Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1602/2025/DSPT

Ngày: 16/12/2025

V/v: Tranh chấp đòi tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Xuân Hưng
Các thẩm phán: Ông Phạm Trung Dũng
Bà Bùi Thị Thương

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Vũ Vân Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minhh tham gia phiên tòa: Ông Thái Quốc Bảo – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án dân sự thụ lý số 1057/2025/TLPT-DS ngày 14 tháng 10 năm 2025 về việc “Tranh chấp đòi tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 05/2025/DSST ngày 10-7-2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11 Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 6628/QĐ-PT ngày 11-11-202, Quyết định hoãn phiên tòa số 21367A/2015/QĐ-PT ngày 27/11/2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1984. Địa chỉ: Thôn V, xã P, Thành phố Hà Nội (vắng mặt).
  • Người đại diện hợp pháp: Công ty L. Địa chỉ: Thôn Y, xã H, Thành phố Hà Nội
  • Người đại diện theo pháp luật: Bà Đinh Thị H, sinh năm 1985. Địa chỉ: Số G N, phường Y, Thành phố Hà Nội (vắng mặt).
  • Ủy quyền tham gia tố tụng cho bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1985. Địa chỉ: Số G đường N, phường Y, Thành phố Hà Nội (có mặt).
  • - Bị đơn: Công ty TNHH L1. Địa chỉ: Số E đường C, phường R, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị N, chức vụ: Giám đốc (có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Luật sư Đỗ Thị Minh T, Công ty L2 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt).

Người kháng cáo: Công ty TNHH L1.

NHẬN THẤY

Theo đơn khởi kiện ngày 31/10/2024, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 27/12/2021, bà Nguyễn Thị Q và Công ty TNHH L1 (gọi tắt là Công ty) đã ký Hợp Đồng đặt cọc số D14/HDDC/PD-DA1 (mã sản phẩm: LK-D-14) và Hợp Đồng đặt cọc số D39/HDDC/PD-DA1 (mã sản phẩm: LK-B-39). Theo nội dung các Hợp đồng đặt cọc, Công ty TNHH L1 sẽ chuyển nhượng cho bà Q một phần quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 562, tờ bản đồ số 22, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. Sau khi ký hai Hợp Đồng đặt cọc trên, bà Q đã thanh toán cho Công ty TNHH L1 tổng số tiền là 1.877.717.325đ (một tỷ, tám trăm bảy mươi bảy triệu, bảy trăm mười bảy nghìn, ba trăm hai lăm đồng), cụ thể đã thanh toán cho quyền sử dụng thửa đất có mã sản phẩm LK-D-14 số tiền: 779.542.500đ (bảy trăm bảy mươi chín triệu, năm trăm bốn mươi hai nghìn, năm trăm đồng) và đã thanh toán cho quyền sử dụng thửa đất có mã sản phẩm LK-B-39 số tiền: 1.098.174.825đ (một tỷ, không trăm chín mươi tám triệu, một trăm bảy mươi tư nghìn, tám trăm hai lăm đồng).

Trước khi ký Hợp đồng đặt cọc, Công ty TNHH L1 cam kết với bà Q, tiến độ thực hiện dự án sẽ theo tiến độ được ghi nhận tại Quyết định số 5429/QĐ-UBND ngày 02/11/2021 của UBND huyện Đ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu về việc phê duyệt Đồ án quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 Khu dân cư G, xã L, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Cụ thể như sau: Tiến độ thực hiện: 24 tháng

  • + Quý IV/2021: Phê duyệt đồ án quy hoạch chi tiết và Lập dự án đầu tư và Thiết kế bản vẽ thi công.
  • + Quý I- Quý III/2023: Khởi công xây dựng Dự án;
  • + Quý III/2023 – Quý IV/2023: Hoàn thiện công trình và đưa vào sử dụng.

Quá trình triển khai thực hiện Hợp đồng đặt cọc đã ký, bà Q nhận thấy việc triển khai thực hiện Dự án của Công ty TNHH L1 gần như đứng yên, không thấy triển khai thực hiện gì. Tiến độ thực hiện dự án như đã cam kết với bà Q không thể thực hiện được. Do vậy, ngày 07/7/2024, bà Q đã gửi văn bản cho Công ty TNHH L1 đề nghị thanh lý 02 Hợp đồng đặt cọc đã ký.

Ngày 28/7/2023, bà Q nhận được Công văn phản hồi số 026/2023/CV-LGA của Công ty TNHH L1 (qua email). Theo nội dung Công văn này, Công ty TNHH L1 đưa ra các phương án giải quyết đề nghị thanh lý Hợp đồng với chị Q, trong đó, có phương án 4 với nội dung: “Nếu quý khách hàng có mong muốn thanh lý Hợp đồng đặt cọc, chúng tôi cam kết sẽ hoàn trả 100% số tiền đặt cọc mà quý khách hàng đã thanh toán. Chúng tôi sẽ cân đối nguồn tài chính và sẽ đưa ra lộ trình thanh toán đến quý khách hàng trong vòng 45 ngày kể từ khi nhận được xác nhận của quý khách hàng”.

Ngày 31/7/2023, bà Q đã phản hồi Công văn số 026/2023/CV-LGA của Công ty TNHH L1 (qua email) với nội dung như sau: “Tôi đã nhận được thông tin và các phương án quý Công ty đưa ra. Các phương án quý công ty đưa ra có 4 phương án đề xuất tôi lựa chọn. Tôi xin lựa chọn phương án 4. Đó là sẽ nhận lại 100% số tiền đặt cọc cho hai nền đất của quý công ty sau 45 ngày kể từ ngày tôi trả lời đó là ngày 01/8/2023. Vậy mong quý công ty giải quyết cho tôi theo phương án tôi đã đưa ra bên trên”. Tuy nhiên, cho đến nay, bà Q chưa nhận được bất kỳ khoản tiền thanh toán nào của Công ty TNHH L1.

Về nghĩa vụ thanh toán nợ gốc: Như đã trao đổi qua email và văn bản giữa bà Q và Công ty L1. Công ty L1 đồng ý chấm dứt Hợp đồng đặt cọc với bà Q và trả lại bà Q toàn bộ số tiền đã nhận. Theo đó, Công ty L1 có trách nhiệm thanh toán số tiền gốc chị Q đã nộp theo hai Hợp đồng đặt cọc nói trên.

Về nghĩa vụ thanh toán tiền lãi phát sinh: Ngoài khoản nợ gốc trên, Công ty L1 còn phải thanh toán lãi do chậm thanh toán theo quy định của pháp luật, cụ thể: Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền là 10%/năm. Thời hạn thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc của Công ty L1 là từ ngày 01/8/2023 đến hết ngày 15/9/2023. Do Công ty L1 không thanh toán nợ gốc trong khoảng thời gian nêu trên nên phải trả cho bà Q tiền lãi do chậm thanh toán kể từ ngày 16/9/2023 đến ngày 10/7/2025 trên số nợ gốc 1.877.717.325đ (một tỷ tám trăm bảy mươi bảy triệu bảy trăm mười bảy nghìn, ba trăm hai lăm đồng) là:

  • + Từ ngày 16/9/2023 tính đến ngày 10/7/2025 là 663 ngày.
  • + Số lãi từ ngày 16/9/2023 tính đến ngày 10/7/2025 là: 663 ngày x 1.877.717.325đ x 10%/365 = 341.075.777đ (ba trăm bốn mươi mốt triệu không trăm bảy mươi lăm nghìn bảy trăm bảy mươi bảy đồng).

Tổng số nợ cả gốc và lãi tính đến ngày 10/7/2025 là 1.877.717.325đ + 341.075.777đ = 2.218.793.102đ (hai tỷ, hai trăm mười tám triệu bảy trăm chín mươi ba nghìn một trăm lẻ hai đồng). Do bà Q đã liên hệ, làm việc và yêu cầu Công ty TNHH L1 thanh toán rất nhiều lần nhưng không có kết quả. Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, bà Q yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Công ty TNHH L1 phải thanh toán cho chị Q tổng số nợ cả gốc và lãi tính đến ngày 10/7/2025 là 2.218.793.102đ (hai tỷ, hai trăm mười tám triệu bảy trăm chín mươi ba nghìn một trăm lẻ hai đồng).

Quá trình tố tụng và tại phiên tòa người đại diện theo quy định của pháp luật của bị đơn trình bày:

Công ty L1 xác định có ký 02 Hợp đồng đặt cọc và phụ lục hợp đồng với bà Nguyễn Thị Q và đã nhận số tiền trên của bà Q như lời trình bày của nguyên đơn, nhưng đến nay hai bên chưa ký Biên bản thanh lý Hợp đồng. Công ty L1 đồng ý trả toàn bộ số tiền gốc, về tiền lãi thì Công ty không đồng ý thanh toán.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 05/2025/DSST ngày 10-7-2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11 Thành phố Hồ Chí Minh đã áp dụng: Căn cứ Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Q, buộc Công ty TNHH L1 hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Quỳnh 2 (hai tỷ, hai trăm mười tám triệu bảy trăm chín mươi ba nghìn một trăm lẻ hai đồng), trong đó tiền gốc là 1.877.717.325đ (một tỷ tám trăm bảy mươi bảy triệu bảy trăm mười bảy nghìn ba trăm hai mươi lăm đồng) và tiền lãi tính đến ngày 10/7/2025 là 341.075.777đ (ba trăm bốn mươi mốt triệu không trăm bảy mươi lăm nghìn bảy trăm bảy mươi bảy đồng) và tiền lãi tiếp theo kể từ ngày 11/7/2025 đến khi Công ty TNHH L1 hoàn trả hết toàn bộ số tiền trên cho bà Nguyễn Thị Quỳnh .

Về án phí dân sự sơ thẩm: Công ty TNHH L1 phải chịu 76.375.862 (bảy mươi sáu triệu ba trăm bảy mươi lăm nghìn tám trăm sáu mươi hai đồng). Bà Nguyễn Thị Q được nhận lại 37.000.000đ (ba mươi bảy triệu đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0004699 ngày 04/12/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (nay là Phòng thi hành án dân sự Khu vực 11, Thành phố Hồ Chí Minh).

Ngoài ra bản án còn tuyên về quyền kháng cáo và nghĩa vụ thi hành án.

Ngày 30/7/2025, bị đơn Công ty TNHH L1 có đơn kháng cáo Bản án sơ thẩm. Đề nghị cấp phúc thẩm tuyên hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm số 05/2025/DSST ngày 10-7-2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11 Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Người kháng cáo Công ty TNHH L1 thay đổi nội dung kháng cáo, đồng ý thanh toán số tiền nợ gốc là 1.877.717.325đ (một tỷ tám trăm bảy mươi bảy triệu bảy trăm mười bảy nghìn ba trăm hai mươi lăm đồng) với thời gian thanh toán trong vòng 12 tháng. Riêng về số tiền lãi thì Công ty không đồng ý thanh toán.

Đại diện người khởi kiện giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Đơn kháng cáo của bị đơn nộp trong thời hạn luật định. Quá trình thụ lý vụ án giải quyết vụ án, người tiến hành tố tụng đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Người tham gia tố tụng thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ tố tụng của đương sự theo quy định.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: Điều 278, 280, 357 Bộ luật Dân sự; khoản 1 Điều 308 BLTTDS năm 2015 không chấp nhận kháng cáo của bị đơn giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 05/2025/DS-ST ngày 10-7-2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 11, Thành phố Hồ Chí Minh, buộc bị đơn phải nộp án phí phúc thẩm theo luật định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1.] Về thủ tục tố tụng:

Đơn kháng cáo của Công ty TNHH L1 đảm bảo đúng thủ tục, nội dung và nộp trong thời hạn theo quy định tại các Điều 272, 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự nên hợp lệ; Tại phiên tòa, người đại diện theo quy định của pháp luật của Công ty thay đổi nội dung kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng Công ty đồng ý thanh toán số tiền nợ gốc là 1.877.717.325 đồng còn về số tiền lãi thì Công ty không đồng ý thanh toán, xét thấy yêu cầu thay đổi nội dung kháng cáo không vượt quá phạm vi kháng cáo ban đầu theo quy định Điều 298 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận xem xét lại bản án sơ thẩm theo trình tự phúc thẩm.

Tòa án cấp sơ thẩm xác định thẩm quyền giải quyết vụ án, quan hệ tranh chấp, các đương sự trong vụ án là đúng quy định pháp luật.

[2] Xét kháng cáo của các bị đơn Công ty TNHH L1 và căn cứ tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:

[2.1] Về nội dung tranh chấp:

Nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận: Vào ngày 27/12/2021, Công ty TNHH L1 và bà Nguyễn Thị Q có ký kết 02 Hợp đồng đặt cọc và 02 Phụ lục đính kèm hợp đồng nhằm đảm bảo cho việc ký kết Hợp đồng chuyển nhượng một phần quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 562, tờ bản đồ số 22, mã sản phẩm bất động sản LK-C-07, dự án khu dân cư G, tọa lạc tại huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 17-5-2019. Theo Giấy xác nhận thanh toán của Công ty TNHH L1, ngày 27/12/2021 bà Q đã thanh toán đợt 1 số tiền đặt cọc là 599.004.450 đồng cho mã sản phẩm LK-B-39 theo Hợp đồng đặt cọc số B39/HDDC/PD-DA1 và 375.205.000 đồng cho mã sản phẩm LK-D-14 theo Hợp đồng đặt cọc số D14/HDDC/PD-DA1. Sau đó, ngày 01/3/2022 bà Q chuyển tiền vào tài khoản số 08001010067087 của Công ty TNHH L1 tại Ngân hàng M2 Chi nhánh B mà Công ty L1 đã cung cấp trong Hợp đồng đặt cọc với số tiền 499.170.375 đồng cho mã sản phẩm LK-B-39 và 354.337.500 đồng cho mã sản phẩm LK-D-14.

Như vậy, tổng số tiền bà Q đã đặt cọc là 1.877.717.325 đồng và có đủ cơ sở khẳng định Công ty TNHH L1 đã nhận 1.877.717.325 đồng tiền đặt cọc của bà Q. Tuy nhiên hết thời hạn trả tiền theo sự thống nhất của các bên nhưng Công ty TNHH L1 vẫn chưa thanh toán cho bà Q, nên bà Q đã làm đơn khởi kiện tại Tòa án yêu cầu thanh toán số tiền gốc và lãi phát sinh.

[2.2] Xét thấy:

Qua tài liệu chứng cứ nguyên đơn và bị đơn nộp thể hiện: Ngày 02/11/2021, UBND huyện Đ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (cũ) đã có Quyết định số 5429/QĐ về việc phê duyệt Đồ án quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 khu dân cư G, tiến độ thực hiện dự án là 24 tháng. Đến ngày 25/3/2024 UBND tỉnh B mới ký Quyết định số 766/QĐ-UBND về việc “Chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời chấp thuận nhà đầu tư” là Công ty TNHH L1. Quá trình thực hiện Công ty L1 không triển khai dự án như tiến độ đã cam kết trong hợp đồng đặt cọc, tiến độ triển khai để thực hiện dự án gần như đứng yên, nên ngày 07/07/2023, bà Q gửi M1 cho Công ty đề nghị thanh lý hợp đồng và hoàn trả số tiền đặt cọc.

Tại Công văn số 026/2023/CV-LGA ngày 28/7/2023 của Công ty TNHH L1 và sự trao đổi qua lại qua Email của bà Q thể hiện: “Nếu quý khách hàng có mong muốn thanh lý Hợp đồng đặt cọc, chúng tôi cam kết sẽ hoàn trả 100% số tiền đặt cọc mà quý khách hàng đã thanh toán. Chúng tôi sẽ cân đối nguồn tài chính và sẽ đưa ra lộ trình thanh toán đến quý khách hàng trong vòng 45 ngày kể từ khi nhận được xác nhận của quý khách hàng”.

Ngày 31/7/2023, bà Q đã phản hồi Công văn số 026/2023/CV-LGA của Công ty TNHH L1 (qua Email) với nội dung như sau: “Tôi đã nhận được thông tin và các phương án quý Công ty đưa ra. Các phương án quý công ty đưa ra có 4 phương án đề xuất tôi lựa chọn. Tôi xin lựa chọn phương án 4. Đó là sẽ nhận lại 100% số tiền đặt cọc cho hai nền đất của quý công ty sau 45 ngày kể từ ngày tôi trả lời đó là ngày 01/8/2023.".

Tại Biên bản làm việc số 01/2023/BBLV ngày 25/11/2023 giữa bà Q và Công ty TNHH L1 thì Công ty cam kết dự kiến thời gian hoàn thành bộ thủ tục pháp lý để ra được Giấy CNQSDĐ cho khác hàng vào khoảng thời gian hết quý I/2024, còn bà Q có ý kiến: Đến hết quý I/2024, tiến độ thực hiện dự án vẫn còn chậm trễ, đề nghị thanh lý hợp đồng đặt cọc đã ký, hoàn trả lại toàn bộ một lần số tiền đã đặt cọc và toàn bộ tiền lãi từ thời điểm nộp tiền cho bà Q.

Tuy nhiên đến hết quý I/2024, Công ty TNHH L1 cũng không thực hiện được các nội dung cam kết tại các hợp đồng đặt cọc và Biên bản làm việc nên bà Q khởi kiện yêu cầu bị đơn phải trả lại cho bà Q 1.877.717.325đ (một tỷ tám trăm bảy mươi bảy triệu bảy trăm mười bảy nghỉn, ba trăm hai lăm đồng) là có căn cứ và đúng theo quy định của pháp luật.

Đối với việc bà Nguyễn Thị Q khởi kiện yêu cầu Công ty TNHH L1 phải trả cho bà Q khoản tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền đặt cọc tính từ ngày đến hạn phải thanh toán cho đến khi hoàn trả hết số tiền trên với lãi suất 10%/01 năm thì thấy:

Tại Công văn số 026/2023/CV-LGA ngày 28/7/2023 của Công ty TNHH L1 và văn bản phản hồi Công văn của bà Q vào ngày 31/7/2023, các bên chỉ thỏa thuận việc trả lại tiền đặt cọc, không thỏa thuận về việc trả tiền lãi suất. Nay nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tiền lãi suất nhưng không cung cấp được chứng cứ về việc hai bên có thỏa thuận lãi suất nên được coi là có thỏa thuận về tiền lãi nhưng không xác định được mức lãi suất. Căn cứ Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự, lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ là 10%/năm nên yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn phải thanh toán mức lãi suất 10%/năm là phù hợp.

Về thời gian tính lãi: Tại Công văn số 026/2023/CV-LGA ngày 28/7/2023 của Công ty TNHH L1 và văn bản phản hồi Công văn trên của bà Q vào ngày 31/7/2023 sẽ đưa ra lộ trình thanh toán trong vòng 45 ngày kể từ khi nhận được xác nhận của khách hàng là ngày 31/7/2023, nhưng đến ngày 15/9/2023 Công ty L1 vẫn không hoàn trả số tiền đặt cọc trên cho bà Q nên có căn cứ để xác định Công ty TNHH L1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, không thực hiện đúng các điều khoản mà các bên đã thỏa thuận trong Công văn số 026/2023/CV-LGA ngày 28/7/2023 nên Công ty L1 phải chịu lãi suất chậm thanh toán trên số tiền chưa thanh toán. Vì vậy, bà Q yêu cầu tính lãi đối với số tiền bà đã đặt cọc là 1.877.717.325 đồng từ ngày 16/9/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm (10/7/2025) là 663 ngày. Yêu cầu tính lãi của bà Q có căn cứ theo quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự nên cấp sơ thẩm chấp nhận là phù hợp, vì vậy cần buộc Công ty TNHH L1 phải thanh toàn số tiền chậm thanh toán là 1.877.717.325đ x 10%/năm x 663 ngày = 341.075.777 đồng.

[3] Từ những phân tích trên, có cơ sở xác định Bản án sơ thẩm đã quyết định chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Q là có căn cứ, đúng pháp luật. Tại cấp phúc thẩm người kháng cáo không cung cấp, bổ sung tài liệu, chứng cứ gì mới. Các nội dung nêu trong đơn kháng cáo và tại phiên tòa đã được cấp sơ thẩm xem xét đánh giá. Do vậy, Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty TNHH L1.

Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị bác đơn kháng cáo của bị đơn là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí có giá ngạch đối với nghĩa vụ trả tiền theo quy định của pháp luật.

[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên Công ty TNHH L1 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Công ty TNHH L1, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 05/2025/DSST ngày 10-7-2025 của Tòa án nhân dân khu vực 11 Thành phố Hồ Chí Minh.

Căn cứ vào các Điều 351, 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227; Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 26, khoản 1 Điều 29 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Q đối với Công ty TNHH L1 về việc “Tranh chấp đòi tài sản”.

- Buộc Công ty TNHH L1 hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Quỳnh 2 (hai tỷ, hai trăm mười tám triệu bảy trăm chín mươi ba nghìn một trăm lẻ hai đồng), trong đó tiền gốc là 1.877.717.325đ (Một tỷ, tám trăm bảy mươi bảy triệu, bảy trăm mười bảy nghìn ba trăm hai mươi lăm đồng) và tiền lãi tính đến ngày 10/7/2025 là 341.075.777₫ (Ba trăm bốn mươi mốt triệu, không trăm bảy mươi lăm ngàn, bảy trăm bảy mươi bảy đồng) và tiền lãi tiếp theo kể từ ngày 11/7/2025 đến khi Công ty TNHH L1 hoàn trả hết toàn bộ số tiền trên cho bà Nguyễn Thị Quỳnh .

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án; nếu người phải thi hành án không thi hành số tiền nói trên thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả cho người được thi hành án khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Công ty TNHH L1 phải chịu 76.375.862 (Bảy mươi sáu triệu, ba trăm bảy mươi lăm ngàn, tám trăm sáu mươi hai đồng).

Bà Nguyễn Thị Q được nhận lại 37.000.000đ (Ba mươi bảy triệu đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0004699 ngày 04/12/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (nay là Phòng thi hành án dân sự Khu vực 11, Thành phố Hồ Chí Minh).

3. Về án phí dân sự phúc thẩm:

Công ty TNHH L1 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí, lệ phí đã nộp 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0009296 ngày 14/8/2025 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh; như vậy Công ty TNHH L1 đã nộp xong án phí phúc thẩm.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (16/12/2025).

Nơi nhận:

  • - VKSND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - TAND Khu vực 11, TP.HCM;
  • - Phòng THADS Khu vực 11, TP.HCM;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án (35).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA



Đã ký

Phạm Xuân Hưng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1602/2025/DSPT ngày 16/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp đòi tài sản

  • Số bản án: 1602/2025/DSPT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/12/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Q tranh chấp với công ty L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger