TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 13/2025/HSST Ngày 09/12/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Trung Phước.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vương Huy Vượng; Bà Hà Thị Thơm.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Duy Thế - Thư ký viên Toà án nhân dân khu vực 2 - Lai Châu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Lai Châu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị T - Kiểm sát viên.
Ngày 09/12/2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân khu vực 2 - Lai Châu, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự, thụ lý số 25/2025/TLST-HS ngày 21/11/2025, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2025/QĐXXST-HS ngày 27/11/2025 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: HÀ VĂN T; Giới tính: Nam; Sinh ngày 20/9/1993 tại xã M, tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: Bản M, xã M, tỉnh Lai Châu. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Con ông Hà Văn D, sinh năm 1969 và bà Lò Thị M, sinh năm 1970. Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Bị cáo có vợ là Hà Thị N, sinh năm 1996 và 03 người con, con lớn nhất sinh năm 2015, con nhỏ nhất sinh năm 2025; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 05/9/2025, đến ngày 14/9/2025 bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã M, tỉnh Lai Châu cho đến nay (có mặt).
2. Họ và tên: HOÀNG VĂN T; Giới tính: Nam; Sinh ngày 24/6/2002 tại xã M, tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: Bản N, xã M, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Con ông Hoàng Văn P, sinh năm 1977 và bà Hoàng Thị N1, sinh năm 1983; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 05/9/2025 đến ngày 14/9/2025 bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã M, tỉnh Lai Châu cho đến nay (có mặt).
3. Họ và tên: LÒ VĂN K; Giới tính: Nam; Sinh ngày 15/9/1985 tại xã M, tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: Bản N, xã M, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Con ông Lò Văn N2, đã chết và bà Hoàng Thị H, sinh năm 1959; Gia đình bị cáo có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ ba; Bị cáo có vợ là Tòng Thị Q, sinh năm 1985 và 03 người con, con lớn nhất sinh năm 2007, con nhỏ nhất sinh năm 2024; Tiền án: Ngày 28/3/2024 bị Tòa án nhân dân huyện Than Uyên (cũ), tỉnh Lai Châu xử phạt 02 năm Cải tạo không giam giữ về tội Đánh bạc, (khấu trừ, quy đổi 32 ngày tạm giữ, tạm giam, bị cáo còn phải chấp hành 01 năm 08 tháng 24 ngày Cải tạo không giam giữ). Tính đến thời điểm thực hiện hành vi phạm tội (ngày 05/9/2025) bị cáo chưa chấp hành xong hình phạt; Tiền sự: Không. Về nhân thân: Ngày 06/6/2013, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh L ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc về hành vi Trộm cắp tài sản. Ngày 07/5/2015, Lò Văn K chấp hành xong quyết định này, đủ thời gian được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ ngày 05/9/2025, tạm giam từ ngày 14/9/2025 tại Phân trại tạm giam T, thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh L cho đến nay (có mặt).
4. Họ và tên: LƯỜNG VĂN H; Giới tính: Nam; Sinh ngày 08/02/1994 tại xã M, tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: Bản M, xã M, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 6/12; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Con ông Lường Văn C, sinh năm 1972 và bà Trương Thị L, sinh năm 1973; Gia đình bị cáo có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ hai; Bị cáo có vợ là Lò Thị H1, sinh năm 1995 (đã ly hôn) và 01 người con sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 05/9/2025, đến ngày 14/9/2025 bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã M, tỉnh Lai Châu cho đến nay (có mặt).
5. Họ và tên: ĐỖ MẠNH H2; Giới tính: Nam; Sinh ngày 25/5/1988 tại xã T, tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú: Khu H, xã T, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Bị cáo là đảng viên Đ1 (đã bị đình chỉ sinh hoạt đảng theo Quyết định số 102-QĐ/UBKTĐU ngày 25/11/2025 của Ủy ban kiểm tra - Đảng ủy xã T); Con ông Đỗ Ngọc N3, sinh năm 1954 và bà Vũ Thị M1, sinh năm 1955; Gia đình bị cáo có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ tư; Bị cáo có vợ là Đào Thị Hồng T1, sinh năm 1984 và 02 người con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 05/9/2025, đến ngày 14/9/2025 bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã T, tỉnh Lai Châu cho đến nay (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng hơn 18 giờ ngày 05/9/2025, tại quán B1 thuộc bản M, xã M, tỉnh Lai Châu, Hà Văn T, sinh năm 1993, trú tại bản M, xã M; Hoàng Văn T2, sinh năm 2002, trú tại bản Nà Khương, xã M; Lò Văn K, sinh năm 1985, trú tại bản Nà É, xã M và Lường Văn H3, sinh năm 1994, trú tại bản M, xã M rủ nhau về nhà T đánh bạc. Về đến nhà, T lấy bộ bài tú lơ khơ 52 quân có sẵn trước đó và dải chiếu dưới khu vực sàn dưới của nhà T để đánh bạc, 04 người thống nhất đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức chơi “Liêng”, cách thức chơi như sau: trước mỗi ván chơi, những người tham gia chơi sẽ phải góp số tiền 20.000 đồng gọi là “Gà”. Sau khi tất cả người chơi góp tiền thì người cầm cái sẽ chia cho tất cả những người chơi, mỗi người 03 quân bài tú lơ khơ (chia úp lá bài). Sau đó, tất cả người chơi sẽ xem số quân bài được chia to hay nhỏ để quyết định úp bài hoặc tố. Việc quyết định úp bài hoặc tố theo thứ tự người cầm cái trước, rồi đến những người còn lại theo thứ tự vòng tròn từ bên trái hoặc bên phải người cầm cái. Các bị cáo thống nhất số tiền tố không được cao quá 100.000 đồng. Khi không ai “tố” tiếp thì những người chơi không bỏ bài sẽ so bài ai to hơn thì thắng số tiền “gà” và tiền “tố” trong ván bài đó và sẽ là người cầm cái trong ván tiếp theo. Cách thức tính điểm như sau: to nhất là bộ bài “Sáp”, gồm ba lá bài trùng nhau (ví dụ: ba lá bài hai, ba lá bài chín ...); thứ tự to, nhỏ của S được tính từ sáp Hai (nhỏ nhất) đến sáp Á (to nhất). Bài to thứ hai là bộ bài “Liêng”, gồm ba quân bài liền nhau, cao nhất là bộ ba lá: Q - K - Át, bé nhất là bộ ba lá: Át - 2 - 3. Nếu những người chơi trong 01 ván đều có Liêng bằng nhau thì tính theo chất từ cao xuống thấp là: Rô - Cơ - Tép - B. Bài to thứ ba là bộ bài “Đĩ”, gồm ba quân trong đó có hai quân J, hoặc hai quân Q, hoặc hai quân K, quân còn lại là quân không trùng với hai quân trên, nhưng phải là các quân J, Q hoặc K (Ví dụ: hai quân J và một quân Q; hai quân K và một quân J ...); thứ tự của Đ to, Đ nhỏ được tính theo chất là: Rô - Cơ - Tép - B. Dưới Đ là bài tính theo điểm, thứ tự to nhất đến nhỏ nhất từ 9 đến 0; khi cộng các lá bài thì lá Át được tính là 1, các lá J, Q, K tính bằng 0; nếu cộng ba lá bài lại mà tròn 10, 20 thì tính bằng 0, lớn hơn 10, 20 thì chỉ tính hàng đơn vị (ví dụ: tổng ba lá bài bằng 19 thì tính là 9 điểm, 26 thì tính bằng 6 điểm ...). Nếu trong 01 ván bài có nhiều người có số lá bài bằng điểm nhau thì tính theo chất thứ tự từ to đến nhỏ là: Rô - C - Tép - B.
Quá trình đánh bạc, T bỏ ra số tiền 1.000.000 đồng; T2 bỏ ra số tiền 1.500.000 đồng; K bỏ ra số tiền khoảng 1.000.000 đồng (K không nhớ chính xác) và H3 bỏ ra số tiền khoảng hơn 500.000 đồng (Hiếng không nhớ chính xác) để đánh bạc. Trong lúc T, T2, K và H3 đang đánh bạc thì Đỗ Mạnh H2, sinh năm 1988, trú tại khu H, xã T, tỉnh Lai Châu đến nhà T chơi, thấy 04 người trên đang đánh bạc nên H2 xin vào chơi cùng, tất cả đều đồng ý. H2 bỏ ra số tiền 1.200.000 đồng rồi cùng đánh bạc với T, T2, K và H3.
Hồi 19 giờ 40 phút cùng ngày, khi T, T2, K, H3 và H2 đang đánh bạc thì bị tổ công tác Công an xã M, tỉnh Lai Châu phát hiện bắt quả tang. Thu giữ trên chiếu bạc số tiền 5.234.000 đồng, 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân; thu giữ bên trong túi quần đằng sau đang mặc của Hoàng Văn T2 số tiền 5.000.000 đồng.
Kết luận giám định số 812/KL-KTHS ngày 03/10/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh L, kết luận: “Số tiền 5.234.000đ (năm triệu hai trăm ba mươi tư nghìn đồng) tiền Việt Nam gửi giám định là tiền thật”.
Vật chứng: Thu giữ trên chiếu bạc số tiền 5.234.000 đồng và 01 bộ bài tú lơ khơ đã qua sử dụng, gồm 52 quân bài mà Hà Văn T, Hoàng Văn T2, Lò Văn K, Lường Văn H3, Đỗ Mạnh H2 dùng để đánh bạc trái phép. Hiện các vật chứng trên đang được bảo quản theo quy định.
Thu giữ của Hoàng Văn T2 số tiền 5.000.000 đồng. Quá trình điều tra xác định T2 không dùng số tiền đó vào việc đánh bạc, vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L đã trả lại số tiền này.
Cáo trạng số 25/CT-VKS-KV2 ngày 21/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Lai Châu, truy tố các bị cáo Hà Văn T, Hoàng Văn T2, Lò Văn K, Lường Văn H3, Đỗ Mạnh H2 về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321/Bộ luật hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án về thời gian và địa điểm các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Lai Châu, trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Hà Văn T, Lò Văn K, Hoàng Văn T2, Lường Văn H3, Đỗ Mạnh H2 phạm tội “Đánh bạc”.
Về hình phạt: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 36, Điều 17, Điều 58/Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Hà Văn T, Hoàng Văn T2, Lường Văn H3, xử phạt bị cáo Hà Văn T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng Cải tạo không giam giữ; Xử phạt các bị cáo Hoàng Văn T2, Lường Văn H3 mỗi bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm Cải tạo không giam giữ.
Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đỗ Mạnh H2, xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm Cải tạo không giam giữ.
Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 17, Điều 58/Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lò Văn K, xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 01 năm tù; Áp dụng Điều 56/Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt 142 ngày Cải tạo không giam giữ (quy đổi thành 01 tháng 17 ngày tù) bị cáo Lò Văn K chưa thi hành tại Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2024/HSST ngày 28/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Than Uyên (cũ), tỉnh Lai Châu.
Miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho các bị cáo; Buộc bị cáo Hà Văn T, Hoàng Văn T2, Lường Văn H3, Đỗ Mạnh H2 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn K.
Về vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47/Bộ luật hình sự; điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106/Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 5.234.000 đồng các bị cáo dùng đánh bạc; Tịch thu 01 bộ bài tú lơ khơ đã qua sử dụng, gồm 52 quân bài để tiêu hủy.
Lời nói sau cùng, các bị cáo đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện những chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của Kiểm sát viên, của các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Lai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Điều tra viên, Kiểm sát viên và những người tiến hành tố tụng khác đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đối với vụ án theo quy định tại các Điều 17, Điều 19, Điều 20, Điều 34, Điều 36, Điều 37, Điều 41, Điều 42/Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
[2]. Về hành vi phạm tội và cấu thành tội phạm: Hồi 19 giờ 40 phút ngày 05/9/2025, tại nhà ở của Hà Văn T thuộc bản M, xã M, tỉnh Lai Châu, Hà Văn T, Hoàng Văn T2, Lò Văn K, Lường Văn H3, Đỗ Mạnh H2 đang thực hiện hành vi đánh bạc trái phép, được thua bằng tiền, dưới hình thức chơi “Liêng” thì bị Công an xã M, tỉnh Lai Châu phát hiện, bắt quả tang. Vật chứng thu giữ tại chiếu bạc gồm số tiền dùng để đánh bạc là 5.234.000 đồng, 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân. Hành vi các bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321/Bộ luật hình sự.
[3]. Về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm vào trật tự quản lý hành chính Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Các bị cáo đều là những người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi Đánh bạc là bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý.
[4]. Về mục đích phạm tội của các bị cáo: Các bị cáo Hà Văn T, Lò Văn K, Hoàng Văn T2, Lường Văn H3, Đỗ Mạnh H2 thực hiện hành vi đánh bạc nhằm thu lợi bất chính.
[5]. Về nhân thân các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hà Văn T, Lò Văn K, Hoàng Văn T2, Lường Văn H3, Đỗ Mạnh H2 đều được sinh ra trong những gia đình lao động, mặc dù có tuổi đời còn trẻ nhưng không chịu khó tu dưỡng, làm ăn chân chính chỉ vì ham chơi, mê sát phạt các bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật để thực hiện hành vi phạm tội. Đối với bị cáo Lò Văn K đã từng bị kết án về tội Đánh bạc, chưa thi hành xong hình phạt Cải tạo không giam giữ, không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc, điều này thể hiện thái độ coi thường pháp luật của bị cáo. Bị cáo Đỗ Mạnh H2 là Đảng viên Đ1 nhưng không những không có lối sống chuẩn mực, nêu cao ý thức tuân thủ pháp luật để làm gương cho quần chúng nhân dân mà lại thực hiện hành vi đánh bạc. Như vậy nội dung Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Lai Châu truy tố hành vi phạm tội và đề xuất mức hình phạt đối với từng bị cáo là có căn cứ chấp nhận. Cần có những mức án tương xứng với hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện.
Tuy nhiên quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, các bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, các bị cáo Hà Văn T, Hoàng Văn T2, Lường Văn H3, Đỗ Mạnh H2 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Các bị cáo Hà Văn T, Lò Văn K, Hoàng Văn T2, Lường Văn H3 đều là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại địa phương có điều kiện kinh tế, xã hội khó khăn, bị cáo Đỗ Mạnh H2 có cha đẻ tên là Đỗ Ngọc N3 tham gia Dân công hỏa tuyến và được hưởng chế độ theo quy định. Vì vậy Hội đồng xét xử cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51/Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Lò Văn K thực hiện hành vi phạm tội trong thời gian chưa được xóa án tích, thuộc trường hợp “Tái phạm” nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52/Bộ luật hình sự.
Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, tuy nhiên bị cáo Hà Văn T là người chủ động rủ rê các bị cáo khác, nên trách nhiệm hình sự bị cáo phải chịu là cao hơn các bị cáo còn lại. Các bị cáo Hoàng Văn T2, Lò Văn K, Lường Văn H3, Đỗ Mạnh H2 cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội, tính chất nguy hiểm cho xã hội mà hành vi phạm tội các bị cáo gây ra là ngang nhau, nên trách nhiệm hình sự, hình phạt các bị cáo phải chịu là tương đương nhau.
Các bị cáo Hà Văn T, Hoàng Văn T2, Lường Văn H3, Đỗ Mạnh H2 đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, mà tạo điều kiện để các bị cáo cải tạo tại địa phương cũng đủ để răn đe, giáo dục các bị cáo cũng như phòng ngừa vi phạm pháp luật.
Đối với bị cáo Lò Văn K bị cáo thực hiện hành vi phạm tội khi chưa thi hành xong hình phạt Cải tạo không giam giữ, xét thấy việc áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo là cần thiết, số ngày Cải tạo không giam giữ bị cáo chưa thi hành của Bản án trước cần quy đổi thành hình phạt tù có thời hạn để tổng hợp hình phạt đối với bị cáo với lần phạm tội này.
[6]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo nghề nghiệp chính là lao động tự do, điều kiện kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[7]. Về khấu trừ thu nhập: Khi áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ, có thể bị xem xét khấu trừ một phần thu nhập, tuy nhiên các bị cáo có thu nhập không ổn định nên không khấu trừ thu nhập của các bị cáo theo khoản 3 Điều 36/Bộ luật hình sự.
[8]. Về vật chứng: Đối với số tiền 5.000.000 đồng thu giữ của Hoàng Văn T2, quá trình điều tra xác định T2 không dùng số tiền đó vào việc đánh bạc, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L đã trả lại số tiền này cho Hoàng Văn T2 là có căn cứ. Đối với số tiền 5.234.000 đồng các bị cáo đánh bạc cần tịch thu để sung vào ngân sách Nhà nước; 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân đã qua sử dụng xét thấy không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu để tiêu hủy.
[9]. Về án phí: Các bị cáo Hà Văn T, Hoàng Văn T2, Lường Văn H3, Đỗ Mạnh H2 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Bị cáo Lò Văn K là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại địa phương có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa có đề nghị được miễn án phí nên sẽ được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
[10]. Về biện pháp ngăn chặn: Cần tiếp tục áp dụng biện pháp Tạm giam đối với Lò Văn K; tiếp tục áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với các bị cáo Hà Văn T, Hoàng Văn T2, Lường Văn H3, Đỗ Mạnh H2 để đảm bảo việc thi hành án.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36, Điều 17, Điều 58/Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Hà Văn T, Hoàng Văn T2, Lường Văn H3, Đỗ Mạnh H2; Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 56, Điều 17, Điều 58/Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lò Văn K; Điểm a khoản 1 Điều 47/Bộ luật hình sự; Điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333/Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 1 Điều 23/Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Hà Văn T, Lò Văn K, Hoàng Văn T2, Lường Văn H3, Đỗ Mạnh H2 phạm tội “Đánh bạc”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lò Văn K 09 (chín) tháng tù, tổng hợp hình phạt 142 (một trăm bốn mươi hai) ngày Cải tạo không giam giữ, quy đổi thành 01 (một) tháng 17 (mười bảy) ngày tù tại Bản án hình sự sơ thẩm số 54/2024/HS-ST ngày 28/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Than Uyên (cũ), tỉnh Lai Châu. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 10 (mười) tháng 17 (mười bảy) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/9/2025.
Xử phạt bị cáo Hà Văn T 02 (hai) năm Cải tạo không giam giữ, bị cáo được trừ 09 (chín) ngày tạm giữ, tương đương 27 (hai mươi bảy) ngày Cải tạo không giam giữ. Buộc bị cáo phải thi hành hình phạt còn lại là 01 (một) năm 11 (mười một) tháng 03 (ba) ngày Cải tạo không giam giữ.
Xử phạt các bị cáo Hoàng Văn T2, Đỗ Mạnh H2, Lường Văn H3 mỗi bị cáo 01 (một) năm 06 (sáu) tháng Cải tạo không giam giữ, mỗi bị cáo được trừ 09 (chín) ngày tạm giữ, tương đương 27 (hai mươi bảy) ngày Cải tạo không giam giữ. Buộc mỗi bị cáo phải thi hành hình phạt còn lại là 01 (một) năm 05 (năm) tháng 03 (ba) ngày Cải tạo không giam giữ.
Thời hạn chấp hành hình phạt Cải tạo không giam giữ của các bị cáo tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an tỉnh L nhận được Quyết định thi hành án. Người bị kết án phải thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 99, 100, 101 của Luật Thi hành án hình sự.
Giao các bị cáo Hà Văn T, Hoàng Văn T2, Lường Văn H3 cho Ủy ban nhân dân xã M, tỉnh Lai Châu giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt. Giao bị cáo Đỗ Mạnh H2 cho Ủy ban nhân dân xã T, tỉnh Lai Châu giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.
Không khấu trừ thu nhập của các bị cáo.
- Về vật chứng: Tịch thu số tiền 5.234.000đ (năm triệu hai trăm ba mươi tư nghìn đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước; Tịch thu 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân đã qua sử dụng để tiêu huỷ.
Số vật chứng, đồ vật nêu trên đang được bảo quản, lưu giữ tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 - Lai Châu. Tình trạng, đặc điểm vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 05/12/2025 giữa Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh L và Phòng thi hành án dân sự khu vực 2 - Lai Châu.
- Về án phí: Các bị cáo Hà Văn T, Hoàng Văn T2, Lường Văn H3, Đỗ Mạnh H2, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí HSST. Bị cáo Lò Văn K được miễn án phí HSST.
- Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Đoàn Trung Phước |
Bản án số 13/2025/HSST ngày 09/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - LAI CHÂU về vụ án hình sự về tội đánh bạc
- Số bản án: 13/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hà Văn T cùng đồng bọ phạm tội Đánh bạc theo K1 DD321/BLHS
