Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 18/2025/HNGĐ-PT

Ngày 28-11-2025

V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Công

Các Thẩm phán: Ông Trần Văn San

Bà Nguyễn Thị Phượng

Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Văn Sơn - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Ninh Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình tham dự phiên tòa: Bà Bùi Thị Thúy Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 25/2025/TLPT-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”;

Do Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 33/2025/HNGĐ-ST ngày 19 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Ninh Bình bị kháng cáo;

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 32/2025/QĐ-PT ngày 18 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1996; đăng ký thường trú: Thôn A, xã V, tỉnh Ninh Bình; Căn cước công dân số [...] do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp cấp ngày 10/5/2021.
  • - Bị đơn: Anh Đỗ Tiến N, sinh năm 1988; nơi thường trú: Thôn A, xã V, tỉnh Ninh Bình; Căn cước công dân số [...] do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp cấp ngày 10/5/2021.
  • - Người kháng cáo: Bị đơn là anh Đỗ Tiến N.

Tại phiên tòa: Có mặt chị Nguyễn Thị H, anh Đỗ Tiến N.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Đỗ Tiến N đăng ký kết hôn vào ngày 04/01/2018 tại Ủy ban nhân dân xã T (nay là xã V tỉnh Ninh Bình). Sau khi kết hôn, anh chị sống hòa thuận đến cuối năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn do tính tình và quan điểm sống không hợp nhau, vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, không tìm được tiếng nói chung; nhiều lần anh N có hành vi bạo lực gia đình nên chị đã về bên ngoại để sinh sống. Gia đình hai bên cũng khuyên giải nhưng tình cảm vợ chồng chị không hoà thuận được. Vợ chồng sống với nhau không còn tình cảm nên chị đã đưa con về gia đình bố mẹ đẻ sinh sống và ly thân với anh N từ tháng 12/2024. Nay chị xác định không còn tình cảm với anh N nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh N.

Về con chung: Chị và anh N có 02 con chung là cháu Đỗ An N1, sinh ngày 30/7/2018 và Đỗ Mạnh H1, sinh ngày 11/01/2022. Nay ly hôn, chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cả hai con chung, không yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

* Tại bản tự khai và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, bị đơn anh Đỗ Tiến N trình bày:

Về hôn nhân: Anh nhất trí với lời trình bày của chị H về thời điểm kết hôn giữa anh và chị H. Vợ chồng sống hòa thuận đến tháng 9/2024 thì mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình và quan điểm sống không hợp, đặc biệt trong xây dựng kinh tế gia đình nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi nhau; chị H đã đưa con về bên ngoại sinh sống từ tháng 11/2024 đến nay. Anh đã tìm gọi chị H về nhiều lần nhưng chị H không về và làm đơn ly hôn với anh. Nay chị H có đơn ly hôn, anh mong muốn chị H suy nghĩ lại để vợ chồng đoàn tụ về nuôi dạy con cái.

Về con chung: Anh và chị H có 02 con chung là Đỗ An N1, sinh ngày 30/7/2018 và Đỗ Mạnh H1, sinh ngày 11/01/2022. Nếu chị H quyết tâm ly hôn thì anh N muốn nuôi 02 con chung và không yêu cầu chị H cấp dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh không đề nghị Tòa án giải quyết.

* Quá trình thu thập tài liệu chứng cứ, chính quyền xã cung cấp: Chị Nguyễn Thị H và anh Đỗ Tiến N đăng ký kết hôn vào tháng 01/2018 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Nam Định (nay là xã V tỉnh Ninh Bình). Mâu thuẫn cụ thể giữa anh N và chị Hà thế N2 địa phương không nắm được, chỉ thấy vợ chồng ở với nhau có xảy ra trục trặc; khoảng cuối năm 2024, chị H đưa cháu bé về bên ngoại sinh sống, không ở cùng anh N nữa. Anh N và chị H có 02 con chung là Đỗ An N1, sinh ngày 30/7/2018 và Đỗ Mạnh H1, sinh ngày 11/01/2022. Về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng anh N và chị H thì địa phương không nắm được.

Từ nội dung trên, Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 33/2025/HNGĐ-ST ngày 19 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Ninh Bình đã quyết định:

Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân gia đình; Điều 35; Điều 39; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về việc quy định mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Về hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị H và anh Đỗ Tiến N.
  2. Về con chung: Giao chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đỗ Mạnh H1, sinh ngày 11/01/2022, giao anh Đỗ Tiến N trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đỗ An N1 sinh ngày 30/7/2018; không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trong nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Ngoài ra, bản án còn tuyên án phí, quyền kháng cáo của các đương sự và nghĩa vụ thi hành án khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Ngày 10/10/2025, anh Đỗ Tiến N kháng cáo bản án sơ thẩm về việc nuôi con; đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giao cho anh được trực tiếp nuôi dưỡng các con chung là Đỗ An N1, Đỗ Mạnh H1 và anh không yêu cầu chị H phải cấp dưỡng nuôi con.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Chị Nguyễn Thị H giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; anh Đỗ Tiến N giữ nguyên nội dung kháng cáo; các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

* Kiểm sát viên - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Bình phát biểu ý kiến:

  • - Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự chấp hành đúng các quy định pháp luật tố tụng dân sự, quyền lợi của các đương sự được bảo đảm.
  • - Về việc giải quyết vụ án: Kháng cáo của anh N là không có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự không chấp nhận kháng cáo của anh N, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
  • - Về án phí phúc thẩm: Đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (sau đây viết tắt là HĐXX) xét thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của anh Đỗ Tiến N được làm trong thời hạn luật định nên HĐXX chấp nhận và xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

[2] Xét nội dung kháng cáo của anh Đỗ Tiến N:

[2.1] Anh Đỗ Tiến N và chị Nguyễn Thị H đều xác nhận trong quá trình chung sống, vợ chồng có 02 con chung là Đỗ An N1, sinh ngày 30/7/2018 và Đỗ Mạnh H1, sinh ngày 11/01/2022. Xét điều kiện thực tế về mọi mặt của anh Đỗ Tiến N và chị Nguyễn Thị H, thấy rằng: Từ khi anh chị ly thân, cháu An N1 do anh N trực tiếp nuôi dưỡng; cháu H1 do chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Nguyện vọng của cháu N1 muốn được ở với bố. Hiện nay anh N và chị H là công nhân, đều có thu nhập và điều kiện để trực tiếp nuôi con. Xét ý kiến về con chung của anh chị, Hội đồng xét xử thấy nguyện vọng được trực tiếp nuôi con của anh chị là hoàn toàn chính đáng. Tuy nhiên thực tế cháu N1 đang do anh N nuôi dưỡng, cháu H1 còn nhỏ cần sự trực tiếp chăm sóc từ mẹ. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi của con cũng như quyền và nghĩa vụ của cha mẹ với con chung, cần giao cháu N1 cho anh N trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu H1 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, phù hợp với nguyện vọng của con chung.

[2.2] Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, anh Đỗ Tiến N không xuất trình được các tài liệu mới làm căn cứ của việc kháng cáo và thể hiện việc cấp sơ thẩm giao cháu Đỗ Mạnh H1 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng làm ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của cháu H1.

[2.3] Từ nhận định trên, HĐXX phúc thẩm xét thấy không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Đỗ Tiến N về việc nuôi con.

[3] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên anh Đỗ Tiến N phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị nên cấp phúc thẩm không xem xét giải quyết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308, Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

  1. Không chấp nhận kháng cáo của anh Đỗ Tiến N, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 33/2025/HNGĐ-ST ngày 19 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Ninh Bình.
  2. Về án phí phúc thẩm: Anh Đỗ Tiến N phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm; đối trừ với số tiền 300.000 đồng đã nộp

tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí phúc thẩm số 0001186 ngày 03 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình, anh Đỗ Tiến N đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.

  1. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Ninh Bình;
  • - TAND khu vực 8 - Ninh Bình;
  • - THA DS tỉnh Ninh Bình;
  • - UBND xã Vụ Bản, tỉnh Ninh Bình;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án; VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thành Công

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 18/2025/HNGĐ-PT ngày 28/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

  • Số bản án: 18/2025/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án HNGĐ-PT về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" giữa chị Nguyễn Thị H và anh Đỗ Tiến N
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger