Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 148/2025/HS-PT

Ngày: 27/11/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Hải

Các Thẩm phán: Ông Lê Thành Trung

Bà Bùi Thị Bích Liễu

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Anh Quốc – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Trang – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 158/2025/TLPT-HS ngày 16 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Văn T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2025/HS-ST ngày 29 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Khánh Hòa. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 148/QĐXXPT-HS ngày 07/11/2025 và Thông báo hoãn phiên tòa số 71/2025/TB-HSPT ngày 20/11/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.

* Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Văn T, sinh ngày 26 tháng 4 năm 1994 tại N, Khánh Hòa; Nơi cư trú: Thôn N, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa; (Nay là thôn N, phường Đ, tỉnh Khánh Hòa); Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1959 và bà Lý Thị Kim H, sinh năm 1958; Vợ: Huỳnh Mỹ Hòa T2; Có 01 con sinh năm 2018; Tiền án: Không. Tiền sự: Ngày 10/5/2024, bị Công an huyện N, tỉnh Đồng Nai xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 02/QĐ-XPHC ngày 10/5/2024 đã chấp hành xong. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn T và Huỳnh Mỹ Hòa T2 kết hôn năm 2018, có 01 con chung, cuộc sống vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, cãi vả. Khoảng 11 giờ ngày 23 tháng 11 năm 2024, T nhắn tin với T2 nói chuyện về vấn đề hôn nhân thì xảy ra mâu thuẫn, T có những lời lẽ đe dọa đòi giết T2 nhằm mục đích làm T2 sợ để không ly hôn với mình. Thực hiện ý định trên, T điều khiển xe mô tô đến quán tạp hóa của bà Phan Thị T3 thuộc thôn N, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa, mua 500ml xăng được đựng trong chai nhựa hiệu Coca Cola, nắp màu đỏ với giá 12.000 đồng, rồi chạy đến nhà mẹ vợ của mình là bà Nguyễn Thị Minh H1 tại thôn Đ, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa để gặp T2. Do T2 không có ở nhà nên T cất chai xăng trên tủ ở khu vực bếp. Khoảng 14 giờ 40 phút cùng ngày, T2 về nhà, sau đó T, T2, bà H1 và bà ngoại là Đào Thị T4 cùng ngồi nói chuyện thì T đứng dậy, đi đến bàn thờ lấy bật lửa bỏ vào trong túi quần rồi xuống bếp lấy chai xăng, đi đến sát vị trí T2 ngồi, đổ xăng lên đầu mình trước, rồi đổ xăng lên người Thương từ trên đầu xuống làm T2 hoảng sợ, bỏ chạy và trình báo sự việc đến cơ quan Công an.

Tại Kết luận giám định số 7491/KL-KTHS ngày 20 tháng 12 năm 2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Mẫu ký hiệu M1, M2 được niêm phong gửi giám định đều có chứa thành phần xăng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 11/2025/HS-ST ngày 29 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 4 - Khánh Hòa đã căn cứ khoản 1 Điều 133; điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 09 (chín) tháng tù về tội “Đe dọa giết người”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 31/7/2025, bị cáo Nguyễn Văn T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên kháng cáo và đã khai nhận toàn bộ hành vi mà bị cáo đã thực hiện đúng như nội dung vụ án đã được tóm tắt nêu trên.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa phát biểu quan điểm đề nghị giải quyết vụ án: Quá trình tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Đe dọa giết người” theo khoản 1 Điều 133 của Bộ luật hình sự là đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Ngày 31/7/2025, bị cáo Nguyễn Văn T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin hưởng án treo, bị cáo trình bày: bị cáo là lao động chính nuôi cha, mẹ và con nhỏ (sinh năm 2018), bị cáo còn vay nợ để làm tiệm spa cho bị hại, bị cáo đã xin lỗi bị hại và được bị hại làm đơn bãi nại và bị cáo cung cấp Quyết định điều chỉnh mức trợ cấp xã hội theo Quyết định thì ông Nguyễn Văn T1 (cha bị cáo) được xác định thuộc đối tượng “Người khuyết tật nặng là người cao tuổi”; Giấy ra viện ngày 25/11/2025 của bà Lý Thị Kim H (mẹ bị cáo) sau khi phẫu thuật mắt. Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo trình bày mặc dù bản án số 82 ngày 13/6/2025 của Toà án nhân dân thị xã Ninh Hoà (nay là Tòa án nhân dân khu vực 4) tuyên xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Huỳnh Mỹ Hòa T2 được ly hôn với bị cáo và giao 01 con chung cho bà T2 chăm sóc, nuôi dưỡng nhưng sau khi ly hôn, bà H1 đi đâu không rõ, con chung giữa bị cáo và bà T2 được giao cho bà Nguyễn Thị Minh H1 (mẹ bà T2) trực tiếp nuôi dưỡng, bị cáo là người chu cấp tiền cho bà H1 nuôi con. Bà Nguyễn Thị Minh H1 xác nhận lời khai của bị cáo tại phiên toà là đúng sự thật. Xét đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự mà cấp sơ thẩm chưa xem xét áp dụng cho bị cáo do đó, cấp phúc thẩm cần xem xét áp dụng khi quyết định hình phạt cho bị cáo. Xét thấy, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc và trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, được bị hại làm đơn bãi nại, hiện bị cáo là lao động chính nuôi cha khuyết tật nặng và con còn nhỏ đang ăn học do đó, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo cơ hội để sửa đổi bản thân, sống có ích cho gia đình và xã hội. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 BLTTHS năm 2015, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T. Áp dụng khoản 1 Điều 133; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 BLHS, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T. 09 tháng cải tạo không giam giữ.

Bị cáo không tranh luận, bào chữa gì và chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T được thực hiện trong thời hạn luật định, nên được cấp phúc thẩm xem xét.

[2]. Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T:

[2.1].Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn T đã khai nhận hành vi mà bị cáo đã thực hiện đúng như nội dung Bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các chứng cứ, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra thu thập có trong hồ sơ. Do đó, đủ cơ sở để kết luận: Ngày 23 tháng 11 năm 2024, tại thôn Đ, xã N, thị xã N (nay là phường N), tỉnh Khánh Hòa. Nguyễn Văn T có những lời lẽ đe dọa, mua xăng đổ lên người bị cáo và người bà Huỳnh Mỹ Hòa T2 đe dọa giết bà T2 nhằm mục đích làm cho bà T2 sợ để không ly hôn với bị cáo. Hành vi đó của bị cáo Nguyễn Văn T đã có đủ các yếu tố cần thiết cấu thành tội “Đe dọa giết người” quy định tại khoản 1 Điều 133 của Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã đe dọa đến tính mạng, sức khỏe của người khác, gây tâm lý hoang mang, lo sợ cho bị hại và gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Đe dọa giết người” theo quy định tại khoản 1 Điều 133 của Bộ luật Hình là có căn cứ, đúng pháp luật.

[2.2]. Xuất phát từ việc bị cáo không muốn vợ ly hôn bị cáo nên không làm chủ được bản thân bị cáo đã có lời nói, hành động nhằm đe dọa giết bà T2 để bà T2 rút đơn ly hôn tại tòa án. Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình, đã xin lỗi bà Huỳnh Mỹ Hòa T2 và được bà T2 làm đơn xin bãi nại. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo luôn tích cực hợp tác với các cơ quan tiến hành tố tụng nhằm làm sáng tỏ những tình tiết khách quan của vụ án. Sau khi kháng cáo, bị cáo cung cấp các giấy tờ thể hiện bị cáo là lao động chính trong gia đình, cha bị cáo là người bị khuyết tật nặng đang được hưởng trợ cấp hàng tháng, bị hại cũng có đơn xin bãi nại cho bị cáo và hiện nay bị cáo đang phải cấp dưỡng nuôi con nhỏ đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên cần áp dụng bổ sung cho bị cáo. Xét thấy, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi; có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo. Do vậy, cần chấp nhận kháng cáo bị cáo, chuyển từ hình phạt tù sang hình phạt cải tạo không giam giữ.

[3]. Về án phí: bị cáo Nguyễn Văn T không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

[4]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 343; Điều 345; điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 355; điểm đ khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[1] Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T.

[1.1]. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm:

* Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Đe dọa giết người”

- Áp dụng khoản 1 Điều 133; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 36 của Bộ luật Hình sự.

+ Xử phạt: Nguyễn Văn T 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành án kể từ ngày Ủy ban nhân dân phường Đ, tỉnh Khánh Hòa nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án phúc thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Ủy ban nhân dân phường Đ, tỉnh Khánh Hòa nơi bị cáo cư trú để giám sát giáo dục; gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường Đ, tỉnh Khánh Hòa giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 100 Luật thi hành án hình sự năm 2019.

[2] Về án phí: Áp dụng Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Bị cáo Nguyễn Văn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[4] Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 27 tháng 11 năm 2025).

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT I – TANDTC;
  • - VKSND tỉnh Khánh Hòa;
  • - Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Khánh Hòa;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an tỉnh Khánh Hòa (PC10);
  • - Phòng Hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Khánh Hòa (PV06);
  • - TAND Khu vực 4 - Khánh Hòa;
  • - VKSND Khu vực 4 - Khánh Hòa;
  • - Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa;
  • - Bị cáo có kháng cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Văn Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 148/2025/HS-PT ngày 27/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về đe dọa giết người

  • Số bản án: 148/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Đe dọa giết người
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: [1] Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Tâm. [1.1]. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm: * Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Tâm phạm tội “Đe dọa giết người” - Áp dụng khoản 1 Điều 133; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 36 của Bộ luật Hình sự. + Xử phạt: Nguyễn Văn Tâm 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành án kể từ ngày Ủy ban nhân dân phường Đông Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án phúc thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Văn Tâm cho Ủy ban nhân dân phường Đông Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa nơi bị cáo cư trú để giám sát giáo dục; gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường Đông Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 100 Luật thi hành án hình sự năm 2019
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger