Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 1- THÁI NGUYÊN

Bản án số: 148/2025/HSST

Ngày 09/12/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tứ Xuân

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lê Thị Mai Hanh

2. Ông Nguyễn Khắc Thái Sơn

Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Ngọc Huyền, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1-Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Lương Đức, Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 12 năm 2025, tại Hội trường Tòa án nhân dân khu vực 1- Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 126/TLST-HS, ngày 12 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 154/2025/QĐXXST- HS ngày 25 tháng 11 năm 2025, đối với bị cáo:

Nguyễn Trung D, tên gọi khác: Không. Sinh ngày 06/11/1984. ĐKHKTT: tổ dân phố Đ, phường Q, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Khánh H, đã chết và bà Lê Minh H1; V là Nguyễn Thị H2, đã ly hôn; Có 01 con; Tiền sự: Không. Tiền án; Tiền sự: Không.

Nhân thân 02: Tại bản án số 283/2018/HSST ngày 27/7/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1- Thái Nguyên) xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/4/2020, nộp án phí ngày 23/10/2018. Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0001397/QĐ-XPHC ngày 24/10/2025 của Công an phường P, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”

Hiện bị cáo bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (bị bắt tạm giam từ ngày 30/8/2025). Có mặt tại phiên tòa.

  • * Bị hại: Ông Đoàn Tất T, sinh năm 1960, có đơn xin vắng mặt
  • Trú tại: xóm Đ, xã P, tỉnh Thái Nguyên.
  • * Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn S, sinh năm: 1964. ĐKHKTT: Tổ dân phố Đ, phường Q, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt.
  • * Người làm chứng:
  • 1. Chị Nguyễn Hồng N, sinh năm 2002, có đơn xin vắng mặt.
  • Trú tại: Tổ E, phường P, tỉnh Thái Nguyên.
  • 2. Anh Nguyễn Hoàng Quốc B, sinh năm 2002, có đơn xin vắng mặt.
  • Trú tại: Tổ I, phường P, tỉnh Thái Nguyên.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Trung D là đối tượng nghiện chất ma túy, không có nghề nghiệp ổn định. Để có tiền tiêu xài cá nhân, D đã nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản bằng cách dùng thủ đoạn gian dối giả nhân là người quen biết của những người nhà bệnh nhân ở khu vực cổng Bệnh viện Đ để tạo lòng tin, vay mượn tiền rồi chiếm đoạt. Khoảng 12 giờ ngày 18/8/2025, D điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 20B2-440.02 (D khai xe do bị cáo mua nhưng chưa đi đăng ký, biển số do bị cáo nhặt được lắp vào xe) đi đến khu vực cổng khoa Ung Bướu, Bệnh viện Đ nhằm mục đích lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Quan sát thấy ông Đoàn Tất T đang đi bộ trên khu vực vỉa hè đường Lương Ngọc Q mua cơm cho vợ là bà Mai Thị C đang điều trị tại bệnh viện Đ. D điều khiển xe đi đến gần tự nhận là bạn của con trai ông T và đang muốn đến thăm vợ ông T nằm viện. Ông T tin là thật và không nghi ngờ gì, để lừa ông T đưa tiền, D đưa ra thông tin nhờ ông T đi cùng để bê hộ một số đồ cho D. Ông T tin là thật đã đồng ý ngồi sau xe do D điều khiển đi vào phố Đ đến đoạn phía trước cửa Công ty TNHH V1, thuộc tổ dân phố D, phường P cách cổng bệnh viện khoảng 400 mét thì dừng xe. Tại đây, D lấy lý do vay mượn tiền ông T để D trả tiền cước xe (thực tế D không đi lấy đồ gì và không phải trả tiền cước xe), ông T tin là thật nên đã lấy số tiền 12.500.000đ trong ví đưa cho D và đứng chờ. Sau khi nhận tiền, D điều khiển xe rời đi, chiếm đoạt số tiền trên và đã tiêu xài cá nhân hết. Ông T đứng chờ không thấy D quay lại thì phát hiện là bị lừa đảo nên ra về, đến ngày 28/8/2025, ông T đến Công an phường P, tỉnh Thái Nguyên trình báo sự việc. Quá trình xác minh đã làm rõ Nguyễn Trung D là người đã thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền của ông T như đã nêu trên, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đã bắt tạm giam đối với D, tạm giữ 01 mũ bảo hiểm màu xám, có hoa văn màu xanh và trắng, nhãn hiệu ANDES HELMETS R; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, màu đen, gắn biển kiểm soát 20B2 – 44002 là trang phục và phương tiện D sử dụng ngày 18/8/2025 khi lừa đảo chiếm đoạt tiền của ông T.

Vật chứng của vụ án gồm: 01 mũ bảo hiểm màu xám, có hoa văn màu xanh và trắng, nhãn hiệu ANDES HELMETS R, loại mũ trùm kín cằm, có dây quay bằng vải màu đen; 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, màu đen, số khung: RLHJA3920PY707554; số máy: JA39E3026381, gắn biển kiểm soát 20B2 – 44002, đã qua sử dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Chú ruột của bị cáo là ông Nguyễn Văn S đã bồi thường thiệt hại cho ông T số tiền 12.500.000 đồng, ông T không có yêu cầu đề nghị gì khác và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho D.

Tại bản cáo trạng số 41/ CT-VKSKV1 ngày 12/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Nguyễn Trung D về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Tại phiên tòa:

  • - Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng mô tả, thừa nhận việc truy tố là đúng người, đúng tội, không có oan, sai.
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (ông S): Không yêu cầu bị cáo trả lại khoản tiền ông đã bồi thường cho ông T thay bị cáo.
  • - Sau khi kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Thái Nguyên trình bày bản luận tội giữ nguyên quan điểm như nội dung bản cáo trạng đã truy tố đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  • + Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS, xử phạt Nguyễn Trung D từ 15 tháng đến 18 tháng tù. Không phạt bổ sung đối với bị cáo.
  • + Vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS, tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, màu đen, số khung: RLHJA3920PY707554; số máy: JA39E3026381; Tịch thu tiêu hủy 01 mũ bảo hiểm màu xám, có hoa văn màu xanh và trắng, nhãn hiệu ANDES HELMETS R. Án phí: Bị cáo phải nộp án phí HSST theo quy định.
  • - Trong phần tranh luận bị cáo và ông S không tranh luận. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin HĐXX xét xem cho hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về gia đình có cơ hội sửa đổi bản thân.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên Hội đồng xét xử không đặt ra việc giải quyết.

[2] Xét lời khai nhận của bị cáo là khách quan phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, phù hợp với kết luận định giá tài sản và những chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Qua đó đã có đủ cơ sở để xác định: Vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 18/8/2025 tại khu vực tổ D phường P, tỉnh Thái Nguyên, Nguyễn Trung D đã có hành vi dùng thủ đoạn gian dối đưa ra thông tin giả là bạn của con trai ông Đặng Tất T1 để vay của ông T1 số tiền 12.500.000 đồng rồi chiếm đoạt, tiêu xài cá nhân hết.

Như vậy, đã có đủ căn cứ xác định bị cáo Nguyễn Trung D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 BLHS như bản cáo trạng truy tố là đúng pháp luật. Nội dung điều luật như sau:

"1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 5.000.000 đồng..., thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

[3]. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hành vi phạm tội của bị cáo là ít nghiêm trọng, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bản thân bị cáo nhận thức được hành vi lừa dối nhằm chiếm đoạt tài sản là vi phạm pháp luật nhưng xuất phát từ động cơ tư lợi cá nhân nên đã cố ý phạm tội.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử thấy, bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, chưa có tiền án, tiền sự nhưng có nhân thân xấu, đã từng bị xét xử về tội tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng không lấy đó làm gương mà vẫn tiếp tục phạm tội, điều này thể hiện việc coi thường pháp luật của bị cáo. Vì vậy, cần có mức án nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại khoản 1 Điều 52 BLHS. Mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp.

[4] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không còn tài sản gì nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại (ông T1) và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (ông S) không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

[6] Về vật chứng: Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, số khung: RLHJA3920PY707554; số máy: JA39E3026381, gắn biển kiểm soát 20B2 – 44002 (biển thực là 20AK-019.71) bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ. Đối với 01 mũ bảo hiểm màu xám, nhãn hiệu ANDES HELMETS R bị cáo không yêu cầu trả lại nên tịch thu tiêu hủy.

[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí HSST theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 174; Điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Trung D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”

1. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung D 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/8/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Áp dụng Điều 329 BLTTHS tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án

2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS

  • - Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, số loại WAVE, biển kiểm soát 20AK-019.71; màu sơn đen; số khung: RLHJA 3920PY707554; số máy: JA39E3026381; xe đã qua sử dụng, đã cũ. Loại xe 02 bánh từ 50-175cm³. Dung tích xi lanh 109,2cm³. Xe hoàn chỉnh, tổng thành máy, khung cùng thông số kỹ thuật.
  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 mũ bảo hiểm mầu xám có hoa văn mầu xanh trắng, nhãn hiệu ANDES HELMETS (R) loại mũ trùm kín cằm có dây quai bằng vải mầu đen đã qua sử dụng

(Tình trạng vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng số 15 ngày 05/11/2025 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T và Phòng thi hành án dân sự khu vực 1- Thái Nguyên).

3. Án phí: Căn cứ vào Điều 136 BLTTHS; Luật Phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí HSST vào ngân sách Nhà nước.

4. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại (ông T1) vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

- TAND tỉnh TN;

- VKSND tỉnh TN;

- VKSND TPTN;

- Sở Tư pháp tỉnh TN;

- Công an TPTN;

- THADS TPTN;

- Bị cáo, BH; NLQ;

- Lưu hồ sơ;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa





Nguyễn Thị Tứ Xuân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 148/2025/HSST ngày 09/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1- Thái Nguyên về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 148/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 1- Thái Nguyên
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Trung D phạm tọi " Lừa đảo chiếm đoạt tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger