TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 167/2025/HSST
Ngày: 16/12/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị H
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Ngô Thị Thúy H – Cán bộ mặt trận phường D, TP. HCM
- Ông Đặng Song H – Cán bộ hưu trí
- Thư ký phiên tòa: Bà Đậu Thị H - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 11, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân Linh – Kiểm sát viên
Ngày 16 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm kín vụ án hình sự thụ lý số 156/2025/HSST ngày 21 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 191/2025/HSST- QĐXX ngày 02 tháng 12 năm 2025, đối với các bị cáo:
1. Lê Võ Tuyết N, sinh ngày 14 tháng 01 năm 2007 tại Thành Phố Hồ Chí Minh; Nơi thường trú: không đăng ký; Nơi ở trước khi bị bắt: phòng trọ số 7, số B đường số G, khu dân cư B, xã B, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nữ; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 5/12; Nghề nghiệp: lao động tự do; Con ông Võ Văn P (sinh năm 1983) và bà Lê Thị Ngọc T (đã chết);
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt từ ngày 25/9/2025, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực P, Công an Thành phố H (có mặt).
2. Nguyễn Anh P1; sinh năm 1967 tại tỉnh Hưng Yên; Nơi đăng ký thường trú: 211B7, Khu 5 tầng, Phường G, Thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là B, Khu 5 tầng, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh); Nơi ở hiện nay: 161 đường Đ, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Minh H (đã chết) và bà mẹ Đỗ Thúy A (sinh năm 1940);
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 24/9/2025. Hiện đang cư trú tại địa chỉ: A đường Đ, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Cháu Nguyễn Ngọc Kim P2, sinh ngày 28/12/2008; địa chỉ: D đường M, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
Người đại diện theo pháp luật cho cháu P2: Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1972 (mẹ ruột cháu P2); địa chỉ: D đường M, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- Ông Nguyễn Thành Đ, sinh năm 2005; địa chỉ: A BIS - L đường T, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- Ông Huỳnh Hữu P3, sinh năm 2004; địa chỉ: C xã B, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1973; địa chỉ: E đường N, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Anh P1 và Lê Võ Tuyết N quen biết nhau từ khi N còn làm việc ở quán karaoke, cả hai có lưu tài khoản zalo của nhau.
Lê Võ Tuyết N và Nguyễn Ngọc Kim P2 (sinh ngày: 28/12/2008, Nơi thường trú: 11/1 FB Thủ Khoa H, phường B, TP .) là hàng xóm và là bạn bè chơi với nhau từ nhỏ, cả hai thường đi chơi cùng nhau.
Vào ngày 18/9/2025, Nguyễn Anh P1 nhắn tin qua zalo cho N (N lưu tên P1 là “Bến tàu bình an”) gửi hình ảnh của P2 cho N, đồng thời trao đổi với N về việc muốn mua dâm P2, thì N đồng ý, N báo giá bán dâm một lần cho P1 với số tiền là 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng), P1 đồng ý. Cả hai thống nhất thời gian và địa điểm bán dâm là vào thứ bảy ngày 20/9/2025 và gặp nhau tại khu vực cây xăng P4 số 15 thuộc phường P, TP ..
Lúc này, N đang đi chơi cùng với P2, nên N thông báo lại cho P2 về việc có khách ở Vũng Tàu muốn mua dâm với số tiền 3.000.000 đồng thì P2 đồng ý, P2 thỏa thuận với N sau khi bán dâm thì sẽ trả cho N tiền công giới thiệu khách là 1.000.000 đồng.
Khoảng 03 giờ thứ bảy ngày 20/9/2025, N và P2 đi từ TP . xuống TP . (cũ) với mục đích vừa du lịch vừa cho P2 gặp P1 để bán dâm (trong đó Nguyễn Thành Đ- sinh năm 2005, trú tại A B T, phường C, quận A, TP . điều khiển xe máy chở P2; Huỳnh Hữu P3- sinh năm 2004, trú tại ấp L, xã M, tỉnh An Giang điều khiển xe máy chở N; cả Đ và P3 đều không biết mục đích bán dâm của P2 và N). Đến gần 07 giờ sáng cùng ngày thì cả nhóm xuống đến khu vực B, phường V, TP . thuê nhà nghỉ để nghỉ. Khoảng gần 15 giờ cùng ngày, theo như thỏa thuận, P2 mượn xe máy của Đ một mình chạy đến địa điểm mà P1 đã thỏa thuận với N trước đó. Tuy nhiên, do đang đi giữa đường thì xe máy của P2 bị hư nên P2 gọi N đến giúp. N mượn xe máy của P3 một mình chạy đến vị trí của P2 và chở P2 đến trước cây xăng P4 số 15 thuộc phường P, TP . để P2 đứng chờ P1. Sau đó, N đến quán cà phê võng gần đó chờ P2 bán dâm xong để chở về; đồng thời thời điểm này N nhắn tin cho P1 để xin thêm 200.000đ tiền cà phê thì P1 đồng ý.
Một lúc sau, P1 điều khiển xe ô tô BKS 72A-664.36 đến cây xăng P4 số 15 đón P2 đến nhà nghỉ S ở địa chỉ E N, phường P, TP .; cả hai vào thuê phòng 103 và quan hệ tình dục. Sau khi quan hệ tình dục xong, P1 trả cho P2 số tiền 3.000.000 đồng là tiền mua dâm và thêm 200.000 đồng P1 cho thêm N, tổng là 3.200.000 đồng. Sau đó, P1 điều khiển xe ô tô chở P2 về lại cây xăng 15 và rời đi. N đến và chở P2 về lại nhà nghỉ, P2 đưa cho N tiền công là 1.000.000 đồng; riêng 200.000 đồng mà P1 cho thêm N thì P2 trừ khoản nợ của N trước đó. Đến 21 giờ cùng ngày, cả nhóm trả phòng để về TP .. N, P2 và hai người bạn trai đi trên đoạn đường Q, thuộc địa bàn phường P, TP . thì bị Tổ công tác 363 Công an T dừng xe kiểm tra, sau đó đưa về cơ quan công an làm việc.
Kết quả xác minh độ tuổi của Nguyễn Ngọc Kim P2 tại Giấy khai sinh số 16/2009; quyển số I/BT ngày 14/01/2009 của UBND phường B, TP ., xác định P2 sinh ngày 28/12/2008 (khai sinh đúng hạn). Do đó, vào ngày 20/9/2025, thời điểm P2 thực hiện hành vi bán dâm cho bị can P1 thì P2 chưa đủ 18 tuổi (16 tuổi 08 tháng 23 ngày) (BL: 108).
Tại Bản kết luận giám định số 45/2025/KLXHTD-PYHCM-CS3 ngày 29/9/2025 của Trung tâm pháp y - Sở Y kết luận giám định xâm hại tình dục đối với Nguyễn Ngọc Kim P2 như sau:
“Không có sây sát da hay bầm tím trên cơ thể và vùng bẹn đùi hai bên
Rách màng trinh cũ ở vị trí 07 giờ
Dịch vùng âm hộ, âm đạo, hậu môn: Không có tinh trùng
Không phát hiện kháng thể HIV trong huyết thanh
Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2025 của Bộ Y1 quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Ngọc Kim P2 tại thời điểm giám định là: Không có tỷ lệ tổn thương cơ thể.” (BL: 112-115).
Quá trình điều tra, Lê Võ Tuyết N và Nguyễn Anh P1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên (BL: 69-76, 88-96, 101-104).
* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật: Cơ quan CSĐT Công an T thu giữ:
- Thu giữ của Lê Võ Tuyết N: (BL số 81, 82, 83)
- Lê Võ Tuyết N tự nguyện nộp lại cho Cơ quan Công an số tiền 700.000₫ là tiền công môi giới mại dâm cho Nguyễn Ngọc Kim P2 (đã tiêu xài hết số tiền còn lại).
- 03 (ba) tờ A4 chứa nội dung tin nhắn trao đổi qua ứng dụng zalo với tài khoản “Bến tàu bình an”.
- 01 (một) tờ A4 gồm 04 (bốn) ảnh chụp màn hình các cuộc gọi từ zalo “Bến tàu bình an”.
- 01 (một) điện thoại hiệu Iphone 13 Promax (màu xám; kiểu máy CPH2591; số seri: NJ56Y0JJGF; số IMEI: 35927253819674).
- Thu giữ của Nguyễn Ngọc Kim P2: (BL số 120-122)
- Nguyễn Ngọc Kim P2 tự nguyện nộp lại cho Cơ quan Công an số tiền 2.000.000đ là tiền bán dâm cho Nguyễn Anh P1.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X, màu trắng, số IMEI: 356738085721343, Số S: F2MVV0FGJCLL.
- 05 (năm) tờ giấy A4 có in hình ảnh cuộc hội thoại nhắn tin trao đổi địa điểm giữa Nguyễn Ngọc Kim P2 và Nguyễn Anh P1 trên ứng dụng tin nhắn zalo.
- Đối với chiếc điện thoại di động mà Nguyễn Anh P1 dùng để liên lạc với Lê Võ Tuyết N và Nguyễn Ngọc Kim P2 hiện không thu giữ được do bị can P1 đã ném bỏ xuống biển.
- Đối với xe ô tô biển số 72A-664.36 là phương tiện P1 dùng chở gái bán dâm từ cây xăng P4 số 15 đến nhà nghỉ S. Qua xác minh xác định đây là tài sản hợp pháp và là tài sản của riêng bà Trần Thị H1- sinh năm 1968- là vợ của bị can P1, mặt khác đây không phải là phương tiện phạm tội nên không có cơ sở thu giữ.
* Xử lý vật chứng:
Số tiền 2.700.000 đồng (Hai triệu, bảy trăm ngàn đồng) và 02 (hai) điện thoại di động được chuyển vật chứng trên sang Phòng Thi hành án dân sự khu vực 11, TP . để bảo quản, chờ xử lý.
Các giấy tờ A4 chứa nội dung tin nhắn và cuộc gọi liên quan đến hành vi phạm tội tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án để làm chứng cứ.
* Về trách nhiệm dân sự: Không.
Bản Cáo trạng số 31/CT-VKS ngày 17/11/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11, TP . đã truy tố bị cáo Lê Võ Tuyết N về tội “Môi giới mại dâm” theo điểm a khoản 2 Điều 328 Bộ luật Hình sự và bị cáo Nguyễn Anh P1 về tội “Mua dâm người dưới 18 tuổi” theo khoản 1 Điều 329 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với các bị cáo đồng thời đề nghị:
Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 328, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Lê Võ Tuyết N mức án từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Môi giới mại dâm”; Thời hạn tù tính từ ngày 25/9/2025.
Áp dụng khoản 1 Điều 329, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt Nguyễn Anh P1 từ 18 đến 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách án treo là từ 36 đến 48 tháng về tội “Mua dâm người dưới 18 tuổi”.
Về vật chứng:
Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 2.700.000 đồng (hai triệu, bảy trăm ngàn đồng) trong đó: 2.000.000đ tiền mua bán dâm do Nguyễn Ngọc Kim P2 tự nguyện nộp và 700.000đ tiền môi giới mại dâm do Lê Võ Tuyết N tự nguyện nộp.
Buộc bị cáo Lê Võ Tuyết N nộp 500.000đ tiền thu lợi bất chính do môi giới mại dâm mà có để sung vào công quỹ Nhà nước.
Đối với 02 (hai) điện thoại di động do N và P2 giao nộp, là công cụ, phương tiện có liên quan đến hành vi phạm tội nên tịch thu để sung vào công quỹ Nhà nước.
Đối với các giấy tờ A4 chứa nội dung tin nhắn và cuộc gọi liên quan đến hành vi phạm tội đề nghị tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án để làm chứng cứ.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận, đồng ý với cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát; các bị cáo ăn năn hối hận về hành vi của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để có cơ hội làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về việc vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Tại phiên tòa, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được tòa án triệu tập gồm: Cháu Nguyễn Ngọc Kim P2, bà Nguyễn Thị T1 (mẹ ruột cháu P2), ông Nguyễn Thành Đ, ông Huỳnh Hữu P3, bà Nguyễn Thị T2 đã được tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không rõ lý do. Xét những người này đã có lời khai rõ ràng trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt họ không ảnh hưởng đến quá trình xét xử nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ.
[2] Về hành vi bị truy tố của các bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng và luận tội mà kiểm sát viên nêu. Đối chiếu lời khai nhận tội của các bị cáo tại tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 20/9/2025, tại nhà nghỉ S, địa chỉ E N, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh, Lê Võ Tuyết N đã có hành vi môi giới cho Nguyễn Anh P1 mua dâm Nguyễn Ngọc Kim P2 khi P2 khi P2 chưa đủ 18 tuổi (P2 sinh ngày 28/12/2008), giá mua dâm là 3.200.000 đồng (trong đó tiền Phương bán dâm là 2.000.000đ, tiền công môi giới bị cáo N được hưởng là 1.200.000 đồng).
Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Do đó, hành vi bị cáo Lê Võ Tuyết N đã thực hiện nêu trên đủ yếu tố cấu thành tội “Môi giới mại dâm” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 328 Bộ luật Hình sự; hành vi bị cáo Nguyễn Anh P1 đã thực hiện nêu trên đủ yếu tố cấu thành tội “Mua dâm người dưới 18 tuổi” theo quy định tại khoản 1 Điều 329 Bộ luật Hình sự.
Đối với Nguyễn Ngọc Kim P2: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 354/QĐ-XPHC ngày 22/10/2025, Công an phường P, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) về hành vi bán dâm theo quy định tại khoản 1 Điều 25 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP. P2 đã chấp hành đóng phạt.
Do đó, Cáo trạng số 31/CT-VKS ngày 17/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Hành vi của các bị cáo đã thực hiện nêu trên là nguy hiểm cho xã hội, gây tác động xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương và xâm phạm đến các hoạt động của Nhà nước về quản lý hành chính trong lĩnh vực trật tự công cộng; Đồng thời xâm phạm đến sức khỏe, sự phát triển tâm sinh lý bình thường của người chưa đủ 18 tuổi được pháp luật bảo vệ và ảnh hưởng đến thuần phong mỹ tục của người Việt Nam. Vì vậy, cần phải có một mức án nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo đã thực hiện, nhằm răn đe, giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[3] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, điều luật áp dụng và hình phạt:
Về nhân thân: Các bị cáo đều chưa có nhân thân và tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng năng: Các bị cáo đều không bị áp dụng tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối hận về hành vi của mình. Do đó, cả hai bị cáo đều được áp dụng tình tiết giảm nhẹ “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
Bị cáo Nguyễn Anh P1 được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự do có cung cấp hồ sơ bệnh án về suy tim, mổ van tin 02 lá, sức khỏe yếu.
Xét bị cáo Nguyễn Anh P1 phạm tội lần đầu; có nơi cư trú ổn định tại; Quá trình điều tra và tại Tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình; Bị cáo được áp dụng 02 tình tiết giảm nhẹ trong đó có 01 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bị cáo hiện đang tại ngoại và chấp hành tốt việc triệu tập của cơ quan chức năng. Vì vậy, có cơ sở chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11, Thành phố Hồ Chí Minh, áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự, cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ sức răn đe, giáo dục đối với bị cáo cũng như thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[4] Xử lý vật chứng:
Đối với số tiền 2.700.000 đồng (hai triệu, bảy trăm ngàn đồng) trong đó: 2.000.000đ (hai triệu đồng) là tiền mua bán dâm do Nguyễn Ngọc Kim P2 tự nguyện nộp và 700.000đ (bảy trăm ngàn đồng) tiền môi giới mại dâm do Lê Võ Tuyết N tự nguyện nộp, cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Đối với 02 (hai) điện thoại di động do N và P2 giao nộp, là công cụ, phương tiện có liên quan đến hành vi phạm tội nên tịch thu để sung vào công quỹ Nhà nước.
Đối với các giấy tờ A4 chứa nội dung tin nhắn và cuộc gọi liên quan đến hành vi phạm tội đề nghị tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án để làm chứng cứ.
[5] Các vấn đề khác:
Đối với Nguyễn Thành Đ, Huỳnh Hữu P3: Cả hai không biết việc N môi giới cho P2 bán dâm, việc họ đi cùng chỉ với mục đích chở nhau đi chơi, không tham gia, không giúp sức cho hành vi phạm tội; khi cho N và P2 mượn xe máy thì cả hai đều không biết P2, N dùng để đi bán dâm cho khách. Do đó, không có cở sở xử lý hình sự đối với Nguyễn Thành Đ và Huỳnh Hữu P3 trong vụ án này.
Quá trình điều tra, Lê Võ Tuyết N còn khai nhận vào khoảng tháng 5/2025, N còn giới thiệu cho người phụ nữ có facebook Trúc Trần bán dâm cho một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch. Qua kiểm tra điện thoại của N không còn lưu thông tin của “Trúc T3” cũng như người mua dâm. Do đó, không có căn cứ xác định N phạm tội thuộc trường hợp định khung “Phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm d khoản 2 Điều 328 Bộ luật Hình sự.
Nguyễn Thành Đ và Nguyễn Ngọc Kim P2 khai nhận cả hai có quan hệ tình cảm với nhau từ khoảng tháng 5 hoặc tháng 6/2025, trong thời gian này đã nhiều lần quan hệ tình dục với nhau. Xét thấy thời điểm Đ thực hiện hành vi giao cấu với P2 thì P2 đã trên 16 tuổi, nên hành vi của Nguyễn Thành Đ không cấu thành tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo Điều 145 Bộ luật Hình sự.
Đối với bà Nguyễn Thị T2- sinh năm 1973, trú tại E N, phường P, TP .- là chủ nhà nghỉ S, qua làm việc bà T2 khai nhận không biết Nguyễn Anh P1 và Nguyễn Ngọc Kim P2 thuê phòng để thực hiện hành vi mua bán dâm. Do đó, không có cơ sở buộc Nguyễn Thị T2 về tội “Chứa mại dâm” theo Điều 327 Bộ luật Hình sự.
[6] Biện pháp tư pháp: Cần buộc bị cáo Lê Võ Tuyết N nộp lại số tiền 500.000đ (năm trăm ngàn đồng) là tiền N thu lợi bất chính do môi giới mại dâm mà có để sung vào công quỹ Nhà nước.
[7] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Về hình phạt:
Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 328; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Võ Tuyết N 03 (ba) năm tù về tội “Môi giới mại dâm”; Thời hạn tù tính từ ngày 25 tháng 9 năm 2025.
Áp dụng khoản 1 Điều 329; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Anh P1 18 (mười tám) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Mua dâm người dưới 18 tuổi”; Thời gian thử thách án treo là 36 (ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Anh P1 cho Ủy ban nhân dân P5, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo Nguyễn Anh P1 vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 87 của Luật thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 93 của Luật thi hành án hình sự; nếu phạm tội mới trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo phải chấp hành tù của Bản án đã cho hưởng án treo và tổng hợp với hình phạt của Bản án mới theo quy định của Bộ luật Hình sự.
[2] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu sung quỹ nhà nước: số tiền 2.700.000 đồng (hai triệu, bảy trăm ngàn đồng); 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax màu xám số IMEI 359272538196744 và 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone X màu trắng số IMEI 356738085721343;
Vật chứng nêu trên hiện Thi hành án dân sự Thành phố H đang quản lý, lưu giữ theo Biên bản Giao nhận vật chứng, tài sản số 18/BB-PTHADS và Giấy nộp tiền vào tài khoản số 191125.0001.00076 cùng ngày 19 tháng 11 năm 2025.
[3] Biện pháp tư pháp: Buộc bị cáo Lê Võ Tuyết N nộp lại số tiền 500.000₫ (năm trăm ngàn đồng) là tiền N thu lợi bất chính do môi giới mại dâm mà có để sung vào công quỹ Nhà nước.
[4] Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH14 ngày 31/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, buộc các bị cáo Lê Võ Tuyết N và Nguyễn Anh P1 phải nộp mỗi bị cáo 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[5] Quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án (đối với người vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 (mười lăm) kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ) để yêu cầu Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
Nơi nhận:
- TAND TP. HCM;
- VKSND TP. HCM;
- Công an TP. HCM;
- Sở Tư pháp TP. HCM;
- VKSND KV 11, TP. HCM;
- Trại tạm giam số 1, CA. TP.HCM;
- Phân trại TG KV Phước Thắng, TP.HCM;
- UBND phường Phước Thắng, TP. HCM
- THADS TP. HCM;
- Các bị cáo; Người tham gia tố tụng;
- Lưu VT, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA. Phạm Thị H |
Bản án số 167/2025/HSST ngày 16/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm
- Số bản án: 167/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: môi giới mại dâm
