn H và chị Trần Thị X.
  2. Về con chung: Giao cháu Vũ Gia H1, sinh ngày 02/5/2021 cho chị X trực tiếp nuôi dưỡng. Anh H không phải góp tiền cấp dưỡng nuôi con theo sự tự nguyện của chị X.

Chị X cùng các thành viên gia đình không được cản trở anh H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

  1. Án phí: Anh Vũ Văn H và chị Trần Thị X mỗi người phải chịu 75.000₫ (bảy mươi lăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Chấp nhận sự tự nguyện thỏa thuận của anh H và chị X, chuyển số tiền tạm ứng án phí anh H đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0002379 ngày 09/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Kim Bảng, tỉnh Hà Nam để đối trừ vào tiền án phí ly hôn anh H, chị X phải chịu. (Anh H và chị X đã thi hành xong phần án phí ly hôn sơ thẩm). Hoàn trả lại cho anh Vũ Văn H số tiền 150.000đ (một trăm năm mươi nghìn đồng).

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo và thi hành án cho các đương sự.

Ngày 29/8/2025, anh Vũ Văn H kháng cáo một phần bản án với lý do không chấp nhận phán quyết phần nuôi con của bản án sơ thẩm, anh đề nghị toà án cấp phúc thẩm giao con cho anh nuôi, không yêu cầu chị X cấp dưỡng nuôi con chung. Nộp kèm theo đơn kháng cáo có phiếu xác nhận lương tháng của anh để chứng minh thu nhập, Sao kê tài khoản ngân hàng về việc Công ty trách nhiệm hữu hạn K (Việt Nam) trả lương qua tài khoản của anh H. Cụ thể lương tháng 3/2025 là 16.758.401đ; tháng 4/2025 là 13.940.904đ; tháng 5/2025 là 20.067.500đ; tháng 6/2025 là 12.741.984đ; tháng 7/2025 là 19.568.045đ. Đơn xin xác nhận về việc anh H sinh sống tại địa phương chấp hành tốt các chính sách pháp luật của địa phương có xác nhận của Công an phường K, tỉnh Ninh Bình. Đơn trình bày của anh H về việc bố mẹ anh hỗ trợ anh trong việc chăm sóc nuôi dưỡng con.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Anh H, chị X vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát tỉnh Ninh Bình phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

- Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định của bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự chấp nhận kháng cáo của anh Vũ Văn H. Sửa bản án sơ thẩm số 08/2025/HNGĐ-ST ngày 19/8/2025 của Toà án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình theo hướng giao cháu Vũ Gia H1 cho anh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng kể từ tháng 11/2025, chị X không phải cấp dưỡng nuôi con chung theo sự tự nguyện của anh H.

Án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của anh H được chấp nhận nên anh H không phải chịu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Toà án nhân dân khu vực 5 tỉnh Ninh Bình giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm là đúng thẩm quyền, đúng pháp luật.

Đơn kháng cáo của anh Vũ Văn H trong thời hạn luật định nên vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án cấp phúc thẩm.

[2] Quan hệ hôn nhân: Anh Vũ Văn H và chị Trần Thị X kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được tự do tìm hiểu, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn ngày 19/9/2020 tại UBND xã V, huyện B, tỉnh Hà Nam (nay là xã B, tỉnh Ninh Bình). Do đó Hội đồng xét xử xác định quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

Sau khi kết hôn anh chị chung sống hòa thuận khoảng 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, thường xuyên bất đồng quan điểm trong cuộc sống, ngoài ra anh H hay nghi ngờ chị X không chung thủy với anh dẫn đến tình trạng vợ chồng thường xuyên xảy ra xô xát cãi chửi nhau. Nay anh H và chị X cùng xác định tình cảm vợ chồng không còn và đều đề nghị Tòa án giải quyết cho anh chị được ly hôn. Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án cũng như kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng hôn nhân giữa anh H và chị X thực sự đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, xử công nhận thuận tình ly hôn giữa anh H và chị X là hoàn toàn phù hợp với Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình.

Toà án cấp sơ thẩm đã đánh giá, giải quyết xử công nhận anh H, chị X ly hôn là đúng pháp luật.

[3] Về con chung: Anh H và chị X có một con chung là Vũ Gia H1, sinh ngày 02/5/2021, hiện nay đang ở với chị X. Xét yêu cầu về việc nuôi con của anh chị, Hội đồng xét xử thấy rằng việc giao con cho ai nuôi cần phải xem xét quyền lợi về mọi mặt của con chưa thành niên.

Xét yêu cầu của các đương sự về việc nhận nuôi con chung và điều kiện hiện nay của anh chị, HĐXX xét thấy: Điều kiện kinh tế của chị X hiện nay đang làm việc tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn T Sơn H2 địa chỉ TDP D, phường H, thị xã D, tỉnh Hà Nam (cũ) có mức thu nhập lương cơ bản hàng tháng 4.500.000đồng/tháng và các khoản hỗ trợ của công ty, tổng thu nhập khoảng gần 8.000.000/tháng. Anh H tại cấp phúc thẩm đã nộp bảng xác nhận thu nhập tại công ty TNHH K1. Địa chỉ lô CN 05 khu công nghiệp H, thị xã D, tỉnh Hà Nam (cũ) lương cơ bản hàng tháng 5.500.000đồng/tháng và các khoản phụ cấp, hỗ trợ của công ty tổng thu nhập khoảng gần từ trên 12.000.000 đồng đến 20.000.000đồng/tháng. Theo sao kê tài khoản của anh H tại ngân hàng V cụ thể lương tháng 3/2025 là 16.758.401đ; tháng 4/2025 là 13.940.904đ; tháng 5/2025 là 20.067.500đ; tháng 6/2025 là 12.741.984đ; tháng 7/2025 là 19.568.045đ. Về điều kiện nơi ở chị X hiện không có chỗ ở riêng, mẹ con hiện nay đang thuê nhà ở địa chỉ tổ C, phường H, tỉnh Ninh Bình. Anh H có nhà ở, nơi cư trú rõ ràng, sống gần bố mẹ đẻ tại địa chỉ Tổ dân phố số B, phường T, thị xã K, tỉnh Hà Nam (nay là tổ dân phố số B, phường K, tỉnh Ninh Bình); về nguyện vọng nuôi con chung của anh H, chị X đều chính đáng nhưng phải đảm bảo tốt nhất quyền lợi của con. Về khả năng kinh tế anh H có thu nhập cao có khả năng chu cấp tài chính cho con tốt hơn chị X. Về nơi ăn chốn ở anh H có nhà cửa ổn định, còn chị X chưa có nhà cửa chỗ ở riêng. Ngoài ra chị X còn có con riêng phải nuôi dưỡng. Tại cấp sơ thẩm anh H không cung cấp chứng cứ chứng minh thu nhập nên Toà án sơ thẩm giao con cho chị X nuôi dưỡng là phù hợp. Nhưng tại cấp phúc thẩm anh H cung cấp đầy đủ chứng cứ chứng minh anh có công việc làm, thu nhập ổn định. Để đảm bảo quyền lợi cho con chung được nuôi dưỡng, chăm sóc tốt nhất. Vì vậy, kháng cáo của anh Vũ Văn H về việc nuôi con chung có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Sửa một phần bản án sơ thẩm số 08/2025/HNGĐ-ST ngày 19/8/2025 của Toà án nhân dân khu vực 5 tỉnh Ninh Bình, giao cháu Vũ Gia H1, sinh ngày 02/5/2021 cho anh H nuôi dưỡng chăm sóc giáo dục, ghi nhận sự tự nguyện của anh H không yêu cầu chị X cấp dưỡng nuôi con chung. Chị X được quyền thăm nom, chăm sóc con chung, anh H không được ngăn cản.

[4] Về tài sản chung, công nợ chung: Anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét.

[5] Án phí phúc thẩm: Do kháng cáo của anh H được chấp nhận nên anh H không phải nộp án phí dân sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308; 309 Bộ luật tố tụng dân sự

Chấp nhận kháng cáo của anh Vũ Văn H. Sửa bản án sơ thẩm số 08/2025/HNGĐ-ST Ngày 19/08/2025 của Toà án nhân dân khu vực 5 tỉnh Ninh Bình về con chung.

Căn cứ Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ khoản 4 Điều 147; Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Xử công nhận thuận tình ly hôn giữa anh Vũ Văn H và chị Trần Thị X.
  2. Về con chung: Giao cháu Vũ Gia H1, sinh ngày 02/5/2021 cho anh Vũ Văn H trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc, giáo dục kể từ tháng 11/2025. Chị Trần Thị X không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Chị Trần Thị X có trách nhiệm giao con chung Vũ Gia H1, sinh ngày 02/5/2021 cho anh Vũ Văn H nuôi dưỡng.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

  1. Án phí ly hôn sơ thẩm: Anh Vũ Văn H và chị Trần Thị X mỗi người phải chịu 75.000đ (bảy mươi lăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Chấp nhận sự tự nguyện thỏa thuận của anh H và chị X, chuyển số tiền tạm ứng án phí anh H đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0002379 ngày 09/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Kim Bảng, tỉnh Hà Nam (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 5 - Ninh Bình) để đối trừ vào tiền án phí ly hôn anh H, chị X phải chịu. (Anh H và chị X đã thi hành xong phần án phí ly hôn sơ thẩm). Hoàn trả lại cho anh Vũ Văn H số tiền 150.000₫ (một trăm năm mươi nghìn đồng).
  2. Án phí phúc thẩm: Anh Vũ Văn H không phải chịu án phí phúc thẩm. Trả lại anh H số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng anh đã nộp tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 5 - Ninh Bình theo biên lai thu số 0000863 ngày 09/9/2025.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND khu vực 5-Ninh Bình.
  • - VKSND tỉnh Ninh Bình.
  • - Phòng THADS khu vực 5-Ninh Bình.
  • - Các đương sự.
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi văn Biền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 19/2025/HNGĐ-PT ngày 28/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung

  • Số bản án: 19/2025/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con giữa anh Vũ Văn H và chị Trần Thị X
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger