Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 1 – QUẢNG NINH

Bản án số 156/2025/HS-ST

Ngày 18-12-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Ngọc Bình.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Huề;
  2. Bà Bùi Kim Dung.

Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Như Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Quảng Ninh.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Quảng Ninh tham gia phiên tòa: ông Trần Anh Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 12 năm 2025, tại Phòng xử án, Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 156/2025/TLST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 168/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 12 năm 2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 1 - Quảng Ninh đối với bị cáo:

Họ và tên: Bùi Đức T; tên gọi khác: không; giới tính: Nam; sinh ngày 15/10/1994, tại tỉnh Bắc Ninh; nơi cư trú: thôn Q, xã V, tỉnh Bắc Ninh; trình độ học vấn: 7/12; nghề nghiệp: lao động tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; đoàn thể: không; con ông: Bùi Văn T1 và bà: Nguyễn Thị D; có vợ và 02 con; tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh đến khi kết thúc phiên toà sơ thẩm. Có mặt tại phiên toà.

* Người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Thị T2 (đã tử vong):

  1. Ông Tạ Văn X sinh năm 1980. Trú tại: Tổ B, khu C, phường T, tỉnh Quảng Ninh.
  2. Anh Tạ Xuân T3 sinh năm 2002. Trú tại: Tổ B, khu C, phường T, tỉnh Quảng Ninh.

Người đại diện theo uỷ quyền của Tạ Xuân T3: anh Tạ Văn X sinh năm 1980. Trú tại: Tổ B, khu C, phường T, tỉnh Quảng Ninh. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1968. Nơi cư trú: thôn Q, xã V, tỉnh Bắc Ninh. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

* Bị đơn dân sự: Công ty TNHH B2.

Địa chỉ Thôn Q, xã V, tỉnh Bắc Ninh.

Người đại diện theo pháp luật: Nguyễn Văn B, sinh năm 1968, chức vụ: Giám đốc. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

* Người làm chứng: Lê Thị Mỹ L, Lê Thị H. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Công ty TNHH B2 (gọi tắt là Công ty B2), theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế số 2300224854, có ngành nghề kinh doanh mua bán tái chế phế liệu và đồ phế thải, có ký 01 Hợp đồng kinh tế số 080125 ngày 08/01/2025 về việc mua bán, vận chuyển chất thải phục vụ mục đích tái chế với Bệnh viện B3. Đồng thời, công ty B2 có thuê Bùi Đức T (có Giấy phép lái xe hạng C số [...] do Sở Giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 18/3/2024, có hiệu lực đến ngày 18/3/2029) làm lái xe chiếc xe ô tô tải loại có mui, nhãn hiệu THACO HYUNDAI HD71-MBB, trọng tải 3500 kg, biển kiểm soát (BKS) 99C-263.69 đi thu gom rác thải y tế từ các bệnh viện trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, trả công 500.000 đồng/ngày công, cơm nuôi; thuê các chị Nguyễn Thị T2 (sinh năm 1982, địa chỉ: tổ B, khu C, phường T, tỉnh Quảng Ninh), chị Lê Thị H (sinh năm 1980) và chị Lê Thị Mỹ L (sinh năm 1993) làm công việc bốc vác rác thải y tế, trả công 350.000 đồng/01 chuyến xe, không bao cơm nuôi; mọi người đều không ký hợp đồng lao động.

Khoảng 8 giờ 15 phút ngày 15/8/2025, T điều khiển xe ô tô tải BKS 99C - 263.69, trên xe có anh B (là giám đốc công ty B2) đi cùng đến bệnh viện B3 để chở rác thải của bệnh viện đi xử lý. Khi đến bệnh viện, T lùi xe đến vị trí trước cửa phòng nhà chứa rác (tiếp giáp tòa nhà B Bệnh viện B3) thì tắt máy, kéo phanh tay, không tác động gì vào cần số vẫn để ở số “Lùi”, chìa khóa vẫn cắm ở ổ khóa, xuống xe, rồi T cùng anh B ra quán nước đối diện Bệnh viện ngồi. Còn các chị T2, H, L đến bốc rác thải từ trong kho đưa lên xe ô tô.

Đến khoảng 9 giờ 30 phút cùng ngày, do đỗ xe sát tường khó cho việc bốc rác lên xe, chị H gọi điện cho anh B, cho lái xe vào đánh xe tiến lên thì anh B nói với T vào đánh xe tiến lên để dễ cho việc bốc rác. Khi T ngồi vào vị trí ghế lái, T không kiểm tra cần số, phanh tay, không đạp chân phanh, chân côn mà ngay lập tức dùng tay phải vặn chìa khóa đã được cắm sẵn để thao tác đề nổ máy. Lúc này chị H ở trong nhà kho, chị L đứng sau xe gần cửa nhà kho để tháo móc xích đóng thành thùng xe bên phía ghế phụ, chị T2 đứng sau xe sát tường để tháo móc xích đóng thành thùng xe bên phía ghế lái. Ngay khi xe ô tô vừa nổ thì chiếc xe giật lùi mạnh về phía sau, phần thành thùng phía sau của xe đè, ép chị T2 sát vào bờ tường. T nghe thấy tiếng hô “Lùi vào người rồi” thì T hiểu là xe đã lùi trúng vào người khác. Ngay lập tức, T tắt máy về số 0, sau đó lại khởi động xe, vào số 2, cho xe tiến lên khoảng 1 mét rồi tắt máy. Khi xuống xe, T phát hiện ra chị T2 bị thương ngã ở sau xe bên phía ghế lái sát tường, sau đó T cùng mọi người đưa chị T2 vào Bệnh viện B3 cấp cứu. Ngay sau khi xảy ra sự việc, ông Dương Văn B1 làm công tác phụ trách an ninh tại Bệnh viện B3 đã trình báo sự việc đến Công an tỉnh Q.

Khám nghiệm hiện trường thể hiện: Nơi xảy ra tai nạn là vị trí trước cửa phòng kho chất thải tái chế nhà B của Bệnh viện B3. Vị trí này bao gồm 01 sân phụ, 03 hướng của sân đều giáp tường, 1 hướng liền kề sân trước. Cụ thể: Hướng Bắc giáp tường nhà khu bán thuốc rộng 6,9m; Phía Nam giáp tường bao bậc thang đường phụ lên khóa khám bệnh; Phía Đông giáp tường kho chất thải rộng 3,23m. Kho chất thải có 01 cửa ra vào liền với sân phụ ở vị trí góc sân phía Bắc, rộng 0,8m, cao 2m, kiểm tra không phát hiện dấu vết nghi vấn. Trên tường kho chất thải còn gắn 01 cục nóng điều hòa, kiểm tra không phát hiện dấu vết nghi vấn. (1) Xe ô tô tải BKS 99C - 263.69 đỗ bên trong sân phụ, đầu xe hướng ra ngoài, đuôi xe hướng vào trong. Lốp bánh trước bên lái của xe cách tường N 0,54m; Lốp sau xe bên lái cách tường Đông Nam 0,85m. (2) 09 túi nilon chứa chất thải y tế tái chế để trên diện (1,2 x 2,3)m và 01 thang sắt kích thước (2,3 x 0,5)m. Thu giữ xe ô tô tải BKS 99C - 263.69.

Biên bản thực nghiệm mô tả hành vi của Bùi Đức T: (1) T tắt máy xe ô tô tải BKS 99C - 263.69 để số 0 (mo), khi khởi động xe ô tô tải không di chuyển, đảm bảo an toàn, không có sự cố; (2)T khởi động xe ô tô tải, vào số lùi, kéo phanh tay, tắt máy xe ô tô tải, sau đó T khởi động xe ô tô tải kết quả xe ô tô tải lùi nhanh về phía sau nếu không có việc phanh thì xe ô tô tải không dừng lại.

Tại Kết luận giám định tử thi số 167/KLGĐTT-TTPY ngày 29 tháng 8 năm 2025 của Trung tâm pháp y, Sở Y đối với tử thi chị Nguyễn Thị T2 như sau: Tràn máu màng phổi phải; Kính mờ phổi phải; Đụng dập mất liên tục cơ thành bụng; Khí thành bụng; Xẹp nhẹ đáy phổi trái; Gãy cung sau xương sườn 6 đến 11 hai bên; Gãy gai ngang L1,2,3 trái, L1,2 phải, gai sau D12. T4 bụng trên rốn dập nát, lóc cân cơ rộng. Vào bụng ngập máu ổ bụng, nhiều máu cục tập trung dưới gan, giữa bụng, D1. Mạc nối lớn rách nát toàn bộ từ bờ cong lớn đến đại tràng ngang, rách nát mạc treo ruột non. Chấn thương đầu tụy, đứt rời D3 tá tràng, chảy nhiều dịch thức ăn. Tổn thương tĩnh mạch mạc treo tràng trên rách nát trên đoạn dài 3cm, đã khâu buộc. Tụ máu rộng khoảng sau phúc mạc bên trái do tổn thương mạch thận trái, tĩnh mạch. Ruột non nhiều đoạn dập nát tụ máu mất mạch. Đại tràng từ đại tràng phải đến hết đại tràng xuống bầm tím dập nát mất mạch nuôi. Kết luận nguyên nhân chết: Suy đa tạng sau phẫu thuật do đa chấn thương ngực bụng kín nghiêm trọng.

Tại kết luận giám định số 42/2025/ĐKHL ngày 03/9/2025 của Trung tâm đăng kiểm 1401D Công ty cổ phần Đ về tình trạng kỹ thuật an toàn của chiếc xe ô tô biển số 99C-263.69 trên như sau:

  • Hệ thống phanh: lắp đặt chắc chắn, dẫn động phanh không đúng thiết kế của nhà sản xuất (lắp thêm 01 tổng phanh trợ lực khí nén). Kiểm tra trên thiết bị kiểm tra phanh của hãng M không đạt yêu cầu (hệ số sai lệch lực phanh giữa hai bánh trên trục 1 vượt quá hệ số cho phép).
  • Hệ thống lái: lắp đặt chắc chắn, đúng kiểu loại, hoạt động bình thường - Hệ thống còi: lắp đặt chắc chắn, hoạt động bình thường.
  • Hệ thống đèn:
    • Đèn chiếu sáng phía trước: kiểm tra bằng thiết bị Maha, đèn chiều xa và đèn chiếu gần bên trái không đảm bảo về chỉ tiêu ánh sáng.
    • Đèn tín hiệu: lắp đặt chắc chắn, đúng vị trí, hoạt động bình thường.
  • Lốp xe: đúng thông số của nhà sản xuất, chiều cao hoa lốp còn dày, chưa mòn tới dấu chỉ báo độ mòn, đảm bảo yêu câu kỹ thuật.

Như vậy, với hiện trạng phương tiện còn lại sau tai nạn thì không đủ căn cứ xác định việc không đảm bảo an toàn kỹ thuật xảy ra trước, trong hay sau khi xây ra tai nạn.

Tại Công văn số 65/2025/ĐKHL ngày 26/9/2025 của Trung tâm đăng kiểm 1401D Công ty cổ phần Đ trả lời:

  • Đối với việc phương tiện xe ô tô biển số 99C-26369 lắp đặt hệ thống phanh theo kết luận giám định số 42/2025/ĐKHL xe vẫn có thể vận hành bình thường, xe lắp hệ thống phanh như trên nhằm gia tăng áp lực thuỷ lực tác động lên cơ cấu phanh để tăng hiệu quả phanh. Trong điều kiện xe đã đỗ, không nổ máy đã kéo phanh tay xe không có khả năng dịch chuyển vì hiệu quả phanh đỗ kiểm tra trên thiết bị kiểm tra phanh M1 là 26% (theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 122:2024/BGTVT hiệu quả phanh đỗ của cả xe để đảm bảo phải lớn hơn 16%).
  • Theo khoản 2 điểm III của QCVN 122:2024/BGTVT ban hành ngày 15/11/2024 về các “hạng mục kiểm tra, khiếm khuyết hư hỏng và mức khiếm khuyết, hư hỏng” trong “yêu cầu kiểm tra hiệu quả phanh và trượt ngang” thì không có cơ sở để đánh giá kết luận sự đảm bảo an toàn kỹ thuật của Hệ thống phanh xe mang biển số 99C-26369 trước, trong khi xảy ra tai nan.

Quá trình điều tra và tại phiên toà, Bùi Đức T khai nhận hành vi phạm tội của mình như nêu trên.

Những người làm chứng Lê Thị H, Lê Thị Mỹ L có lời khai xác nhận chứng kiến nội dung sự việc như nội dung cáo trạng đã truy tố.

Ông Nguyễn Văn B có lời khai phù hợp với nội dung nêu trên. Ông B là chủ sở hữu của chiếc xe ô tô tải biển số 99C-263.69, xe được đăng ký chính chủ mang tên ông. Sau sự việc xảy ra, ông đã được trả lại chiếc xe theo quy định và ông không có ý kiến nào khác.

Đại diện hợp pháp của người bị hại Tạ Văn X có ý kiến: sau tai nạn xảy ra, bị cáo và ông Nguyễn Văn B đã tự nguyện bồi thường cho gia đình số tiền 385.000.000 đồng. Gia đình bị hại không yêu cầu bồi thường thêm, đồng thời đề nghị cơ quan có thẩm quyền giảm nhẹ cho mức hình phạt cho bị cáo.

Tại bản Cáo trạng số 17/CT-VKSHL ngày 24/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Quảng Ninh đã truy tố Bùi Đức T, về tội “Vô ý làm chết người”, theo quy định tại khoản 1 Điều 128 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Quảng Ninh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật như nội dung bản Cáo trạng; đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Tuyên bố bị cáo Bùi Đức T phạm tội “Vô ý làm chết người”.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 128; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Đức T từ 12 đến 15 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 đến 30 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã V, tỉnh Bắc Ninh cùng gia đình có trách nhiệm phối hợp trong việc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
  • - Giấy phép lái xe là giấy tờ cá nhân nên cần trả lại cho bị cáo T giấy phép lái xe mang tên Bùi Đức T.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Quảng Ninh; đồng thời xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q và điều tra viên; của Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Quảng Ninh và kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra và truy tố, cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Quảng Ninh và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra và truy tố. Vì vậy, các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về đánh giá chứng cứ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Bùi Đức T đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của những người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Kết hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: sơ đồ hiện trường; bản ảnh; biên bản khám nghiệm hiện trường; biên bản khám nghiệm tử thi; biên bản khám phương tiện; kết luận giám định tử thi,... Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 15/8/2025, tại khu vực kho chất thải rác của tòa B, Bệnh viện B3 thuộc phường V, tỉnh Quảng Ninh, Bùi Đức T có giấy phép lái xe, khởi động xe ô tô tải biển kiểm soát 99C-263.29 khi xe đang ở số “Lùi”, không sử dụng chân tác động vào bàn đạp chân côn và chân phanh, không chú ý quan sát, khiến chiếc xe tải lùi về sau, phần thành thùng phía sau của xe đè, ép vào bụng của chị Nguyễn Thị T2, là công nhân thu gom rác đứng phía sau đuôi xe vào tường của nhà kho, khiến chị T2 bị thương phải đi cấp cứu ở Bệnh viện B3. Đến ngày 25/8/2025, chị T2 tử vong.

[3] Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến khách thể là tính mạng của con người. Bị cáo là người đã trưởng thành, đủ khả năng nhận thức điều khiển hành vi của mình. Bị cáo đã khởi động xe ô tô khi xe đang ở số “Lùi”, không sử dụng chân tác động vào bàn đạp chân côn và chân phanh, không chú ý quan sát nên đã xảy ra hậu quả chị Nguyễn Thị T2 bị tử vong. Trong vụ án này, bị cáo đã vi phạm với lỗi vô ý vì cẩu thả. Hành vi nêu trên của bị cáo Bùi Đức T đã phạm tội: “Vô ý làm chết người” quy định tại khoản 1 Điều 128 Bộ luật Hình sự.

[4] Điều 128. Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào vô ý làm chết người, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.”

[5] Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 – Quảng Ninh và quan điểm của kiểm sát viên thực hành quyền công tố nhà nước tại phiên tòa truy tố các bị cáo ra xét xử trước Tòa án theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là hoàn toàn có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan, cần chấp nhận. Việc đưa bị cáo ra xét xử công khai và áp dụng một mức hình phạt tương xứng với hành vi bị cáo đã gây ra là cần thiết.

[7] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và quyết định hình phạt.

Tình tiết tăng nặng: không có.

Tình tiết giảm nhẹ: sau khi phạm tội, bị cáo cùng với ông Nguyễn Văn B và Công ty TNHH B2 chủ động bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại; bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội; được gia đình bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Quyết định hình phạt:

Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự nên có thể xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt. Mặt khác, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, căn cứ vào khoản 1, 2 và 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự và theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 (sửa đổi, bổ sung Nghị quyết 01/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018) của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự về án treo, có thể cho bị cáo được hưởng biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện.

[8] Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[9] Về phần dân sự:

Công ty TNHH B2, ông Nguyễn Văn B và bị cáo Bùi Đức T5 đã tự nguyện bồi thường cho gia đình chị Nguyễn Thị T2, tổng số tiền 385.000.000 đồng (ba trăm tám mươi lăm triệu đồng). Đại diện hợp pháp của chị T2 không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[10] Về vật chứng vụ án:

  • - Đối với 01 xe ô tô tải loại có mui, nhãn hiệu THACO HYUNDAI HD71-MBB, trọng tải 3500 kg, BKS 99C-263.29 Cơ quan điều tra đã trả cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Nguyễn Văn B theo quy định, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết;
  • - 01 giấy phép lái xe mang tên Bùi Đức T trả lại cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

[11] Những vấn đề khác:

Đối với anh Nguyễn Văn B và Công ty B2 là người thuê, giao xe ô tô tải cho bị can Bùi Đức T sử dụng, không biết T vô ý khởi động xe khi vẫn để số “Lùi” dẫn đến làm chết người, nên không đề cập xử lý.

[12] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 128; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Bùi Đức T 12 (mười hai) tháng tù về tội “Vô ý làm chết người”, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (18/12/2025).

Giao bị cáo Bùi Đức T cho Ủy ban nhân dân xã V, tỉnh Bắc Ninh cùng gia đình bị cáo T có trách nhiệm phối hợp trong việc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp bị cáo Bùi Đức T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại bị cáo giấy phép lái xe mang tên Bùi Đức T (trả ngay tại phiên tòa);

Áp dụng: Khoản 2 Điều 136; Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.

Buộc bị cáo Bùi Đức T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Báo cho bị cáo biết quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Đại diện hợp pháp của người bị hại, bị đơn dân sự cùng ông Nguyễn Văn B vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND KV1-Quảng Ninh;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Cơ quan Điều tra, Cơ quan THA hình sự, Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Quảng Ninh (PV06);
  • - Phòng THADS KV1 – Quảng Ninh;
  • - Bị cáo; NCQLNVLQ; Bị đơn DS;
  • - Lưu hồ sơ, lưu trữ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Ngọc Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 156/2025/HS-ST ngày 18/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – QUẢNG NINH về hình sự (vô ý làm chết người)

  • Số bản án: 156/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Vô ý làm chết người)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 – QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 15/8/2025, tại khu vực kho chất thải rác của tòa B, Bệnh viện B3 thuộc phường V, tỉnh Quảng Ninh, Bùi Đức T có giấy phép lái xe, khởi động xe ô tô tải biển kiểm soát 99C-263.29 khi xe đang ở số “Lùi”, không sử dụng chân tác động vào bàn đạp chân côn và chân phanh, không chú ý quan sát, khiến chiếc xe tải lùi về sau, phần thành thùng phía sau của xe đè, ép vào bụng của chị Nguyễn Thị T2, là công nhân thu gom rác đứng phía sau đuôi xe vào tường của nhà kho, khiến chị T2 bị thương phải đi cấp cứu ở Bệnh viện B3. Đến ngày 25/8/2025, chị T2 tử vong.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger