Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 149/2025/HS-ST

Ngày: 18/12/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

-

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Như Thủy

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Huỳnh Công Nhân;
  2. Ông Nguyễn Đình Rành.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Chính Việt Phương - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 6, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Vương - Kiểm sát viên.

Trong ngày 18 tháng 12 năm 2025 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân khu vực 6 xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 138/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 180/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 83/2025/HSST-QĐ ngày 24/11/2025 đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Trần Đ, giới tính: Nam; sinh năm 1996; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: 9 đường số F, Khu phố A, phường L, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (Nay là phường L, Thành phố Hồ Chí Minh); Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Âm thanh kỹ thuật; Trình độ học vấn: 12/12; cha là Trần Hoàng P, sinh năm không rõ; mẹ là Phạm Ngọc T, sinh năm 1969; anh chị em: không; vợ, con: không.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 18/6/2025 đến nay bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Công ty TNHH J,

Trụ sở: Số H, Khu dân cư H, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh;

Người đại diện theo pháp luật: Ông Jian Yu H; Chức vụ: Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Bích N, sinh năm 1999;

Địa chỉ: P, P, T, Đồng Nai (Nay là xã P, tỉnh Đồng Nai); Địa chỉ liên lạc: Số A đường số A, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (Nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) – vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Phan Minh C, sinh năm 1985 (vắng mặt)
  2. Địa chỉ: TDP G, thị trấn Đ, L, Lâm Đồng (Nay là Xã Đ, tỉnh Lâm Đồng); Địa chỉ cư trú: 9 T, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (N là Phường T, Thành phố Hồ Chí Minh).

  3. Bà Phạm Thị Ngọc K, sinh năm 1984 – Là chủ hộ kinh doanh Máy ảnh S;
  4. Địa chỉ: Số I T, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (N là Phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) – vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ tháng 8 năm 2024, Trần Đ làm việc tại Công ty TNHH J, địa chỉ H đường D Khu dân cư H, phường T, Quận G, Tp.Hồ Chí Minh. Khoảng 17 giờ 30 ngày 18/10/2024, công ty T3 làm, Đ đi kiểm tra điện, đèn các phòng trong công ty đã tắt chưa, kiểm tra phòng số 4 lầu 3 là phòng thiết bị của công ty, Đ thấy cửa không khóa. Do đang cần tiền, Đ nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản trong phòng thiết bị bán lấy tiền tiêu xài. Đ lén lút lấy 01 máy chụp hình Sony A7C, 01 Lens máy ảnh hiệu Sony 24-70, 02 gậy chụp ảnh hiệu DJI Osmo Pocket 3 bỏ vào balo của mình. Đại bán 01 máy chụp hình Sony A7C, 01 Lens máy ảnh hiệu Sony 24-70, 01 gậy chụp ảnh hiệu DJI Osmo Pocket 3 tại địa chỉ 9 T, Phường A, quận G cho anh Phan Minh C với giá 35.000.000đ và giữ lại 01 gậy chụp ảnh hiệu DJI Osmo Pocket 3 để sử dụng. Phát hiện tài sản bị mất trộm, ngày 25/10/2024, đại diện được ủy quyền của công ty TNHH J là chị Nguyễn Thị Bích N đến Công an phường T trình báo vụ việc. Ngày 19/11/2024, Đ mua lại tài sản từ anh C với giá 45.000.000đ rồi mang hoàn lại đầy đủ tài sản cho Công ty TNHH J, thỏa thuận nhờ công ty rút đơn trình báo. Qua xác minh làm rõ, Cơ quan Cảnh sát điều tra khởi tố xử lý đối với Đ. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Trần Đ khai nhận hành vi chiếm đoạt tài sản của Công ty TNHH J.

Vụ án không thu giữ được vật chứng.

Tại kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 476/KL-HĐĐGTS ngày 25/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân Quận G (Bút lục số 46), kết luận:

  • + 01 (một) máy chụp hình hiệu Sony A7C, đã qua sử dụng có giá trị: 32.500.000₫;
  • + 01 (một) Lens máy ảnh hiệu Sony 24-70, đã qua sử dụng có giá trị: 19.260.000₫;
  • + 02 (hai) máy quay cầm tay hiệu DJI Osmo Pocket 3, đã qua sử dụng có giá trị: 17.990.000₫.

Về dân sự: Đ đã hoàn trả lại các tài sản bị mất cho công ty nên đại diện được ủy quyền của Công ty TNHH J là chị Nguyễn Thị Bích N không yêu cầu gì thêm. (Bút lục 90-91).

Tại bản cáo trạng số: 06/CT-VKSKV6 ngày 08/7/2025 Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 đã truy tố bị cáo Trần Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại tại khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Đại T1 phiên toà hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, và phù hợp với vật chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án. đủ cơ sở khẳng định: Bị cáo Trần Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Trong quá trình điều tra, bị cáo đã tự nguyện khắc phục, bồi thường thiệt hại cho công ty; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị hại công ty có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo: Trần Đại hình phạt tù từ 02 (hai) năm đến 03 (ba) năm tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách là 04 (bốn) năm đến 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án là ngày 18/12/2025.

Hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội trộm cắp, việc khai nhận hành vi trộm cắp của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã được tóm tắt như trên, không tự bào chữa, không tranh luận và đã thể hiện sự ăn năn hối cải, xin được giảm nhẹ hình phạt để về chăm sóc mẹ và gia đình.

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Tòa án nhân dân khu vực 6, Thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành trả hồ sơ để điều tra bổ sung:

Ngày 23/9/2025, Tòa án nhân dân Khu vực 6, Thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành trả hồ sơ điều tra bổ sung cho Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6, Thành phố Hồ Chí Minh để xác định lại tội danh truy tố đúng với hành vi phạm tội của bị cáo Trần Đại .

Ngày 17/10/2025 Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6, Thành phố Hồ Chí Minh có công văn số 11/VKSKV6-HS và giữ nguyên quan điểm truy tố theo cáo trạng số 06/CT –VKSKV6 ngày 8/7/2025, chuyển trả lại hồ sơ để Tòa án xét xử. Nên, Tòa án nhân dân khu vực 6, Thành phố Hồ Chí Minh, tiến hành xét xử bị cáo Trần Đại đối V hành vi phạm tội về “Trộm cắp tài sản” theo khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 theo như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 6 đã truy tố.

Vì vậy, về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành Phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, bị cáo đều trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo Trần Đại T1 phiên tòa kết hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ: Khoảng 17 giờ 30 ngày 18/10/2024, công ty T3 làm, Đ đi kiểm tra điện, đèn các phòng trong công ty đã tắt chưa, kiểm tra phòng số 4 lầu 3 là phòng thiết bị của công ty, Đ thấy cửa không khóa. Do đang cần tiền, Đ nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản trong phòng thiết bị bán lấy tiền tiêu xài. Đ lén lút lấy 01 máy chụp hình Sony A7C, 01 Lens máy ảnh hiệu Sony 24-70, 02 gậy chụp ảnh hiệu DJI Osmo Pocket 3 bỏ vào balo của mình. Đại bán 01 máy chụp hình Sony A7C, 01 Lens máy ảnh hiệu Sony 24-70, 01 gậy chụp ảnh hiệu DJI Osmo Pocket 3 tại địa chỉ 9 T, Phường A, quận G cho anh Phan Minh C với giá 35.000.000đ và giữ lại 01 gậy chụp ảnh hiệu DJI Osmo Pocket 3 để sử dụng. Phát hiện tài sản bị mất trộm, ngày 25/10/2024, đại diện được ủy quyền của công ty TNHH J là chị Nguyễn Thị Bích N đến Công an phường T trình báo vụ việc. Ngày 19/11/2024, Đ mua lại tài sản từ anh C với giá 45.000.000đ rồi mang hoàn lại đầy đủ tài sản cho Công ty TNHH J, nhờ công ty rút đơn trình báo.

Căn cứ kết luận định giá tài sản số 476/KL-HĐĐGTS ngày 25/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự-Ủy ban nhân dân Quận G kết luận: 01 máy chụp hình hiệu Sony A7C, đã qua sử dụng có giá trị: 32.500.000 đồng; 01 Lens máy ảnh hiệu Sony 24-70, đã qua sử dụng có giá trị: 19.260.000 đồng; 02 máy quay cầm tay hiệu DJI Osmo Pocket 3, đã qua sử dụng có giá trị: 17.990.000 đồng. Tổng trị giá tài sản: 69.750.000 đồng. Xét thấy có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Trần Đ phạm tội Trộm cắp tài sản, theo quy định tại khoản 2 Điều

173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, như vậy Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 6 đã truy tố là có căn cứ, đúng người đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo Trần Đại D tham lam tư lợi, xâm phạm đến tài sản sở hữu hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, xâm phạm trật tự quản lý nhà nước, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự xã hội của địa phương, vì vậy cần xử lý bằng mức án nghiêm khắc, để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.

[3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Trần Đ đã khắc phục, sửa chữa lỗi của mình, bị cáo đã mua lại tài sản do mình lấy trộm mang đi bán cho anh Phan Minh C để hoàn trả lại cho công ty. Ngoài ra, công ty cũng có đơn bãi nại cho bị cáo và xác định đã trả lại đầy dủ tài sản bị trộm. Trong quá trình điều tra, bị cáo Trần Đại thành K1 khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, hoàn cảnh gia đình khó khăn, hiện là lao động chính trong gia đình, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Mặt khác bị cáo Trần Đ đã bị tạm giam một thời gian từ tháng 6/2025 cho đến nay, cũng đủ sức răn đe giáo dục bị cáo, nên nghĩ không cần bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù, mà cho các bị cáo hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách cũng đảm bảo việc giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Xét cần thiết áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Trần Đại Đ1 đảm bảo cho việc thi hành án.

Về các tình tiết tăng nặng đối với bị cáo Trần Đ không có.

Về hình phạt bổ sung: Xét hoàn cảnh bị cáo hiện là lao động chính, hoàn cảnh gia đình khó khăn, nên Hội đồng xét xử không buộc bị cáo phải chịu hình phạt bổ sung.

[4] Đối với anh Phan Minh C, là chồng của chị Phạm Thị Ngọc K(chủ tiệm máy ảnh S T, Phường A, quận G, Tp. Hồ Chí Minh), là người mua tài sản do Trần Đ trộm cắp mang bán, Anh Phan Minh C không biết những tài sản Trần Đại B có nguồn gốc do trộm cắp, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an Thành phố H không xử lý về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là có căn cứ.

[5] Xử lý vật chứng: Không thu giữ vật chứng

[6] Về dân sự: Bị cáo Trần Đđã hoàn trả lại toàn bộ tài sản bị mất cho công ty, nên đại diện ủy quyền của Công ty là chị Nguyễn Thị Bích N không yêu cầu gì thêm.

[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1].Tuyên bố: Bị cáo Trần Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

[1.1]. Căn cứ điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

Xử phạt: Bị cáo Trần Đại 0 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách 04 (bốn) năm, kể từ ngày tuyên án 18/12/2025.

Giao bị cáo Trần Đ cho Ủy ban nhân dân phường L, Thành phố Hồ Chí Minh để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Bị cáo phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, bị cáo Trần Đại cố Ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Trường hợp bị cáo Trần Đại thay Đ2 nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 91 Luật Thi hành án hình sự.

Áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Trần Đ tại địa chỉ nhà số 1 đường số F, Khu phố A, phường L, Tp., Thành phố Hồ Chí Minh (Nay là 9 đường số F, khu phố A, phường L, Thành phố Hồ Chí Minh) cho đến khi có Quyết định Thi hành án theo quy định của pháp luật.

[2]. Về dân sự: Bị cáo Trần Đ đã hoàn trả lại các tài sản bị mất cho công ty, nên Công ty TNHH J không yêu cầu gì thêm.

[3]. Về án phí : Căn cứ vào các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Bị cáo Trần Đ phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.

[4]. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự ; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

(Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo Trần Đ).

[5]. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trương Như T2

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 149/2025/HS-ST ngày 18/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 149/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 2 năm tù treo, thời hạn thử thách 4 năm, trả tự do tại phiên tòa do được hưởng án treo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger