TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 1567/2025/DS-PT
Ngày 10-12-2025
“V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thương
Các Thẩm phán: Ông Trương Văn Tâm
Ông Hoàng Trí Thức
- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Thị Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Thái Quốc Bảo - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong các ngày 24 tháng 9 năm 2024, ngày 05 và 10 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh – Cơ sở A, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 153/2024/TLPT-DS ngày 24/7/2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 30/2024/DS-ST ngày 04/6/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 12, Thành phố Hồ Chí Minh) bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 216/2024/QĐ-PT ngày 05/8/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 245/2024/QĐ-PT ngày 26/8/2024, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 100/2024/QĐPT-DS ngày 24/9/2024, Thông báo về việc mở lại phiên tòa số 46/2025/TB – TA ngày 06/3/2025, Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 53/2025/QĐ- PT ngày 25/3/2025, Thông báo mở lại phiên tòa số 10786/2025/TB-TA ngày 15/7/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 12496/2025 /QĐ-PT ngày 31/7/2025, Thông báo mở lại phiên tòa số 18981/2025/TB-TA ngày 21/10/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 20882/2025/QĐ-PT ngày 21/11/2025, Quyết định thay đổi người tiến hành tố tụng số 159A/2024/QĐ- TA ngày 26/8/2024, Quyết định thay đổi người tiến hành tố tụng số 204A ngày 24/9/2024, Quyết định thay đổi người tiến hành tố tụng số 48/2025/QĐ- TA ngày 25/3/2025, Quyết định thay đổi người tiến hành tố tụng giải quyết vụ án số 136/QĐ-TA ngày 30/6/2025, Quyết định thay đổi người tiến hành tố tụng số 153/2025/QĐ-PT ngày 30/7/2025, Quyết định thay đổi Thẩm phán tham gia hội đồng xét xử số 153/QĐ-TA ngày 19/11/2025, Quyết định thay đổi Thẩm phán tham gia Hội đồng xét xử số 153/QĐ- TA ngày 04/12/2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Bùi Văn Q, sinh năm 1947 (vắng mặt);
Địa chỉ: Tổ G khu phố H, phường P, thành phố P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh).
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Bùi Phi L, sinh năm 1976 (có mặt);
Địa chỉ: Khu phố H, phường P, thành phố P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Ông Bùi Công A, Luật sư thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (vắng mặt).
Bị đơn:
Ông Trần Văn L1 (đã chết)
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông L1:
Bà Trần Thị N, sinh năm 1956 (có mặt);
Địa chỉ: Khu phố H, phường P, thành phố P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh).
Bà Trần Thị Ngọc L2, sinh năm 1979 (có mặt);
Địa chỉ: 3 T, phường A, quận G (nay là phường G), Thành phố Hồ Chí Minh.
Bà Trần Thị Kim L3, sinh năm 1980 (vắng mặt);
Địa chỉ: Khu phố V, phường P, thành phố P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là phường P, Thành phố Hồ Chí Minh).
Người đại diện theo ủy quyền của bà Trần Thị Ngọc L2 và bà Trần Thị Kim L3: Bà Trần Thị N, sinh năm 1956 (có mặt);
Địa chỉ: Khu phố H, phường P, thành phố P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh).
Ông Trần Tuấn T, sinh năm 1982 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt);
Địa chỉ liên lạc: Trại tạm giam T11 - Bộ C3, xã N, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1958 (vắng mặt);
Địa chỉ: Tổ A, khu phố H, phường P, thành phố P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh).
Người đại diện theo ủy quyền của bà X: Ông Hồ Danh L4, sinh năm 1980 (có mặt);
Địa chỉ: Tổ A, khu phố H, phường P, thành phố P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Hoàng Thị L5, sinh năm 1952 (vắng mặt);
Địa chỉ: Tổ G khu phố H, phường P, thành phố P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh).
Người đại diện theo uỷ quyền của bà L5: Ông Bùi Phi L, sinh năm 1976 (có mặt);
Địa chỉ: Khu phố H, phường P, thành phố P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh).
Trường S2.
Địa chỉ: Đường số F, khu phố L, phường T, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lương Đình L6 – Hiệu Trưởng (vắng mặt);
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đậu Thanh L7, Trợ lý phòng Hậu cần – Kỹ thuật (có mặt) và ông Hà Văn N1, Trợ lý phòng Tham mưu - Hành chính (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Ủy ban nhân dân thành phố P, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng: Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường T, Thành phố Hồ Chí Minh - Ông Huỳnh Trung S (vắng mặt).
Địa chỉ: Số B, Quốc lộ E, khu phố T, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bà Hồ Thị Thu H, sinh năm 1963 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt);
Địa chỉ: Tổ A, khu phố H, phường P, thành phố P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh).
Ông Hồ Danh L4, sinh năm 1980 (có mặt);
Địa chỉ: Tổ A, khu phố H, phường P, thành phố P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh).
Bà Trần Thị N, sinh năm 1956 (có mặt);
Địa chỉ: Tổ G, khu phố H, phường P, thành phố P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh).
Người làm chứng:
Ông Vũ Minh T1, sinh năm 1971 (vắng mặt);
Địa chỉ: Tổ A khu phố H, phường P, thành phố P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh).
Ông Trần Đình H1, sinh năm 1952 (vắng mặt);
Địa chỉ: Tổ A khu phố H, phường P, thành phố P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh).
Ông Nguyễn Văn S1, sinh năm 1971 (vắng mặt);
Địa chỉ: Tổ H khu phố H, phường P, thành phố P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh).
- Người kháng cáo: Ông Trần Văn L1 và bà Nguyễn Thị X, là bị đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
[1] Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng, nguyên đơn ông Bùi Văn Q trình bày:
Năm 1972, gia đình ông Bùi Văn Q có khai phá khoảng 01 ha đất rẫy trồng lúa và hoa màu ngắn ngày. Năm 1988 Trường S2 mượn đất của ông Q để làm trường bắn, có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã P (thuộc Ủy ban nhân dân huyện C cũ), theo “Giấy tự báo” ngày 01/08/1988.
Năm 1989, qua quan sát, ông Q thấy ông Trần Văn L1 và ông Hồ Quang T2 (chồng của bị đơn bà Nguyễn Thị X) (ông T2 đã chết) sử dụng đất để trồng cây tràm, bạch đàn, nên ông Q làm đơn gửi Ủy ban nhân dân xã P để yêu cầu xem xét thì Ủy ban nhân dân xã P chỉ trả lời không bằng văn bản là khi nào quân đội trả đất sẽ trả lại cho ông Q.
Năm 2002, Trường S2 đào ranh hào thì đất của ông Q nằm ngoài ranh hào, cùng thời điểm đó ông T2 xác nhận đất của ông Q nằm ngoài phần đất của Trường S2 nên gia đình ông Q đã vào phần đất trên đóng cọc bê tông, rào kẽm gai thì bị ông L1 ngăn cản.
Ngày 17/11/2002, ông L1 có đơn đề nghị gửi đến Ủy ban nhân dân xã P, lãnh đạo ấp H, Hội nông dân xã P để yêu cầu giải quyết. Ủy ban nhân xã đã mời hòa giải nhưng việc hòa giải không thành do đất thuộc quyền quản lý của Trường S2.
Từ năm 2002 đến nay ông Q đã làm nhiều đơn gửi các cơ quan có thẩm quyền xin cấp quyền sử dụng đất cho gia đình ông Q, nhưng nội dung trả lời của các cơ quan có thẩm quyền đều giống nhau là chưa xác định được đất của quốc phòng hay của địa phương quản lý hoặc đất nằm trong ranh giới của đất quốc phòng, cụ thể bằng các văn bản sau:
Văn bản số 296/PC-PTD ngày 24/06/2002 của phòng tiếp dân Ủy ban nhân dân tỉnh B do ông Nguyễn Văn T3 - Trưởng phòng tiếp dân ký, nội dung hướng dẫn liên hệ với Trường S2 để xử lý.
Văn bản số 08/PC-PTD ngày 14/02/2006 của phòng tiếp dân Ủy ban nhân dân tỉnh B do ông Phó trưởng phòng Đinh Văn P ký, nội dung hướng dẫn chuyển đơn của ông Q đến Ủy ban nhân dân huyện T để xem xét giải quyết.
Văn bản số 370/UBND-VP ngày 22/02/2006 của Ủy ban nhân dân huyện T do Phó chủ tịch ông Dương Văn L8 ký, nội dung Ủy ban nhân dân huyện T giao cho Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường xem xét và đề xuất hướng xử lý cho Ủy ban nhân dân huyện T.
Văn bản số 720/UBND-TNMT ngày 04/05/2010 do Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T ông Lê Văn X1 ký, nội dung chờ kết quả làm việc của đoàn Thanh tra Ủy ban nhân dân tỉnh để có cơ sở giải quyết.
Văn bản số 817/UBND-TNMT ngày 05/07/2012 do Chủ tịch ông Lê Văn X1 ký, nội dung Ủy ban nhân dân huyện T đã có văn bản gửi Trường S2 để xác định ranh giới đất của Trường S2 để có cơ sở cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ dân.
Văn băn số 08/UBND-TNMT ngày 07/01/2015 do Chủ tịch ông Lê Văn X1 ký về việc trả lời đơn khiếu nại của ông Q, nội dung chờ kết quả của Ủy ban nhân dân tỉnh B về việc giải quyết đất đai liên quan đến Trường sĩ quan Lục quân 2.
Văn bản số 281/UBND-TNMT ngày 14/04/2016 do Chủ tịch ông Nguyễn Văn T4 ký về việc trả lời đơn của Q. Căn cứ văn bản của Ủy ban nhân dân tỉnh thì Ủy ban nhân dân huyện T trả lời là Trường S2 và Ủy ban nhân dân tỉnh tiếp tục giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất của hộ dân liên quan đến Trường Sĩ quan Lục quân 2.
Văn bản số 346/UBND-ĐC ngày 13/04/2017 của Ủy ban nhân dân xã P do Chủ tịch ông Trần Văn N2 ký, nội dung đất thuộc quyền quản lý của Trường S2.
Văn bản số 7873/UBND-VP ngày 11/08/2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh B do Phó Chánh văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh - ông Trần Hữu P1 ký, nội dung Ủy ban nhân dân tỉnh đề nghị Giám đốc Sở T12 thực hiện ý kiến chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh tại văn bản số 6402/UBND-VP ngày 13/07/2017 về việc giải quyết quyền sử dụng đất liên quan đến Trường Sĩ quan Lục quân 2.
Văn bản số 180/UBND-VP ngày 01/03/2018 của Ủy ban nhân dân huyện T do Chủ tịch ông Nguyễn Văn T4 ký về việc chỉ đạo Phòng T13 xác minh, nghiên cứu hồ sơ tham mưu, đề xuất Ủy ban nhân dân huyện X, giải quyết đơn của ông Q.
Văn bản số 3085/TSQ-VP ngày 28/08/2019 của Bộ Q1 – Trường S2 do Hiệu trưởng, Thiếu tướng ông Nguyễn Ngọc C ký gửi Ủy ban nhân dân thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu thì đất của ông Q không nằm trong ranh đất của quốc phòng theo Quyết định 129/CT ngày 20/04/1988 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về việc giao đất cho quốc phòng để xây dựng Trung tâm huấn luyện Trường S2.
Quyết định số 2798/QĐ-UBND ngày 22/10/2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh B do Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh ông Nguyễn Thanh T5 ký, nội dung về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Q như sau:
Theo văn bản số 3085/TSQ-VP của Bộ Q1 ngày 28/08/2019 thì diện tích đất của ông Q khiếu nại trên không nằm trong tổng diện tích 1.175m² theo Quyết định 129/CT ngày 20/04/1988 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về việc giao đất cho quốc phòng để xây dựng trung tâm huấn luyện trường S2. Theo bản đồ quy hoạch đất quốc phòng thì diện tích đất của ông Q khiếu nại trên nằm ngoài quy hoạch đất quốc phòng tại địa phương. Diện tích đất ông Q khiếu nại không nằm trong diện tích đất quốc phòng quản lý, nhưng hiện nay do ông L1 và bà X trực tiếp sử dụng.
Ủy ban nhân dân tỉnh giao cho Ủy ban nhân dân thị xã P có văn bản hướng dẫn ông Q nộp đơn tranh chấp quyền sử dụng đất đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật đất đai.
Tại văn bản số 1311/UBND-TNMT ngày 30/12/2020 do Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã P - ông Nguyễn Văn T4 ký về việc trả lời đơn của ông Q với nội dung: Khu đất mà ông Q có đơn xin giải quyết tranh chấp thuộc một phần thửa đất số 274, tờ bản đồ số 33 có diện tích 12.524,7m², nay tọa lạc tại khu phố H, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (sau đây gọi tắt là thửa 274). Theo “Giấy tự báo” ngày 01/08/1988 của ông Q đã được Ủy ban nhân dân xã P xác nhận trong đó có nội dung chủ đất ông Bùi Văn Q đã khai phá sản xuất từ năm 1972, tổng diện tích đang sản xuất là 01 ha, đã thực hiện đóng thuế từ năm 1973 đến năm 1983. Từ năm 1988 cho đến nay, gia đình ông L1 và gia đình bà X trực tiếp canh tác trồng cây tràm và bạch đàn trên đất. Như vậy, đây là vụ việc tranh chấp về quyền sử dụng đất giữa ông Q với ông L1, bà X đối với diện tích 12.524,7m² thuộc một phần thửa đất số 274. Hiện nay trên khu đất đang phát sinh tranh chấp tài sản là các cây tràm, bạch đàn do gia đình ông L1 và bà X trồng. Vì vậy căn cứ Khoản 1 Điều 203 Luật Đất đai năm 2013 quy định “tranh chấp đất đai mà đương sự có giấy chứng nhận hoặc có một trong các giấy tờ quy định tại Điều 100 của luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết”. Do đó việc giải quyết tranh chấp đất đai thuộc quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ.
Căn cứ vào sơ đồ vị trí mà Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thị xã P cung cấp ngày 31/12/2021, nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết những nội dung sau:
Yêu cầu công nhận diện tích 11.686,7 m² thuộc một phần thửa đất số 274 (số thửa mới là 1, 3), tờ bản đồ số 33 (số mới là 89), toạ lạc tại phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông Bùi Văn Q.
Yêu cầu ông Trần Văn L1 và bà Nguyễn Thị X trả lại diện tích 11.686,7 m² thuộc một phần thửa đất số 274 (số thửa mới là 1, 3), tờ bản đồ số 33 (số mới là 89), toạ lạc tại phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cho ông Bùi Văn Q.
Yêu cầu ông Trần Văn L1 và bà Nguyễn Thị X tháo dỡ toàn bộ công trình kiến trúc và cây trồng trên diện tích 11.686,7 m² thuộc một phần thửa đất số 274 (số thửa mới là 1,3), tờ bản đồ số 33 (số mới là 89), toạ lạc tại phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
[2] Quá trình tố tụng, bị đơn ông Trần Văn L1 trình bày:
Từ năm 1989, ông L1 thấy phần đất hiện ông Q đang tranh chấp bỏ hoang nên đã vào khai phá, cải tạo, canh tác trồng cây bạch đàn, đến năm 1992 ông L1 phá bỏ cây bạch đàn để trồng cây tràm cho đến nay. Từ năm 1989 đến năm 1992 ông L1 không nộp thuế sử dụng đất ở cơ quan có thẩm quyền nào. Từ năm 2002 ông L1 tiến hành kê khai sử dụng đất tại Ủy ban nhân dân xã P và được trả lời không bằng văn bản rằng phần đất này đang tranh chấp nên không làm thủ tục đăng ký kê khai cho ông L1. Từ năm 1989 đến nay ông L1 chưa mời cơ quan chuyên môn đo đạc phần đất ông L1 đang canh tác mà chỉ ước lượng khoảng 4.000m². Trên đất hiện nay chỉ trồng cây tràm, không có công trình kiến trúc hay hệ thống ngầm nào trên đất.
Nay trước yêu cầu khởi kiện của ông Q thì ông L1 không đồng ý. Ông L1 đề nghị Tòa án bác yêu cầu khởi kiện của ông Q vì ông L1 cho rằng phần đất mà ông Q đang tranh chấp hiện không có ranh giới cụ thể thì ông Q dựa vào cơ sở nào cho rằng là đất của ông Q khai phá.
Căn cứ vào sơ đồ vị trí mà Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thị xã P cung cấp ngày 31/12/2021, ông L1 có quan điểm đề nghị công nhận phần diện tích 4.404,4m² thuộc một phần thửa đất số 274 (số mới là thửa 1), tờ bản đồ số 33 (số mới là 89), toạ lạc tại phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông L1.
[3] Quá trình tố tụng, bị đơn bà Nguyễn Thị X trình bày:
Bà X và ông T2 là vợ chồng, ông T2 đã chết năm 2009. Hàng thừa kế thứ nhất của ông T2 hiện nay bao gồm: Bà Nguyễn Thị X và 02 người con là ông Hồ Danh L4 và bà Hồ Thị Thu H. Bố ông T2 là ông Hồ Danh T6 (chết năm 2023). Mẹ ông T2 là bà Hoàng Thị T7 (chết năm 2007).
Nguồn gốc phần đất mà ông Q đang tranh chấp với bà X như sau: Ông T2 thấy diện tích đất không có người canh tác nên cùng gia đình vào khai phá, cải tạo, canh tác trồng cây bạch đàn từ năm 1989, đến năm 1992 gia đình bà cũng như gia đình ông L1 phá bỏ cây bạch đàn và trồng cây tràm cho đến nay. Từ năm 1989 đến nay gia đình bà X không nộp thuế sử dụng đất ở cơ quan có thẩm quyền nào, bà X và gia đình chưa mời cơ quan chuyên môn đo đạc phần đất mà gia đình bà đang canh tác, chỉ ước lượng diện tích khoảng trên 7.000m². Trên đất hiện nay chỉ trồng cây tràm, không có công trình kiến trúc hay hệ thống ngầm nào.
Nay trước yêu cầu khởi kiện của ông Q thì bà X không đồng ý. Bà X đề nghị Tòa án bác yêu cầu khởi kiện của ông Q.
Căn cứ vào sơ đồ vị trí mà Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thị xã P cung cấp ngày 31/12/2021, bà X có quan điểm đề nghị công nhận phần diện tích 7.282,3 m² thuộc một phần thửa đất số 274 (số mới là thửa 3), tờ bản đồ số 33 (số mới là 89), phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà X.
[4] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
[4.1] Bà Hoàng Thị L5:
Bà L5 là vợ của ông Q, bà L5 thống nhất với ý kiến của ông Q mà không tranh chấp, yêu cầu gì.
[4.2] Bà Trần Thị N:
Bà N là vợ ông L5, bà N thống nhất với ý kiến của ông L5.
[4.3] Ông Hồ Danh L4:
Ông L4 là con ruột của bà X và ông T2. Về hàng thừa kế của ông T2 thì ông L4 thống nhất với lời khai của bà X.
Đối với phần diện tích thuộc một phần thửa đất số 274 mà ông Q đang tranh chấp thì phần đất này có nguồn gốc do bố mẹ ông L4 tự khai phá và canh tác từ năm 1989 đến nay, bản thân ông L4 không liên quan đến việc tạo lập và đầu tư vào khu đất này, do đó ông L4 thống nhất với quan điểm của bà X.
[4.4] Bà Hồ Thị Thu H:
Bà H là con ruột của bà X và ông T2. Về hàng thừa kế của ông T2 thì bà H thống nhất với lời khai của bà X. Bà H cũng thống nhất với quan điểm của bà X liên quan đến vụ án.
[4.5] Trường S2 trình bày:
Phần đất ông Q đang khởi kiện có diện tích khoảng 12.524,7 m² thuộc một phần thửa đất số 274, có ranh hướng Đông Bắc tiếp giáp với đất quốc phòng do Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng chính phủ) ký Quyết định số 129-CT ngày 30/4/1988 về việc giao đất cho Bộ Q1 để xây dựng trung tâm huấn luyện Trường S2. Trong danh sách thống kê ban đầu về các hồ sơ có liên quan không có tên ông Q canh tác trong khu vực đất quốc phòng và không có giấy tờ nào liên quan đến Trường Sĩ quan Lục quân 2 với ông Q. Phần đất nói trên hoàn toàn nằm ngoài đất quốc phòng do Trường S2 quản lý, do vậy Trường S2 đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
[4.6] Ủy ban nhân dân thị xã P (cũ) trình bày:
Khu đất mà ông Q yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất thuộc một phần thửa đất số 274. Theo “Giấy tự báo” ngày 01/08/1988 của ông Q đã được Ủy ban nhân dân xã P xác nhận trong đó có nội dung: Chủ đất Bùi Văn Q đã khai phá sản xuất từ năm 1972, tổng diện tích đang sản xuất 01 ha, đã thực hiện đóng thuế từ năm 1973 đến năm 1983.
Ngày 28/8/2019, Trường S2 đã có văn bản số 3085/TSQ-VP về việc cho ý kiến đối với diện tích đất, trong đó có nội dung như sau: “Qua nghiên cứu, đối chiếu trên sơ đồ, bản trích lục bản đồ địa chính và hiện trạng quản lý đất quốc phòng của nhà trường thì diện tích 12.524,7m² đất do ông Q khiếu nại không nằm trong đất quốc phòng theo Quyết định số 129/CT ngày 20/4/1988 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về việc giao đất cho Bộ Q1 để xây dựng trung tâm huấn luyện trường S2”.
Tại báo cáo số 287/BC-STNMT ngày 18/09/2019 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T12 về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Q xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại phường P, trong đó có nhận xét như sau: “Qua lồng ghép sơ đồ, xác nhận của Trường S3 và quy hoạch hiện nay thì khu đất khiếu nại không nằm trong đất quốc phòng quản lý. Tại thời điểm năm 1988, cơ quan chức năng chưa tiến hành đo đạc bản đồ nên chưa có số tờ số thửa, vị trí rõ ràng nên Trường S2 quản lý toàn bộ diện tích 1.175 ha đất theo hiện trạng thực tế, trong đó có diện tích 12.524,7m² ông Bùi Văn Q khiếu nại. Trong quá trình quản lý, Trường S2 đã kê khai đăng ký vào Sổ mục kê xã P (nay là phường P) diện tích đất khiếu nại này vào thửa đất số 274, tờ bản đồ 33 với tổng diện tích 611.896,8m².
Nhưng thực tế, Trường S2 không sử dụng mà để cho ông Trần Văn L1 - nguyên Chỉ huy trưởng Trường S2 và ông Hồ Quang T2 - nguyên Chỉ huy phó Trường S2 (cùng vợ là bà Nguyễn Thị X) sử dụng liên tục diện tích 12.524,7m² khiếu nại từ năm 1989 đến nay, mà không có văn bản ý kiến hay ngăn chặn của Trường S3. Trong khi đó từ năm 2002 đến nay, ông Q có nhiều đơn khiếu nại yêu cầu công nhận diện tích đất trên thì được Trường S2, Ủy ban nhân dân thị xã P (trước đây là Ủy ban nhân dân huyện T), Ủy ban nhân dân phường P trả lời là đất quốc phòng.
Như vậy, diện tích 12.524,7m² đất ông Bùi Văn Q khiếu nại không nằm trong diện tích đất quốc phòng quản lý nhưng hiện nay do ông Trần Văn L1 và bà Nguyễn Thị X đang trực tiếp sử dụng nên yêu cầu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Q là chưa đủ cơ sở xem xét giải quyết theo quy định tại Điều 99, Điều 100 và Điều 101 Luật Đất đai 2013”.
Căn cứ theo Khoản 3 Điều 100 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án, văn bản công nhận kết quả hòa giải thành, quyết định giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; trường hợp chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính thì phải thực hiện theo quy định của pháp luật ".
Hiện nay, diện tích 12.524,7m² thuộc một phần thửa đất số 274 đang xảy ra tranh chấp giữa gia đình ông Q với gia đình ông L1 và bà X. Do đó, Ủy ban nhân dân thị xã P đề nghị Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ căn cứ vào các chứng cứ có liên quan để xét xử vụ án nói trên theo đúng quy định pháp luật. Khi Bản án có hiệu lực, Ủy ban nhân dân thị xã P xem xét thi hành Bản án theo quy định của pháp luật.
[5] Người làm chứng trình bày:
[5.1] Ông Trần Đình H1:
Ông H1 không có họ hàng thân thuộc gì với ông Q, chỉ là hàng xóm láng giềng với nhau.
Ông về lập nghiệp tại xã P, huyện C, tỉnh Đồng Nai (cũ) từ năm 1970. Ông H1 không nhớ chính xác, chỉ nhớ là khoảng sau năm 1980, ông H1 có mua của ông Lê Sĩ C1 khoảng 1,2 ha đất rẫy, ông H1 chăn nuôi và trồng khoai mì. Ông H1 nhớ thời điểm ông mua đất đã có cuốn sổ màu vàng, nhưng ông không nhớ chính xác đó là sổ gì. Rẫy của ông mua cách phần đất hiện ông Q và bà X, ông L1 đang tranh chấp khoảng 03 rẫy đất khác.
Ông H1 xác định tại thời điểm đó, trên phần đất hiện ông Q, ông L1, bà X đang tranh chấp, ông H1 thấy ông Q trồng các loại cây ăn quả, cây hoa màu, ông H1 cũng thấy thỉnh thoảng ông Q vào đất chăm sóc cây. Ngoài ra ông H1 không thấy bà X, hay ông L1 canh tác trên phần đất này.
Đến khoảng năm 1993 thì ông H1 chuyển nhượng phần đất của ông cho bà O ở ấp Ông T8. Từ đó đến nay thì ông không biết gì nữa về phần đất bà X, ông L1, ông Q đang tranh chấp, cũng như về phần đất của ông đã chuyển nhượng cho bà O.
[5.2] Ông Vũ Minh T1:
Ông T1 không có họ hàng thân thuộc gì với ông Q, chỉ là hàng xóm láng giềng với nhau. Ông T1 về lập nghiệp tại xã P khoảng từ năm 1979-1980, lúc đó gia đình ông có khai phá đất gần chỗ đất ông Q khoảng 600m-700m. Đến khoảng năm 1990 thì Quân đội lấy lại đất, nên gia đình ông đã trả lại đất cho Quân đội, không còn canh tác nữa. Ông T1 xác định thời điểm đó ông có thấy ông Q trồng khoai, lúa, cà na...trên phần đất hiện ông Q và bà X, ông L1 đang tranh chấp, còn nguồn gốc đất như thế nào thì ông T1 không biết.
[5.3] Ông Nguyễn Văn S1:
Ông S1 không có họ hàng thân thuộc gì với ông Q, chỉ là hàng xóm láng giềng với nhau. Ông S1 theo gia đình về lập nghiệp tại xã P khoảng từ năm 1982, ông có qua lại phần đất hiện các đương sự đang tranh chấp, có thấy ông Q và người nhà trồng lúa, khoai, bắp....Ông S1 không thấy bà X hay ông L1 canh tác trên phần đất này. Về nguồn gốc đất như thế nào thì ông S1 không biết.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 30/2024/DS-ST ngày 04/6/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 12, Thành phố Hồ Chí Minh) tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Bùi Văn Q.
Công nhận diện tích 11.686,7 m² gồm các điểm (1,A,2,C',3, 4,1) thuộc một phần thửa đất số 274, tờ bản đồ số 33, toạ lạc tại phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là các thửa 1 và 3 tờ bản đồ 89, toạ lạc tại phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) thuộc quyền sử dụng hợp pháp của ông Bùi Văn Q.
Buộc ông Trần Văn L1 trả lại diện tích 4.404,4m² gồm các điểm (A, D, C', A) thuộc một phần thửa đất số 274, tờ bản đồ số 33, toạ lạc tại phường P, thị xã P (nay là thửa số 1, tờ bản đồ 89, toạ lạc tại phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu).
Buộc bà Nguyễn Thị X trả lại diện tích 7.282,3 m² gồm các điểm (1, A, D, C', 3, 4, 1) thuộc một phần thửa đất số 274, tờ bản đồ số 33, toạ lạc tại phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là thửa số 3, tờ bản đồ 89, toạ lạc tại phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) cho ông Bùi Văn Q.
Buộc ông Trần Văn L1 và bà Nguyễn Thị X thu hoạch toàn bộ cây trồng đã trồng trên diện tích 11.686,7 m² thuộc một phần thửa đất số 274, tờ bản đồ số 33 (nay là thửa số 1 và 3, tờ bản đồ 89) toạ lạc tại phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày bản án này có hiệu lực.
Ông Bùi Văn Q có nghĩa vụ liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để tiến hành các thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của các bên đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 18-6-2024, bị đơn ông Trần Văn L1 và bà Nguyễn Thị X có đơn kháng cáo, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết sửa Bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Các bên đương sự không thỏa thuận được việc giải quyết vụ án và không cung cấp tài liệu chứng cứ mới.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, thành viên Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các đồng bị đơn, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của kiểm sát viên. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Đơn kháng cáo của bị đơn ông Trần Văn L1 và bà Nguyễn Thị X đảm bảo đúng thủ tục, nội dung và nộp trong thời hạn theo quy định tại các Điều 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên hợp lệ; Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận xem xét lại Bản án sơ thẩm theo trình tự phúc thẩm.
[1.2] Xét sự vắng mặt của đương sự tại phiên tòa: Các đương sự vắng mặt hoặc đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hoặc đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt hoặc đã có người đại diện hợp pháp tham gia phiên tòa, nên căn cứ vào Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Trần Văn L1 và bà Nguyễn Thị X:
Hội đồng xét xử xem xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[2.1] Về nguồn gốc đất và quá trình sử dụng đất:
[2.1.1] Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn trình bày diện tích đất tranh chấp có nguồn gốc do nguyên đơn khai phá từ năm 1972, sử dụng trồng hoa màu ngắn ngày, cho đến năm 1988, nhà nước vận động giao đất cho Trường S2 mượn làm trường bắn nên nguyên đơn đã đến trụ sở Ban Á (có sự tham gia làm việc của đại diện Ủy ban nhân dân xã P (cũ) để đăng ký kê khai về việc khai phá, sử dụng diện tích đất để trồng lúa, đậu, mì, diện tích đất này đã được nguyên đơn đóng thuế từ năm 1973 đến năm 1983, theo “Giấy tự báo” đề ngày 01-8-1988 được xác nhận của Ủy ban nhân dân xã P (cũ) (BL 293-TA). Nguyên đơn đã giao đất cho địa phương theo tinh thần vận động.
[2.1.2] Trong khi đó về phía các bị đơn trình bày:
Ông Hồ Quang T2 (chồng của bị đơn bà Nguyễn Thị X) công tác tại Trường S2 từ năm 1980 đến năm 2000, còn bị đơn ông Trần Văn L1 công tác tại Trường S2 từ năm 1976 đến khoảng năm 1997 thì nghỉ hưu. Diện tích đất tranh chấp là do ông T2 và ông L1 khai phá từ năm 1988, sử dụng trồng bạch đàn, sau đó trồng cây tràm cho đến nay.
[2.1.3] Đối với Trường S2 có quan điểm: Trước thời điểm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số 129/CT ngày 30-4-1988 về việc giao đất cho Bộ Q1 để xây dựng trung tâm huấn luyện Trường S2 (BL 145 TA) thì Trường S2 đã sử dụng một số khu vực đất, sau đó mới đề xuất ban hành Quyết định 129/CT, tuy nhiên trước và sau khi có Quyết định 129/CT thì Trường S2 chưa bao giờ quản lý, sử dụng theo hiện trạng đối với diện tích đất tranh chấp. Trường hợp của các bị đơn sử dụng đất là do họ có nhu cầu canh tác, sản xuất nên từ năm 1988 các bị đơn tự vào canh tác, Trường S2 không giao diện tích đất này cho các bị đơn.
Hội đồng xét xử xét thấy: Qúa trình tố tụng và tại phiên tòa phúc thẩm, lời trình bày của các bị đơn cũng như Trường S2 về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất trước sau bất nhất, cụ thể:
Bị đơn bà X có lúc trình bày diện tích đất do gia đình bà khai phá từ năm 1989 (BL 66, 67, 393-TA, phiên tòa phúc thẩm); có lúc lại cho rằng do thời điểm đó diện tích đất rộng và hoang hóa nên Trường S2 có chủ trương cho cán bộ trường sử dụng đất được giao theo Quyết định 129/CT để trồng rừng, phủ xanh đất hoang hóa, cải thiện đời sống kinh tế. Năm 1989, thực hiện chủ trương của Trường S2, bà X cùng chồng là ông T2 (nguyên Chỉ huy phó Trường S2) có sử dụng diện tích đất khoảng hơn 8.000m² (thuộc một phần diện tích đất ông Q tranh chấp) để trồng bạch đàn thu hoạch (BL 12 - TA). Tại phiên tòa sơ thẩm (BL 318 - TA), bà X thống nhất với lời khai của ông L1, khẳng định lại nội dung này.
Bị đơn ông L1 cũng có lúc trình bày diện tích đất do gia đình ông khai phá từ năm 1989 (BL 77, 78, 374 –TA, phiên tòa phúc thẩm); có lúc lại cho rằng do thời điểm đó diện tích đất rộng và hoang hóa nên Trường S2 có chủ trương cho cán bộ trường sử dụng đất được giao theo Quyết định 129/CT để trồng rừng, phủ xanh đất hoang hóa, cải thiện đời sống kinh tế. Năm 1989, thực hiện chủ trương của Trường S2, ông L1 là Chỉ huy trưởng Trường S2 có sử dụng diện tích đất khoảng 4.000m² (thuộc một phần diện tích đất ông Q tranh chấp) để trồng bạch đàn thu hoạch (BL 32- TA). Tại phiên tòa sơ thẩm, ông L1 xác định “...Năm 1989, khi Trường S2 được nhà nước cấp đất, với chính sách phủ xanh đồi trọc, tôi là cán bộ được khuyến khích vào khai phá, cải tạo, canh tác trên đất và có trồng cây bạch đàn...”.
Đối với Trường S2 cho lời khai tại phiên tòa phúc thẩm cũng mâu thuẫn với lời khai trước đây đã trình bày. Tại BL 316 – TA, Trường S2 khai “...Vào năm T9 mượn đất, đất chưa phân ranh rõ ràng, chưa có điều kiện thống kê, hồ sơ địa phương không xác định được của từng hộ cụ thể. Theo ông L1 trình bày đơn vị có chủ trương vận động là đúng....”, “...Từ trước đến khi trường làm ranh thì phần diện tích đất đang tranh chấp do T9 Sĩ quan lục quân 2 quản lý...”. Lời khai này phù hợp với lời khai của các bị đơn khi các ông bà khẳng định việc các ông bà sử dụng đất nhưng không đăng ký kê khai do lúc đó đất là do đơn vị (Trường S2) quản lý.
Căn cứ vào Quyết định 2798/QĐ-UBND ngày 22 -10- 2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh B (cũ) (BL 194 - 197 TA); Báo cáo số 287/BC-STNMT ngày 18-9-2019 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T12 (cũ) (BL 200- 203 TA), trong đó có nhận xét như sau: “Qua lồng ghép sơ đồ, xác nhận của Trường S2 và quy hoạch hiện nay thì khu đất khiếu nại không nằm trong đất quốc phòng quản lý. Tại thời điểm năm 1988, cơ quan chức năng chưa tiến hành đo đạc bản đồ nên chưa có số tờ số thửa, vị trí rõ ràng nên Trường S2 quản lý toàn bộ diện tích 1.175ha đất theo hiện trạng thực tế, trong đó có diện tích 12.524,7m² ông Bùi Văn Q khiếu nại. Trong quá trình quản lý, Trường S2 đã kê khai đăng ký vào Sổ mục kê xã P (nay phường P) diện tích đất khiếu nại này vào thửa đất số 274, tờ bản đồ 33 với tổng diện tích 611.896,8m².
Nhưng thực tế, Trường S2 không sử dụng mà để cho ông Trần Văn L1 - nguyên Chỉ huy trưởng Trường S2 và ông Hồ Quang T2- nguyên Chỉ huy phó Trường S2 (cùng vợ là bà Nguyễn Thị X) sử dụng liên tục diện tích 12.524,7m² khiếu nại từ năm 1989 đến nay, mà không có văn bản ý kiến hay ngăn chặn của Trường S2. Trong khi đó từ năm 2002 đến nay, ông Q có nhiều đơn khiếu nại yêu cầu công nhận diện tích đất trên thì được Trường S2, Ủy ban nhân dân thị xã P (trước đây là Ủy ban nhân dân huyện T), Ủy ban nhân dân phường P trả lời là đất quốc phòng”.
Như vậy, tuy các bị đơn sử dụng đất nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì thể hiện phần diện tích trên do các bị đơn khai phá. Trường S2 đã có văn bản số 3085/TSQ-VP ngày 28-8-2019 về việc cho ý kiến (BL 58 TA), trong đó có nội dung như sau: “Qua nghiên cứu, đối chiếu trên sơ đồ, bản trích lục bản đồ địa chính và hiện trạng quản lý đất quốc phòng của nhà trường thì diện tích 12.524,7m² đất do ông Bùi Văn Q khiếu nại không nằm trong đất quốc phòng theo Quyết định số 129/CT ngày 20-4-1988 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về việc giao đất cho Bộ Q1 để xây dựng trung tâm huấn luyện Trường S2”. Căn cứ vào “Giấy tự báo” ngày 01-8-1988 có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã P (cũ) nội dung như sau: Ông Q đã khai phá sản xuất khoảng 1,00 ha đất trồng lúa, đậu, mì và đã thực hiện nộp thuế từ năm 1973 đến năm 1983. Theo mẫu của tờ “Giấy tự báo” này không có phần kê khai tứ cận, nên ông Q không khai phần tứ cận là phù hợp với lời trình bày của ông Q. Do vậy, xác định phần đất tranh chấp diện tích 11.686,7 m² thuộc một phần thửa đất số 274 có nguồn gốc do nguyên đơn khai phá, điều này cũng phù hợp với lời khai của những người làm chứng cho nguyên đơn tại cấp sơ thẩm và phúc thẩm là các ông bà Vũ Minh T1, Trần Đình H1, Nguyễn Văn S1, Lê Sỹ C2 và Nguyễn Viết T10.
Đối với chứng cứ bị đơn nộp là danh sách các hộ dân có canh tác trên phần đất Trường S2 quản lý (BL 64 - 65 TA) thì mặc dù danh sách này không có tên nguyên đơn, tuy nhiên việc lập danh sách không được thông báo cụ thể cho người dân nên bản thân nguyên đơn không thể biết việc ông không có tên trong danh sách.
[2.2] Về việc nộp thuế và đăng ký kê khai sử dụng đất:
[2.2.1] Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn cho rằng việc nguyên đơn nộp thuế từ năm 1973-1983 đã được chứng minh thông qua “Giấy tự báo”, còn giai đoạn sau đó thì nhà nước không thu thuế nên nguyên đơn không thực hiện. Nguyên đơn có thực hiện việc đăng ký kê khai sử dụng đất, tuy nhiên được trả lời không bằng văn bản là đất thuộc quyền quản lý của Trường S2.
[2.2.2] Về phía các bị đơn xác định quá trình sử dụng đất không thực hiện việc nộp thuế, không đăng ký kê khai sử dụng đất. Và như đã nêu bên trên chính bản thân các bị đơn cũng thừa nhận việc không thực hiện kê khai sử dụng đất là do đất thuộc quyền quản lý của Trường S2.
[2.3] Về thời điểm phát sinh tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn:
[2.3.1] Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn cho rằng vào năm 1989, khi thấy ông L1 và ông T2 vào canh tác đất thì nguyên đơn đã tìm gặp ông L1 và ông T2, Trường S2 để giải quyết nhưng không có kết quả, nguyên đơn tiếp tục đến Ủy ban nhân dân xã P (cũ) để thắc mắc khiếu nại nhưng được trả lời không bằng văn bản là khi nào Trường S2 giao trả thì sẽ trả lại đất cho nguyên đơn. Năm 2002, nguyên đơn vào phần đất để làm hàng rào thì ông T2 không phản đối, còn ông L1 thì không đồng ý. Ông L1 cũng khiếu nại đến Ủy ban nhân dân xã P (cũ), sự việc tranh chấp giữa các bên qua nhiều cơ quan trả lời đều chung một nội dung là đất thuộc quyền quản lý của Trường S2. Nguyên đơn khiếu nại và được Ủy ban nhân dân tỉnh B (cũ) ban hành Quyết định 2798/QĐ- UBND ngày 22-10-2019 trong đó có nội dung xác định diện tích đất tranh chấp nằm ngoài quy hoạch đất quốc phòng tại địa phương nên nguyên đơn khởi kiện vụ án và hiện đang được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2.3.2] Về phía các bị đơn cho rằng các mốc thời gian tranh chấp, khiếu nại giữa các bên liên quan đến diện tích đất thì các bị đơn không nhớ, tuy nhiên xác định từ năm 2002 thì ông Q khiếu nại đến Ủy ban nhân dân xã P (cũ) yêu cầu giải quyết.
[2.4] Về điều kiện xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:
Như đã nêu bên trên, tuy các bị đơn có sử dụng đất, nhưng bản thân các bị đơn cũng thừa nhận từ năm 2002 đã phát sinh tranh chấp từ nguyên đơn, các bị đơn không được T9 Sĩ quan Lục quân 2 giao đất theo hình thức cho cán bộ làm nhà ở, không cung cấp được một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật Đất đai năm 2013.
Đối với nguyên đơn thì từ năm 1988 đã thực hiện việc giao đất theo tinh thần vận động của địa phương nên việc sau đó không sử dụng đất là do nguyên nhân khách quan. Nguyên đơn cung cấp được “Giấy tự báo” cũng được xem là một trong các loại giấy tờ được quy định tại điểm g Khoản 1 Điều 100 Luật Đất đai 2013.
Tòa án cấp sơ thẩm xác định nguồn gốc đất tranh chấp do nguyên đơn khai phá, là người đủ điều kiện để cơ quan có thẩm quyền xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ.
[2.5] Theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 24-12-2021 thể hiện toàn bộ phần đất tranh chấp được bà X và ông L1 trồng cây tràm khoảng 01 năm tuổi. Do vậy, ông L1 (nay là những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông L1), bà X có nghĩa vụ phải thu hoạch toàn bộ cây tràm đang trồng trên phần diện tích đất 11.686,7 m² thuộc một phần thửa đất số 274 trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày Bản án có hiệu lực để giao trả đất cho nguyên đơn.
Từ phân tích và nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm thống nhất không chấp nhận kháng cáo của các bị đơn, tuy nhiên Bản án sơ thẩm khi tuyên buộc ông L1 trả lại diện tích đất 4.404,4m² theo sơ đồ vị trí do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã P (cũ) lập ngày 31-12-2021 đã tuyên chưa chính xác về các điểm mốc tọa độ, nên cần sửa Bản án sơ thẩm ở phần này cho phù hợp với sơ đồ vị trí.
[3] Về chi phí tố tụng tại Tòa án cấp sơ thẩm là 15.000.000 đồng, nguyên đơn ông Q tự nguyện nộp và đã nộp xong.
[4] Về án phí:
Bị đơn bà X và ông L1 (nay là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng gồm các ông bà Trần Thị N, Trần Thị Kim L3, Trần Thị Ngọc L2 và Trần Tuấn T) không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm và án phí dân sự phúc thẩm.
Ông Q thuộc trường hợp được miễn nộp tạm ứng án phí do là người cao tuổi.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các ông bà Nguyễn Thị X, Trần Văn L1 (nay là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng gồm các ông bà Trần Thị N, Trần Thị Kim L3, Trần Thị Ngọc L2 và Trần Tuấn T), sửa Bản án sơ thẩm số 30/2024/DS- ST ngày 04-6-2024 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là Tòa án nhân dân Khu vực 12, Thành phố Hồ Chí Minh), như sau:
Căn cứ vào Điều 26, Điều 38, Điều 39, Điều 296, Điều 313 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 12, 100, 166, 203 Luật Đất đai 2013;
Căn cứ Điều 26, Điều 29 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Bùi Văn Q.
Công nhận cho ông Bùi Văn Q được quyền sử dụng diện tích đất 11.686,7 m² thuộc một phần thửa đất số 274, tờ bản đồ số 33 (số mới là thửa 1 và 3 tờ bản đồ 89), toạ lạc tại phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh), theo các điểm tọa độ 1-A-2-C'-3-4-1 trên sơ đồ vị trí do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã P (cũ) lập ngày 31-12-2021 kèm theo Bản án.
Buộc ông Trần Văn L1 (nay là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng gồm các ông bà Trần Thị N, Trần Thị Kim L3, Trần Thị Ngọc L2 và Trần Tuấn T) phải thu hoạch, di dời tài sản cây trồng có trên diện tích đất 4.404,4m² thuộc một phần thửa đất số 274, tờ bản đồ số 33 (số mới là thửa 1 tờ bản đồ 89), toạ lạc tại phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh), theo các điểm tọa độ A-2 C’-D trên sơ đồ vị trí do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã P (cũ) lập ngày 31-12-2021 kèm theo Bản án trong thời hạn 03 (ba) tháng kể từ ngày Bản án có hiệu lực để trả lại diện tích đất này cho ông Bùi Văn Q.
Buộc bà Nguyễn Thị X phải thu hoạch, di dời tài sản cây trồng có trên diện tích đất 7.282,3m² thuộc một phần thửa đất số 274, tờ bản đồ số 33 (số mới là thửa 3 tờ bản đồ 89), toạ lạc tại phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh), theo các điểm tọa độ 1-A-D-C’-3-4-1 trên sơ đồ vị trí do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã P (cũ) lập ngày 31-12-2021 kèm theo Bản án trong thời hạn 03 (ba) tháng kể từ ngày Bản án có hiệu lực để trả lại diện tích đất này cho ông Bùi Văn Q.
Ông Bùi Văn Q được quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để tiến hành các thủ tục đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất nêu trên theo quy định của pháp luật.
Về chi phí tố tụng tại Tòa án cấp sơ thẩm là 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng), ông Bùi Văn Q tự nguyện nộp và đã nộp xong.
Về án phí: Bà Nguyễn Thị X và ông Trần Văn L1 (nay là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng gồm các ông bà Trần Thị N, Trần Thị Kim L3, Trần Thị Ngọc L2 và Trần Tuấn T) không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm và án phí dân sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 10-12-2025).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
VKSND TP. Hồ Chí Minh;
TAND khu vực 12, TP. HCM;
THADS TP. Hồ Chí Minh;
Các đương sự;
Lưu (17).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Thương |
Bản án số 1567/2025/DS-PT ngày 10/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 1567/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/12/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm
