Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 10 – ĐÀ NẴNG

Bản án số: 122/2025/HS.ST

Ngày 10/12/2025.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhạn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Quý Vĩnh

Bà Phạm Thị Kim Loan

Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Văn Tuấn, Thẩm tra viên Toà án nhân dân khu vực 10 - Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Đà Nẵng tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Đình Nhật Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 - Đà Nẵng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 53/2025/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 111/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2025, đối với các bị cáo:

1. Đỗ Văn Quốc Đ; Sinh ngày 18 tháng 6 năm 1990, tại: Đà Nẵng.

Nơi cư trú: khối phố T, phường Đ, thành phố Đà Nẵng; Số thẻ CCCD: [...] nơi câp: Cục C về TTXH; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: lao động tự do. Con ông: Đỗ T (sinh năm: 1962, đã chết) và bà Lê Thị H (sinh năm: 1962); Bị cáo là con thứ tư trong gia đình có 06 anh chị em; có vợ Nguyễn Thị Ngọc P (sinh năm: 1993); có 03 người con, con lớn nhất sinh năm 2014, con nhỏ nhất sinh năm 2020

Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 17/7/2009, bị Tòa án nhân dân huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam tuyên 09 tháng phạt tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản” (chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 23/01/2010, đã xóa án tích).

Bị tạm giữ từ ngày 24/4/2025 đến ngày 30/4/2025 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an thành phố Đ. Có mặt.

2. Trần V; Sinh ngày 02 tháng 8 năm 1986, tại: Đà Nẵng.

Nơi cư trú: khối phố T, phường Đ, thành phố Đà Nẵng. Số thẻ CCCD: [...] nơi câp: Cục C về TTXH Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không. Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: lao động tự do; Cha: Trần N (sinh năm: 1956, đã chết) và mẹ: Nguyễn Thị X (sinh năm: 1955).

Bị cáo là con út trong gia đình có 04 anh chị em, chưa có vợ con.

Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân:

  • - Ngày 17/6/2010, bị Tòa án nhân dân huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam tuyên 18 tháng phạt tù về tội “Cố ý gây thương tích cho người khác” (chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 30/8/2011, đã xóa án tích).
  • - Ngày 04/8/2020, bị Công an xã Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”.
  • - Ngày 13/10/2021, bị Công an tỉnh Q xử phạt vi phạm hành chính số tiền 15.000.000 đồng về hành vi “Tàng trữ công cụ hỗ trợ mà không có giấy phép”.
  • - Ngày 09/9/2022, bị Công an thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam xử phạt vi phạm hành chính số tiền 6.500.000 đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích cho người khác".

Bị tạm giữ từ ngày 23/4/2025 đến ngày 30/4/2025 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an thành phố Đ. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm: 1993;
  2. Địa chỉ: khối phố T, phường Đ, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

  3. Ông Lê Văn H2, sinh năm: 1990;
  4. Địa chỉ: khối phố T, phường Đ, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

  5. Bà Nguyễn Thị Ngọc P, sinh năm: 1993;
  6. Địa chỉ: khối phố T, phường Đ, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

- Người chứng kiến: Ông Lương Văn P1, sinh năm: 1968;

Địa chỉ: khối phố T, phường Đ, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 10 phút, ngày 23/4/2025, Trần V sử dụng điện thoại hiệu Nokia 3310 màu đen, bên trong có gắn sim số 0786550854 gọi điện vào số 0905302952 của Đỗ Văn Q Đại liên hệ mua 01 gói ma tuý đá với giá 300.000 đồng. Lúc này, Đ điều khiển xe môtô BKS 92D1-331.67 của Đ mang theo gói ma túy đá đến khu vực nhà V thuộc khối phố T, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam (nay là phường Đ, thành phố Đà Nẵng). Tại đây, V sử dụng tài khoản ngân hàng S, số A được đặng nhập trong điện thoại di động hiệu OPPO F9 Pro, màu đen chuyển số tiền 300.000 đồng mua ma túy đến tài khoản ngân hàng MB, số tài khoản 0905302952 của Đ và Đ đưa gói ma túy đá cho V.

Sau khi mua được ma túy, Trần V mang gói ma túy đá cùng bộ dụng cụ ma túy đá đến nhà anh Lê Văn H2 thì thấy nhà đóng cửa, tắt điện, không có người nên V đến ngồi vào bộ bàn ghế đá trong sân để sử dụng ma túy, V lấy gói ma túy đá đổ vào bầu nỏ thủy tinh gắn trên bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá, dùng bật lửa gas ghi chữ Thống N1, màu đỏ đốt nóng ma túy đá trong bầu nỏ thủy tinh để sử dụng. Trần Vinh H3 được khoảng 05 đến 06 hơi ma túy đá thì Nguyễn Văn H1 đến, H1 ngồi xuống bàn ghế đá và hỏi V cho H1 sử dụng ma túy thì V đồng ý. H1 tự lấy bật lửa của H1 trong túi quần ra đốt bầu nỏ thủy tinh chứa ma túy đá của V để sử dụng, H1 hút được khoảng đến 02 đến 03 hơi ma túy đá. Đến khoảng 21 giờ 50 phút cùng ngày thì Cơ quan Công an tuần tra, phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trần V hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Trần V khai nhận ma túy là V mua của Đỗ Văn Quốc Đ. Tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Đỗ Văn Quốc Đ về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”, mở rộng điều tra xác định: ngoài lần mua bán ma túy cho V nói trên, Đỗ Văn Quốc Đ còn một lần khác bán ma túy đá cho Trần V, cụ thể: Khoảng 12 giờ 45 phút, ngày 23/4/2025, Trần V sử dụng điện thoại hiệu Nokia 3310 màu đen, bên trong có gắn sim số 0786550854 gọi điện vào số 0905302952 của Đỗ Văn Q Đại liên hệ mua 01 gói ma tuý đá với giá 200.000 đồng. Lúc này, Đ điều khiển xe môtô BKS 92D1-331.67 mang theo gói ma túy đá đến khu vực nhà V. Tại đây, V sử dụng tài khoản ngân hàng S, số A được đặng nhập trong điện thoại di động hiệu OPPO F9 Pro, màu đen chuyển số tiền 200.000 đồng mua ma túy đến tài khoản ngân hàng MB, số tài khoản 0905302952 của Đ và Đ đưa gói ma túy đá cho V. Sau khu mua được ma túy thì V sử dụng một mình.

* Kết luận giám định số 217/KL-KTHS ngày 28/4/2025 của Phòng K Công an tỉnh Q xác định:

  • - Chất rắn dạng tinh thể, màu trắng bám dính trong 01 đoạn ống nhựa không màu, một đầu bị cắt hở, kích thước (1,3x1,8) cm gửi giám định (mẫu ký hiệu A1) là ma túy, loại Methamphetamine. Do lượng mẫu bám dính trên vật mang (đoạn ống nhựa) quá ít nên không thể xác định được khối lượng của mẫu vật.
  • - Chất rắn màu nâu bám dính tại phần bầu của 01 dụng cụ bằng thủy tinh dạng ống gấp tạo khuỷu, một phần đầu phình thành bầu (nỏ thủy tinh) gửi giám định (mẫu ký hiệu A2) là ma túy, loại Methamphetamine. Do lượng mẫu bám dính trên vật mang (đoạn ống nhựa) quá ít nên không thể xác định được khối lượng của mẫu vật.

Bản Cáo trạng số 54/CT-VKS ngày 29 tháng 9 năm 2025, của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Đà Nẵng truy tố bị cáo Đỗ Văn Quốc Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Trần V về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Đà Nẵng thực hành quyền công tố Nhà nước luận tội, giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố các bị cáo Đỗ Văn Quốc Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Trần V về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Đỗ Văn Q Đại từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Trần V từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.

* Về xử lý vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tuyên:

  • - Tịch thu tiêu hủy: Mẫu vật sau giám định được hoàn trả trong phong bì niêm phong số 217/KL-KTHS; 01 chai nhựa trong suốt có dung tích 200 ml, nắp chai màu vàng được đục 02 lỗ: 01 lỗ gắn đoạn ống hút màu trắng, dài khoảng 24 cm; 01 bật lửa gas màu đỏ, ghi chữ Thống Nhất; 01 bật lửa gas màu trắng, ghi chữ Hoa Việt; 01 chiếc áo ấm phao, màu đen có dòng chữ “EVERLAST NY”; Các sim điện thoại số: 0769.020.xxx; 0937765686; 0786550854; 0905302952; 0814814332;
  • - Sung công quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu OPPO F9 Pro, màu đen, 01 điện thoại hiệu Nokia 3310, màu đen của Trần V; 01 xe môtô hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen, BKS 92D1-331.67; 01 điện thoại di động hiệu Samsung, màu xanh đen, 01 điện thoại di độnghiệu Nokia TA1203, màu đen của Đỗ Văn Quốc Đ.
  • - Truy thu sung công quỹ nhà nước số tiền bán ma túy của Đỗ Văn Q Đại 500.000 đồng.
  • * Đối với 01 đĩa DVD bên trong là dữ liệu lưu trữ hoạt động hỏi cung ghi hình có âm thanh đối với các bị cáo: lưu cùng hồ sơ vụ án.

Ý kiến của các bị cáo: Các bị cáo thống nhất với nội dung cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đều đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng củaCơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[1.2] Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người chứng kiến vắng mặt, tuy nhiên xét thấy sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự vẫn tiến hành việc xét xử.

[2] Về nội dung: Tại phiên tòa, các bị cáo Đỗ Văn Quốc Đ và Trần V thừa nhận hành vi như sau: Vào khoảng 12 giờ 45 phút và 21 giờ 45 phút ngày 23/4/2025, tại khối phố T, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam (nay là phường Đ, thành phố Đà Nẵng), Đỗ Văn Quốc Đ có hành vi bán 02 lần ma túy, loại Methamphetamine cho Trần V, thu lợi số tiền 500.000 đồng. Bị cáo Trần V, sau khi mua được ma túy từ Đỗ Văn Quốc Đ đến khoảng 21 giờ 50 phút ngày 23/4/2025, V mang ma túy ra sử dụng tại bàn ghế đá trong sân nhà Lê Văn H2 thuộc khối phố T, phường Đ, thị xã Đ, tỉnh Quảng Nam (nay là phường Đ, thành phố Đà Nẵng), sau đó V tổ chức cho Nguyễn Văn H1 cùng sử dụng trái phép chất ma túy thì bị phát hiện bắt quả tang. Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

* Kết luận giám định số 217/KL-KTHS ngày 28/4/2025 của Phòng K Công an tỉnh Q xác định:

  • - Chất rắn dạng tinh thể, màu trắng bám dính trong 01 đoạn ống nhựa không màu, một đầu bị cắt hở, kích thước (1,3x1,8) cm gửi giám định (mẫu ký hiệu A1) là ma túy, loại Methamphetamine. Do lượng mẫu bám dính trên vật mang (đoạn ống nhựa) quá ít nên không thể xác định được khối lượng củamẫu vật.
  • - Chất rắn màu nâu bám dính tại phần bầu của 01 dụng cụ bằng thủy tinh dạng ống gấp tạo khuỷu, một phần đầu phình thành bầu (nỏ thủy tinh) gửi giám định (mẫu ký hiệu A2) là ma túy, loại Methamphetamine. Do lượng mẫu bám dính trên vật mang (đoạn ống nhựa) quá ít nên không thể xác định được khối lượng của mẫu vật.

Như vậy, có đủ căn cứ để khẳng định hành vi nêu trên của Đỗ Văn Quốc Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hành vi của Trần V đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Do đó, cáo trạng số 54/CT - VKS ngày 29/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10- Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Đỗ Văn Quốc Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); bị cáo Trần V phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất vụ án, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra thì thấy: Hành vi phạm tội của các bị cáo không chỉ đã xâm phạm đến chế độ độc quyền của nhà nước về quản lý các chất ma túy mà còn gây tác hại lớn nhiều mặt cho xã hội, ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Các bị cáo có đủ nhận thức để biết được tác hại của ma túy và những quy định cấm đoán của pháp luật đối với mọi hành vi phạm tội về ma túy. Song, để thỏa mãn lợi ích cá nhân các bị cáo đã bất chấp pháp luật đi vào con đường phạm tội. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm các bị cáo theo quy định của pháp luật Hình sự nhằm răn đe, đồng thời giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo thì thấy:

  • - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã khai báo thành khẩn, tỏ rõ sự ăn năn, hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo Đ có người thân là người có công với cách mạng nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử sẽ đánh giá, xem xét khi lượng hình.
  • - Về nhân thân: Các bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo Đỗ Văn Quốc Đ đã bị xét xử về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. bị cáo Trần V đã bị xét xử về tội “Cố ý gây thương tích cho người khác” và đã nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính về các hành vi “Đánh bạc”; “Tàng trữ công cụ hỗ trợ mà không có giấy phép”; “Cố ý gây thương tích cho người khác”.

[5] Về loại hình phạt áp dụng: Hành vi của các bị cáo là cố ý, thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, ảnh hưởng đến an ninh trật tự an toàn xã hội tại địa phương, do đó Hội đồng xét xử áp dụng loại hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo mới đủ sức răn đe giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm.

[6] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với cácbị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa là có căn cứ nên cần chấp nhận.

  • - Tịch thu tiêu hủy: Mẫu vật sau giám định được hoàn trả trong phong bì niêm phong số 217/KL-KTHS; 01 chai nhựa trong suốt có dung tích 200 ml, nắp chai màu vàng được đục 02 lỗ: 01 lỗ gắn đoạn ống hút màu trắng, dài khoảng 24 cm; 01 bật lửa gas màu đỏ, ghi chữ Thống Nhất; 01 bật lửa gas màu trắng, ghi chữ Hoa Việt; 01 chiếc áo ấm phao, màu đen có dòng chữ “EVERLAST NY”; Các sim điện thoại số: 0769.020.xxx; 0937765686; 0786550854; 0905302952; 0814814332; do đây là chất ma túy nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành và công cụ, dung cụ các bị cáo dùng để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật nhưng không còn giá trị sử dụng.
  • - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu OPPO F9 Pro, màu đen, 01 điện thoại hiệu Nokia 3310, màu đen của Trần V; 01 xe môtô hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen, BKS 92D1-331.67 Số máy 5C6J123447 Số khung: RLCS5C6J0FY123403; 01 điện thoại di động hiệu Samsung, màu xanh đen, 01 điện thoại di độnghiệu Nokia TA1203, màu đen của Đỗ Văn Quốc Đ, đây là công cụ, phương tiện các bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội.
  • Truy thu sung công quỹ nhà nước số tiền 500.000 đồng của Đỗ Văn Đ1 Đại là khoản thu lợi bất chính từ việc bán ma túy.
  • * Đối với 01 đĩa DVD bên trong là dữ liệu lưu trữ hoạt động hỏi cung ghi hình có âm thanh đối với các bị cáo: lưu cùng hồ sơ vụ án.

[8] Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu tiền án phí theo quy định pháp luật.

[9] Về các vấn đề khác có liên quan:

  • - Đối với nguồn gốc ma túy Đỗ Văn Quốc Đ bán cho Trần V: Đỗ Văn Quốc Đ tình cờ phát hiện trong túi áo ấm của một người bạn tên Phạm Thành T1 để quên áo tại nhà Đ trước đó có 02 gói ma túy nên Đ nảy sinh ý định bán số ma túy này để kiếm lời. Hiện nay, Phạm Thành T1 đã chết nên không xem xét xử lý là có căn cứ.
  • - Đối với Nguyễn Văn H1: H1 không có sự trao đổi, bàn bạc, góp tiền hoặc chuẩn bị công cụ, phương tiện cùng với Trần V nên không xem xét xử lý Nguyễn Văn H1 về hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với vai trò đồng phạm. Tuy nhiên, Nguyễn Văn H1 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên Cơ quan điều tra chuyển hồ sơ đề nghị Phòng CSĐT tội phạm về ma túy, Công an thành phố Đ xử phạt vi phạm hành chính theo quy định pháp luật.
  • - Đối với việc Trần V tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại bàn ghế đá nhà Lê Văn H2 thì nhà H2 hoàn toàn không biết. Do đó, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về trách nhiệm hình sự:
    1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.
    2. Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn Quốc Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

      Xử phạt bị cáo Đỗ Văn Quốc Đ 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 24/4/2025.

    3. Căn cứ khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.
    4. Tuyên bố bị cáo Trần V phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chấtma túy”.

      Xử phạt bị cáo Trần V 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 23/4/2025.

  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2025. Tuyên:
    1. Tịch thu tiêu hủy:
      • - Mẫu vật sau giám định được hoàn trả trong phong bì niêm phong số 217/KL-KTHS.
      • - 01 chai nhựa trong suốt có dung tích 200 ml, nắp chai màu vàng được đục 02 lỗ: 01 lỗ gắn đoạn ống hút màu trắng, dài khoảng 24 cm; 01 bật lửa gas màu đỏ, ghi chữ Thống Nhất; 01 bật lửa gas màu trắng, ghi chữ Hoa Việt;.
      • - 01 chiếc áo ấm phao, màu đen có dòng chữ “EVERLAST NY”.
      • - Các sim điện thoại số: 0769.020.xxx; 0937765686; 0786550854; 0905302952; 0814814332;
    2. Tịch thu sung công quỹ nhà nước:
      • - 01 điện thoại di động hiệu OPPO F9 Pro màu đen, 01 điện thoại hiệu Nokia 3310 màu đen của Trần V; 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh đen; 01 điện thoại di độnghiệu Nokia TA1203 màu đen và 01 xe môtô hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen, BKS 92D1-331.67; Số máy 5C6J123447 Số khung: RLCS5C6J0FY123403 của Đỗ Văn Quốc Đ.
      • - Truy thu số tiền thu lợi bất chính từ việc mua bán trái phép chất ma túy của Đỗ Văn Quốc Đ là 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) để nộp vào ngân sách Nhà nước.

      (Vật chứng hiện đang được tạm giữ tại Phòng Thi hành án Dân sự khu vực 10 - Đà Nẵng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/11/2025).

  3. Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc các bị cáo Đỗ Văn Quốc Đ; bị cáo Trần V phải chịu 200.000đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (10/12/2025). Những người vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Đà Nẵng;
  • - VKSND khu vực 10 - Đà Nẵng;
  • - Phòng PV06 Công an Tp Đà Nẵng;
  • - Chi cục THADS thành phố Đà Nẵng;
  • - Công an phường Điện Bàn, Tp Đà Nẵng
  • - Thành phần tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hồng Nhạn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 122/2025/HS.ST ngày 10/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – ĐÀ NẴNG về hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 122/2025/HS.ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đỗ Văn Quốc Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Trần V phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger