Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 164/2025/DS-PT

Ngày 16-12-2025

V/v tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Bích Diệp

Các Thẩm phán:

Ông Bùi Duy Thạch

Ông Nguyễn Minh Tân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Sông Hương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng: Ông Trịnh Văn Thảo - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 16 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 170/2025/TLPT-DS ngày 20 tháng 10 năm 2025 về tranh chấp quyền sử dụng đất.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 09/2025/DS-ST ngày 25 tháng 8 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 11 - Hải Phòng bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 209/2025/QĐ-PT ngày 01 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Cụ Trịnh Thị G và ông Nguyễn Ngọc C; nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, thành phố Hải Phòng. Cụ G vắng mặt, ông C có mặt.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Phạm Duy K; địa chỉ: Tòa nhà F, xóm A, xã Đ, thành phố Hải Phòng; là người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn (Văn bản ủy quyền ngày 13 tháng 10 năm 2025). Có mặt

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cụ Trịnh Thị G: Bà Nguyễn Thị L - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm T2, thành phố Hải Phòng. Có mặt.

  1. Bị đơn: Anh Nguyễn Tá T; nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, thành phố Hải Phòng. Có mặt.
  2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
  • Bà Nguyễn Thị N; nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, thành phố Hải Phòng. Có mặt.
  • Ông Nguyễn Ngọc S; nơi cư trú: Số A N, phường B, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
  • Ông Nguyễn Ngọc K1; nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.
  • Bà Nguyễn Thị C1; nơi cư trú: Số A N, phường B, thành phố Hà Nội. Có mặt.
  • Bà Nguyễn Thị S1; nơi cư trú: Tổ H, phường L, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
  • Bà Nguyễn Thị M; nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, thành phố Hải Phòng. Có mặt.
  • Bà Trần Thị L1; nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của bà Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Ngọc S, ông Nguyễn Ngọc K1, bà Nguyễn Thị C1, bà Nguyễn Thị S1, bà Nguyễn Thị M và bà Trần Thị L1: Ông Nguyễn Ngọc C; địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, thành phố Hải Phòng; là người đại diện theo uỷ quyền (Văn bản uỷ quyền ngày 14 tháng 10 năm 2024 và Văn bản uỷ quyền ngày 26 tháng 11 năm 2024). Có mặt.

Ông Nguyễn Ngọc C2; nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, thành phố Hải Phòng. Có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án.

Chị Nguyễn Thị H; nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt.

Người đại diện hợp pháp của chị Nguyễn Thị H: Anh Nguyễn Tá T; địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, thành phố Hải Phòng; là người đại diện theo uỷ quyền của chị Nguyễn Thị H (Văn bản uỷ quyền ngày 16 tháng 10 năm 2024). Có mặt.

Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Đ, thành phố Hải Phòng; địa chỉ: Thôn Ô, xã Đ, thành phố Hải Phòng. Vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

  1. Người kháng cáo: Cụ Trịnh Thị G và ông Nguyễn Ngọc C - là nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là cụ Trịnh Thị G; ông Nguyễn Ngọc C - là nguyên đơn đồng thời là người đại diện hợp pháp của bà Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Ngọc S, ông Nguyễn Ngọc K1, bà Nguyễn Thị C1, bà Nguyễn Thị S1, bà Nguyễn Thị M, bà Trần Thị L1, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cụ Trịnh Thị G thống nhất trình bày:

Cụ Nguyễn Ngọc C3 và cụ Trịnh Thị G sinh được 08 người con gồm: Bà Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Ngọc S, ông Nguyễn Ngọc C2, bà Nguyễn Thị M, ông Nguyễn Ngọc K1, bà Nguyễn Thị C1, bà Nguyễn Thị S1 và ông Nguyễn Ngọc C. Thửa đất vợ chồng ông Nguyễn Ngọc C và thửa đất cụ Trịnh Thị G đang quản lý, sử dụng tại thôn Đ, xã B, huyện T, tỉnh Hải Dương (nay là thôn Đ, xã Đ, thành phố Hải Phòng) có nguồn gốc do ông cha để lại; trong đó thửa số 63, diện tích 341m² là của vợ chồng ông C; còn thửa đất số 63A, diện tích 337m² là của cụ C3 và cụ G. Hai thửa đất trên đều được Ủy ban nhân dân tỉnh H (cũ) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 03 tháng 11 năm 1993, đến ngày 05 tháng 11 năm 2001 được Ủy ban nhân dân huyện T (cũ) hợp pháp hóa tại trang 3 của giấy chứng nhận.

Trước khi tách thửa, thửa đất của cụ G và cụ C3 có mốc giới như sau: Phía đông giáp đường xóm, phía tây giáp đất nhà ông H1, phía bắc giáp đất nhà ông N1, ông N2 và phía nam giáp đất của cụ Nguyễn Ngọc C4 - là em ruột của cụ C3. Cụ C4 và cụ C3 đã ở trên đất từ lâu, trước đây ranh giới giữa hai nhà là hàng giậu thuần và căn bếp rạ của cụ C3. Sau khi phá dỡ rào giậu, anh Nguyễn Tá T - là cháu ngoại của cụ C4 xây đoạn tường bao cuối đất; khoảng tháng 3 đến tháng 4 năm 2014, ông Nguyễn Tá S2 - là bố của anh T xây tường bao từ đường xóm vào. Tại thời điểm đó, do gia đình anh T xây tường bao không đúng mốc giới nên cụ G không đồng ý. Tuy nhiên, do vợ chồng cụ C4 sang trình bày là cho anh T xây nhờ để chăn nuôi nên gia đình ông C không có ý kiến gì với chính quyền địa phương. Như vậy, gia đình anh T đã xây dựng hai đoạn tường bao giáp ranh với phần đất của cụ G và ông C, đoạn phía cuối đất và đoạn tường bao từ giáp đường xóm vào, xây bằng gạch chỉ và ba banh. Năm 2014, vợ chồng cụ Củng tặng cho thửa đất trên cho anh Nguyễn Tá T. Khi địa phương làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh T, mặc dù cụ G và ông C đều có nhà nhưng không được ký biên bản xác định ranh giới, mốc giới; chữ ký và chữ viết trong hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh T không phải là chữ ký, chữ viết của ông C.

Đến năm 2024, khi vợ chồng anh T xây nhà, phần công trình phụ đã lấn sang phần đất của gia đình cụ G và ông C. Theo kết quả lồng ghép giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Toà án thì anh T đã lấn sang phần đất của ông C với diện tích 13m², lấn sang phần đất của cụ G và cụ C3 với diện tích 38,1m². Vì vậy, cụ G và ông C khởi kiện yêu cầu anh T phải tháo dỡ công trình xây dựng, tường tôn để trả lại ông C, cụ G và những người thừa kế của cụ C3 phần diện tích đất nêu trên.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh Nguyễn Tá T (đồng thời là người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Thị H) trình bày:

Anh là cháu ngoại của cụ Nguyễn Ngọc C4 và cụ Nguyễn Thị T1. Thửa đất số 102, diện tích 445m² tờ bản đồ số 17, thôn Đ, xã B, huyện T, tỉnh Hải Dương (nay là thôn Đ, xã Đ, thành phố Hải Phòng) có nguồn gốc do ông cha để lại, được đăng ký

trong hồ sơ 299 là thửa số 76, tờ bản đồ số 08, diện tích 420 m² đất thổ cư, đứng tên chủ sử dụng là cụ Nguyễn Ngọc Củng . Ngày 03 tháng 11 năm 1993, cụ C4 được Ủy ban nhân dân tỉnh H (cũ) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là thửa số 64, diện tích 438m², trong đó có 300m² đất ở và 138m² đất vườn; đến ngày 05 tháng 11 năm 2001, được Ủy ban nhân dân huyện T (cũ) hợp pháp hóa tại trang 03 của giấy chứng nhận. Do cụ C4 và cụ T1 không có con trai nên năm 2013 hai cụ tặng cho anh toàn bộ thửa đất trên, việc tặng cho được lập thành văn bản và công chứng theo quy định của pháp luật. Vào thời điểm đó cơ quan chuyên môn thực hiện đo đạc, có chữ ký xác nhận của các hộ giáp ranh. Ngày 10 tháng 7 năm 2014, anh được Ủy ban nhân dân huyện T (cũ) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Thửa đất của anh có tứ cận như sau: Phía đông giáp đường xóm, phía tây giáp ông Ư, ông H1, phía nam giáp nhà ông N3, phía bắc giáp nhà cụ C3 và ông C.

Do cụ C3 và cụ C4 là anh em ruột nên trước đây thửa đất của hai gia đình để thông nhau, sau đó phía trước từ đường xóm vào đến hết vườn phía nhà anh có tường bao xây gạch ba banh cao khoảng 80cm đến khoảng 01m, đoạn sân nhà cụ C3 thì có xây bờ gô là hàng gạch mà gia đình ông C mới bật ra nhưng vẫn còn dấu vết chân tường cũ, tiếp theo là đoạn trống, cuối đất anh có xây 01 đoạn tường bao dài khoảng 04m, cao 1,5m. Năm 2024, vợ chồng anh xây dựng nhà và công trình trên thửa đất đã được cụ C4 và cụ T1 tặng cho thì các bên xảy ra tranh chấp. Vì vậy, anh chắn tôn cao 02m trên phần đất của mình, dọc theo ranh giới đất từ đầu xóm về phía cuối đất, còn đoạn tường bao ở dưới cuối đất thì vẫn còn nguyên. Anh xác định toàn bộ diện tích đất là tài sản của riêng anh, còn nhà và công trình khác trên đất là của vợ chồng anh. Ranh giới đất của các cụ được hình thành qua nhiều năm, hiện vẫn còn dấu tích để lại là các đoạn tường bao ở hai đầu, ở giữa thì vẫn còn sân của cụ C3 và cụ C4 là cơ sở để xác định. Thời điểm xây hai đoạn tường bao trên, hai bên không có bất kỳ tranh chấp nào về mốc giới. Trong hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh có chữ ký xác nhận về ranh giới, mốc giới của ông C. Vì vậy, anh không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của cụ G và ông C về việc buộc anh phải tháo dỡ các công trỉnh xây dựng để trả lại cụ G và ông C phần đất có tổng diện tích 51,1m².

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Ngọc C2 trình bày:

Cụ Nguyễn Ngọc C3 và cụ Nguyễn Ngọc C4 là anh em ruột, ông là con của cụ C3 và cụ G, cụ C4 là chú ruột của ông. Ông nhất trí với lời trình bày của nguyên đơn và bị đơn về quan hệ nhân thân giữa các đương sự cũng như nguồn gốc thửa đất của gia đình cụ C3 và cụ C4. Trước đây, ranh giới giữa phần đất của bố mẹ ông và phần đất của cụ C4 được xác định bằng hàng rào giậu thuần và bếp rạ của bố mẹ ông. Do cụ C3 và cụ C4 là anh em ruột nên hai bên để thông phần sân với nhau, phía trên có một đoạn tường bờ gô, phía dưới là hai đầu nhà của hai cụ thông nhau, phía cuối là điểm tiếp giáp với nhà bà K2 hiện nay vẫn còn đoạn tường chữ L, trong đó đoạn tường dọc từ đoạn tường tôn trở về phía bắc là do cụ C3 và cụ C4 cùng

xây, đoạn tường nối tiếp đến nhà bà K2 là do bố mẹ ông xây bằng gạch ba banh. Ông khẳng định ranh giới phân định giữa đất của bố mẹ ông, vợ chồng ông C và đất của cụ C4 (sau này cho anh T) từ đường xóm vào đến hết vườn là tường bao xây gạch ba banh do cụ C3 và cụ C4 cùng xây (thời gian xây ông không nhớ) cao khoảng 0,8 đến 01m; đoạn sân nhà cụ C3 có xây tường bờ gô là hàng gạch mới bị phá dỡ đi nhưng vết chân tường cũ vẫn còn, tiếp theo đến đoạn đất trống, cuối đất là đoạn tường bao dài khoảng hơn 02m, cao 1,5m. Đối với yêu cầu khởi kiện của cụ G và ông C, ông không đồng ý, đề nghị Tòa án căn cứ vào mốc giới ngoài thực địa để giải quyết vụ án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Hải Dương (nay là Ủy ban nhân dân xã Đ, thành phố Hải Phòng) trình bày:

Về nguồn gốc đất của gia đình cụ Nguyễn Ngọc C3 và gia đình cụ Nguyễn Ngọc C4 như các đương sự đã trình bày là đúng. Theo hồ sơ 299, cụ C3 chỉ có một thửa đất số 75, năm 1992 gia đình đề nghị tách thành hai thửa, theo đó thửa đất của cụ C3 và cụ G có vị trí ở phía trong, thửa đất của vợ chồng ông C có vị trí ở phía ngoài. Theo bản đồ địa chính năm 1992 thì ngõ đi vào đất cụ C3 nằm ở phía bên trái từ đường xóm vào, thuộc đất công và không thể hiện độ rộng ngõ đi và cũng không thể hiện trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, theo bản đồ địa chính năm 2008 và hiện trạng, ngõ đi nằm ở phía bên phải từ đường xóm vào.

Việc trên hồ sơ địa chính thể hiện ngõ đi ở phía bên tay trái là do gia đình cụ C3 tự xác định và đề nghị, do thời gian đã lâu nên hiện nay địa phương không lưu trữ được hồ sơ. Còn theo các đương sự xác định và hiện trạng ngõ đi hiện nay nằm ở phía bên phải từ đường xóm vào là do gia đình tự sử dụng. Về bản chất, dù vị trí ngõ đi được xác định theo hồ sơ năm 1992 (tức là phía bên trái) hay ở phía bên phải như hiện trạng thì vẫn là phần đất của cụ C3 và cụ G phải bỏ ra để làm lối đi. Năm 2008, khi địa phương đo đạc lập bản đồ địa chính hệ tọa độ VN-2000 có đo đạc hiện trạng các thửa đất và ngõ đi vào đất cụ G thể hiện ngõ đi bên phải từ đường xóm vào, độ rộng điểm đầu ngõ là 2,27m; cạnh vuông góc ngõ đi là 2,08m và cạnh chéo cuối ngõ đi vào đất cụ G là 2,3m. Thời điểm làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất từ cụ C4, cụ T1 cho anh T, địa phương có xuống kiểm tra hiện trạng, có trích do (trích lục) bản đồ địa chính, có chữ ký của các hộ liền kề, trong đó có chữ ký của ông Nguyễn Ngọc C.

Với nội dung trên, tại Bản án dân sự sơ thẩm số 09/2025/DS-ST ngày 25 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Hải Phòng đã căn cứ vào các điều 175 và 176 của Bộ luật Dân sự; các điều 166, 170, 203 của Luật Đất đai năm 2013;; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của cụ Trịnh Thị G về việc buộc anh Nguyễn Tá T phải tháo dỡ công trình đã xây dựng để trả lại diện tích đất 38,1m² có hình thể được giới hạn bởi ký hiệu B2-A15-A8-A7-B1-B2.
  2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Ngọc C về việc buộc anh Nguyễn Tá T phải tháo dỡ công trình đã xây dựng để trả lại diện tích đất 13m² có hình thể được giới hạn bởi ký hiệu A1-A14-B2-B1-A1.

(có sơ đồ đo vẽ chi tiết kèm theo).

Ngoài ra, bản án còn tuyên án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 28 tháng 8 năm 2025, nguyên đơn là cụ Trịnh Thị G và ông Nguyễn Ngọc C có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo.

Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm nghị án. Các đương sự về cơ bản đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của người tham gia tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc kháng cáo của các đương sự đảm bảo đúng thời hạn theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở khẳng định mốc giới giữa thửa đất của cụ C3 (nay do cụ G và ông C quản lý, sử dụng) và thửa đất của cụ C4 (nay do anh T quản lý, sử dụng) đã tồn tại nhiều năm; khi cụ C3 còn sống giữa cụ C3 và cụ C4 không phát sinh tranh chấp. Theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ của Toà án, diện tích đất của cụ G và ông C cũng như diện tích đất của anh T đều bị giảm so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Về hình thể thửa đất cũng như diện tích đất thay đổi qua các thời kỳ là do phương pháp đo đạc thủ công, không đảm bảo tính chính xác. Cụ G và ông C chỉ căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để cho rằng anh T đã xây dựng lấn chiếm sang phần đất của mình là không có cơ sở. Vì vậy, Toà án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của cụ G và ông C về việc buộc anh T phải tháo dỡ công trình xây dựng để trả lại cụ G và ông C phần đất có tổng diện tích 51,1m² là có căn cứ. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của cụ Trịnh Thị G, ông Nguyễn Ngọc C và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Về án phí: Kháng cáo của cụ Trịnh Thị G và ông Nguyễn Ngọc C không được chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên, cụ G là người

cao tuổi và có đơn đề nghị miễn án phí nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí dân sự phúc thẩm cho cụ G; ông C phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp về đất đai thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo quy định tại khoản 9 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Phần đất đang tranh chấp toạ lạc tại thôn Đ, xã B, huyện T, tỉnh Hải Dương (nay là thôn Đ, xã Đ, thành phố Hải Phòng). Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương (cũ) (nay là Toà án nhân dân khu vực 11 - Hải Phòng) thụ lý, giải quyết vụ án là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Ngày 25 tháng 8 năm 2025, Tòa án nhân dân khu vực 11 - Hải Phòng xét xử sơ thẩm vụ án; tại phiên toà, ông Nguyễn Ngọc C - là nguyên đơn đồng thời là người đại diện theo uỷ quyền của cụ Trịnh Thị G có mặt. Vì vậy, ngày 28 tháng 8 năm 2025, Toà án nhân dân khu vực 11 - Hải Phòng nhận được đơn kháng cáo của cụ G và ông C là vẫn trong thời hạn kháng cáo theo quy định tại Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Tại phiên toà, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo là ông Nguyễn Ngọc S, ông Nguyễn Ngọc K1, bà Nguyễn Thị S1, bà Trần Thị L1, chị Nguyễn Thị H và Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Đ đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất nhưng vắng mặt tại phiên toà; tuy nhiên, những người này có người đại diện hợp pháp tham gia phiên toà hoặc có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người trên theo quy định tại khoản 2 Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[4] Về việc xác định người tham gia tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Toà án cấp sơ thẩm xác định Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Hải Dương (cũ) và Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Hải Dương (cũ) là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan với lý do việc giải quyết vụ án có liên quan đến việc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và liên quan đến phần đất là ngõ đi vào thửa đất của cụ Trịnh Thị G. Căn cứ Nghị định số 151/2025/NĐ-CP ngày 12 tháng 6 năm 2025 của Chính phủ và hướng dẫn tại Công văn số 285/TANDTC-PC ngày 31 tháng 7 năm 2025 của Toà án nhân dân tối cao, lẽ ra Toà án cấp sơ thẩm phải xác định Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Đ là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của Ủy ban nhân dân huyện T, Ủy ban nhân dân xã Đ là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của Ủy ban nhân dân xã B. Tuy nhiên, Toà án cấp sơ thẩm lại xác định Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Đ là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là chưa đúng hướng dẫn của Toà án nhân dân tối cao. Tuy nhiên, trong vụ án này, không ai yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, các đương sự cũng không có tranh chấp về phần ngõ đi. Vì vậy, việc Toà án cấp sơ thẩm xác định chưa chính xác tư

cách tham gia tố tụng của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Đ như đã nêu trên không làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự trong vụ án. Mặc dù vậy, Toà án nhân dân khu vực 11 – Hải Phòng cần rút kinh nghiệm để tránh những sai sót tương tự.

[5] Tại phiên toà, phía nguyên đơn đề nghị Toà án trưng cầu giám định chữ ký và chữ viết của ông Nguyễn Ngọc C trong hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh Nguyễn Tá T, yêu cầu các cơ quan liên quan cung cấp bản gốc hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh T và đo đạc lại toàn bộ hiện trạng diện tích đất mà gia đình cụ G, ông C bị lấn chiếm. Về các yêu cầu nêu trên của phía nguyên đơn, Hội đồng xét xử đánh giá như sau: Trong Biên bản xác định ranh giới, mốc giới thửa đất của anh Nguyễn Tá T không có chữ ký hoặc điểm chỉ của cụ Trịnh Thị G, chỉ có chữ ký và chữ viết “Nguyễn Ngọc C”. Ông C không thừa nhận chữ ký và chữ viết trong văn bản trên là chữ ký, chữ viết của mình. Quá trình giải quyết vụ án, Toà án cấp sơ thẩm đã tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ nhưng không thu thập được bản gốc của tài liệu để tiến hành giám định theo yêu cầu của ông C. Trong vụ án này, biên bản xác định ranh giới, mốc giới thửa đất của anh T không phải là tài liệu, chứng cứ mà không có thì không thể giải quyết được vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của phía nguyên đơn về việc trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết của ông C trong văn bản trên. Toà án cấp sơ thẩm cũng đã tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc hiện trạng các thửa đất đang có tranh chấp. Vì vậy, yêu cầu của ông C về việc đề nghị Toà án đo đạc lại toàn bộ hiện trạng theo hệ toạ độ VN-2000 hoặc hệ toạ độ chuẩn địa chính hiện hành là không có căn cứ nên không được chấp nhận.

[6] Xét kháng cáo của cụ Trịnh Thị G và ông Nguyễn Ngọc C: Theo Sổ mục kê và Tờ bản đồ 299, thửa đất của cụ Nguyễn Ngọc C3 là thửa số 75, diện tích 402m² (trong bản đồ ghi thiếu nét thành 102m²); thửa đất của cụ Nguyễn Ngọc C4 là thửa số 76, diện tích 420m². Theo Sổ mục kê và Tờ bản đồ năm 1992, thửa đất của cụ C3 là thửa số 63, diện tích 678m²; thửa đất của cụ C4 là thửa số 64, diện tích 438m². Sau đó, trên cơ sở đề nghị của gia đình cụ C3, thửa số 63 được tách thành hai thửa là thửa số 63 và thửa số 63A. Năm 1993, các thửa đất trên đều được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cụ thể: Thửa số 63, diện tích 341m², đứng tên chủ sử dụng là ông Nguyễn Ngọc C; thửa đất số 63A, diện tích 337m², đứng tên chủ sử dụng là cụ Nguyễn Ngọc C3; thửa đất số 64, diện tích 438m², đứng tên chủ sử dụng là cụ Nguyễn Ngọc Củng .

[7] Theo Sổ mục kê và Tờ bản đồ 2009, thửa đất của cụ C3 và cụ G là thửa số 103, diện tích 344m²; thửa đất của ông C và bà Trần Thị L1 (vợ của ông C) là thửa số 104, diện tích 298m²; thửa đất của cụ C4 và cụ Nguyễn Thị T1 (vợ của cụ C4) là thửa số 102, diện tích 445m². Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân huyện T (cũ) cấp năm 2014, anh Nguyễn Tá T đứng tên chủ sử dụng diện tích 445m² đất tại thửa số 102 (do được cụ C4 và cụ T1 tặng cho). Theo

kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ của Toà án, thửa đất của cụ G và ông C có tổng diện tích là 672,1m²; thửa đất của anh Nguyễn Tá T có diện tích là 387,4m²; phần đất các bên đang tranh chấp có diện tích là 51,1m² (theo chỉ dẫn của nguyên đơn thì phần đất tranh chấp giữa cụ G và anh T có diện tích 38,1m², phần đất tranh chấp giữa ông C và anh T có diện tích 13m²).

[8] Căn cứ vào các tài liệu trên có thể thấy: Diện tích đất của cụ C3 và cụ C4 có sự thay đổi qua các thời kỳ. Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ của Toà án thể hiện, hiện tại thửa đất của gia đình cụ C3 (bao gồm cả thửa đất mà cụ G đang quản lý, sử dụng và thửa đất mà ông C đang quản lý, sử dụng) có tổng diện tích là 672,1m² - giảm 5,9m² so với tổng diện tích đất ghi trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tăng 36m² so với tổng diện tích đất được ghi trong Sổ mục kê năm 2009. Hiện tại thửa đất mà anh T đang sử dụng (bao gồm cả phần diện tích đất đang tranh chấp) có tổng diện tích 438,5m² (trong đó phần đất đang tranh chấp là 51,1m²) - giảm 6,5m² so với diện tích đất ghi trong Sổ mục kê năm 2009 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho anh T. Như vậy, so sánh với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì diện tích đất hiện tại của cụ G, ông C và anh T đều bị giảm; nếu không tính phần diện tích đất đang tranh chấp thì thửa đất của anh T chỉ còn 387,4m² - giảm 57,6m² so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho anh T vào năm 2014 (445m² - 387,4m²) và giảm 50,6m² so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho cụ C4 vào năm 1993 (438m² - 387,4m²).

[9] Cụ G và ông C khởi kiện yêu cầu anh T phải tháo dỡ toàn bộ công trình xây dựng, trả lại cụ G và ông C diện tích 51,1m² đất nêu trên với căn cứ khởi kiện là mốc giới đã được xác định trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của cụ G và ông C; ngoài ra, ông C cho rằng ranh giới giữa phần đất của gia đình cụ C3 và cụ C4 chưa được phân định cụ thể, bức tường bao phía cuối thửa đất là do anh T xây nhờ để chăn nuôi, còn đoạn tường bao phía ngoài xóm là do ông Nguyễn Tá S2 - bố của anh T tự xây. Về ý kiến nêu trên của phía nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy: So sánh giữa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hiện trạng sử dụng đất tại thời điểm Toà án xem xét, thẩm định tại chỗ thì các mốc giới thửa đất của cụ C3 (cụ G), của ông C và của anh T đều có sự thay đổi; việc chênh lệch về kích thước không chỉ ở cạnh giáp ranh giữa thửa đất của cụ G và anh T cũng như cạnh giáp ranh giữa thửa đất của ông C và anh T mà kích thước các cạnh khác của thửa đất đều có sự chênh lệch. Về hình thể, hiện tại thửa đất của anh T có hình thể phù hợp với hình thể thửa đất được thể hiện trên Tờ bản đồ lập năm 2009 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho anh T vào năm 2014; hình thể thửa đất của cụ G và ông C không giống với hình thể thửa đất được thể hiện trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp năm 1993 và Tờ bản đồ lập năm 1992. Do đó, không thể căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên để xác định anh T xây dựng công trình lấn sang phần đất của cụ G và ông C.

[10] Giữa phần đất của cụ G, ông C và phần đất của anh T tồn tại hai đoạn tường bao, một đoạn phía ngoài đường xóm có chiều dài 14,18m (trên sơ đồ là từ điểm A1 đến điểm A14), một đoạn nằm phía cuối thửa đất có chiều dài 4,18m (trên sơ đồ thể hiện là từ điểm A8 đến A15). Tuy ông C cho rằng đoạn tường phía ngoài xóm là do ông Nguyễn Tá S2 - bố của anh T xây, còn đoạn tường phía cuối thửa đất là do gia đình cụ G cho anh T xây nhờ để chăn nuôi nhưng ông S2 và anh T đều không thừa nhận lời khai trên của ông C, ông C cũng không xuất trình được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho lời khai trên của mình. Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đều thừa nhận trước đây giữa thửa đất của cụ C3 và thửa đất của cụ C4 không có các đoạn tường bao, ranh giới chỉ được phân định là hàng rào giậu thuần và bếp rạ của gia đình cụ C3; tại thời điểm đó hai nhà đều xây dựng phần sân riêng. Con trai của cụ G là ông Nguyễn Ngọc C2 có lời khai trình bày, trước đây khi cụ C3 còn sống, cụ C3 và cụ C4 đã cùng xây dựng đoạn tường bao phía đường xóm (từ điểm A1 đến điểm A14) và đoạn giữa sân của hai gia đình có xây tường bờ gô, mặc dù hàng gạch này đã bị ông C phá dỡ nhưng chân tường cũ vẫn còn; quá trình sử dụng đất giữa cụ C3 và cụ C4 chưa bao giờ phát sinh tranh chấp về quyền sử dụng đất; lời khai của ông C2 về đoạn tường bờ gô cũng phù hợp với kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ của Toà án. Mặt khác, năm 2008, khi địa phương tổ chức đo đạc lại toàn bộ các thửa đất để lập tờ bản đồ mới (Tờ bản đồ năm 2009), cụ C3 còn sống nhưng không có ý kiến gì về kết quả đo đạc của địa phương.

[11] Từ những phân tích trên, có đủ cơ sở khẳng định mốc giới giữa thửa đất của cụ C3 (nay do cụ G và ông C quản lý, sử dụng) và thửa đất của cụ C4 (nay do anh T quản lý, sử dụng) đã tồn tại nhiều năm; khi cụ C3 còn sống, giữa cụ C3 và cụ C4 cũng không phát sinh tranh chấp. Kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ thể hiện diện tích đất của cụ G và ông C cũng như diện tích đất của anh T đều bị giảm so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Theo kết quả xác minh tại Ủy ban nhân dân xã B (cũ) thì trước đây việc đo đạc, lập bản đồ qua các thời kỳ bằng phương pháp thủ công, chưa chính xác. Việc cụ G và ông C chỉ căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để cho rằng anh T đã xây dựng lấn chiếm sang phần đất của mình là không có cơ sở. Vì vậy, Toà án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của cụ G và ông C về việc buộc anh T phải tháo dỡ công trình xây dựng để trả lại phần đất có tổng diện tích 51,1m² là có căn cứ. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của cụ Trịnh Thị G, ông Nguyễn Ngọc C và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[12] Về án phí: Yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo của cụ G và ông C không được chấp nhận. Tuy nhiên, cụ G là người cao tuổi và có đơn đề nghị miễn án phí nên Hội đồng xét xử miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm và dân sự phúc thẩm cho cụ G. Ông C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 147, Điều 148, khoản 2 Điều 296 và khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Các điều 175 và 176 của Bộ luật Dân sự;

Các điều 166, 170 và 203 của Luật Đất đai năm 2013

Điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 3 Điều 26 và khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,

Xử: Không chấp nhận kháng cáo của cụ Trịnh Thị G và ông Nguyễn Ngọc C; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 09/2025/DS-ST ngày 25 tháng 8 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 11 - Hải Phòng:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của cụ Trịnh Thị G về việc buộc anh Nguyễn Tá T phải tháo dỡ công trình xây dựng để trả lại cụ Trịnh Thị G và những người thừa kế của cụ Nguyễn Ngọc C3 diện tích 38,1m² đất (theo các mốc B2-A15-A8-A7-B1-B2).
  2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Ngọc C về việc buộc anh Nguyễn Tá T phải tháo dỡ công trình xây dựng để trả lại ông Nguyễn Ngọc C diện tích 13m² đất (theo các mốc A1-A14-B2-B1-A1).

(có sơ đồ kèm theo).

  1. Về án phí:
    • - Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm và án phí dân sự phúc thẩm cho cụ Trịnh Thị G.
    • - Ông Nguyễn Ngọc C phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm. Ông Nguyễn Ngọc C đã nộp 1.200.000 đồng - tiền tạm ứng án phí sơ thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0005704 ngày 11 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực A - Hải Phòng) và 300.000 đồng - tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo B lại thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0001910 ngày 08 tháng 9 năm 2025 của Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Trả lại ông Nguyễn Ngọc C 900.000 đồng (chín trăm nghìn đồng) - tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp.
  1. Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Ngọc C tự nguyện chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và chi phí định giá tài sản với tổng số tiền là 4.900.000 đồng và ông C đã nộp đủ số tiền này.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - THADS thành phố Hải Phòng;
  • - Phòng THADS khu vực 11;
  • - TAND khu vực 11;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Thị Bích Diệp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 164/2025/DS-PT ngày 16/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 164/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trịnh Thị G và Nguyễn Tá T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger