TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - BẮC NINH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 12/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 01/12/2025
V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - BẮC NINH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Thạch Thiên Hà
- Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Công Hằng và ông Phan Duy Thạch.
- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Văn Tuyên – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân khu vực 9 - Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân nhân khu vực 9 - Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Tá Tuấn - Kiểm sát viên.
Trong ngày 01 tháng 12 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân khu vực 9 - Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 47/2025/TLST-HNGĐ ngày 21/10/2025 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2025/QĐXXST-HNGĐ, ngày 14/11/2025 của Toà án nhân dân khu vực 9 – Bắc Ninh, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1961; Trú tại: Thôn V, xã L, tỉnh Bắc Ninh (có mặt).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1969 (năm sinh theo CCCD mới); Nơi cư trú cuối cùng: Thôn V, xã L, tỉnh Bắc Ninh. Hiện trú tại: KDC E, Ấp G P, Đ, tỉnh Đồng Nai (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn và các lời khai tiếp theo tại Toà án, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị S trình bày: Tôi kết hôn với ông Nguyễn Văn H vào ngày 12/7/1984. Trước khi kết hôn hai chúng tôi có được tự nguyện tìm hiểu nhau và có đi đăng ký kết hôn tại UBND xã X, huyện G, tỉnh Bắc Ninh (nay là xã G, tỉnh Bắc Ninh). Sau ngày cưới vợ chồng về chung sống với nhau ngay, thời gian ban đầu vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc và sinh được với nhau 02 con chung. Đến năm 1990 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, lý do phát sinh mâu thuẫn là hai vợ chồng có nhiều bất đồng quan điểm trong cuộc sống cũng như trong làm ăn kinh tế. Mâu thuẫn của hai vợ chồng cũng được hai gia đình hoà giải nhiều lần nhưng không có kết quả, vợ chồng đã ly thân từ năm từ năm 1990 đến nay. Ttôi (Sử) thấy tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng đoàn tụ nên tôi xin ly hôn với ông Nguyễn Văn H. Hiện nay, tôi (Sử) không có thai
Về con chung: Tôi và ông Nguyễn Văn Học S1 được 02 con chung là cháu Nguyễn Văn T, sinh ngày 25/10/1985 và cháu Nguyễn Văn T1, sinh ngày 18/02/1990. Hiện các con chung đã trưởng thành, khoẻ mạnh bình thường, cả hai cháu đều đã lập ra đình ra ở riêng. Về con chung tôi không đề nghị gì.
Tài sản chung, công nợ: Không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.
- Bị đơn ông Nguyễn Văn H có văn bản trình bày: Tôi kết hôn với bà Nguyễn Thị S vào ngày 12/7/1984. Trước khi kết hôn hai chúng tôi có được tự nguyện tìm hiểu nhau và có đi đăng ký kết hôn tại UBND xã X, huyện G, tỉnh Bắc Ninh (nay là xã G, tỉnh Bắc Ninh). Sau ngày cưới, vợ chồng về chung sống với nhau ngay, thời gian ban đầu vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc và sinh được với nhau 02 con chung.
Đến năm 1990 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn vì hai vợ chồng có nhiều bất đồng quan điểm trong cuộc sống, cũng như trong làm ăn kinh tế. Mâu thuẫn của hai vợ chồng cũng được hai gia đình hoà giải nhiều lần nhưng không có kết quả, vợ chồng đã ly thân từ năm từ năm 1990 đến nay. Hiện nay, tôi thấy tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng đoàn tụ nên tôi đồng ý ly hôn với bà Nguyễn Thị S, tôi (Học) đề nghị Toà án xét xử vắng mặt.
Về con chung: Tôi và bà Nguyễn Thị Sử S2 được 02 con chung là cháu Nguyễn Văn T, sinh ngày 25/10/1985 và cháu Nguyễn Văn T1, sinh ngày 18/02/1990. Hiện các con chung đã trưởng thành, khoẻ mạnh bình thường, cả hai cháu đều đã lập gia đình và ra ở riêng. Đối với con chung tôi không đề nghị gì.
Tài sản chung, công nợ: Không đề nghị Tòa án giải quyết.
Tại phiên toà sơ thẩm, bà S giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị Toà án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Văn H. Ngoài ra, bà S không đề nghị Toà án giải quyết nội dung gì khác.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Bắc Ninh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án tới khi nghị án là đảm bảo đúng theo trình tự thủ tục tố tụng.
Về đường lối xét xử: Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 40, Điều 147, Điều 227, Điều 228 BLTTDS; Điều 51, 56 Luật HNGĐ; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, xử:
- Chấp nhận yêu cầu của bà S về việc ly hôn với ông H.
- Về con chung: không đề nghị giải quyết.
- Về tài sản chung, công nợ: Không đề nghị giải quyết.
- Về án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình: bà Nguyễn Thị S là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí ly hôn sơ thẩm cho bà S.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử thấy:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị S khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1969 (năm sinh theo CCCD mới; năm sinh theo đăng ký kết hôn là năm 1964, đã có xác nhận của UBND xã G là cùng một người); Nơi cư trú cuối cùng: Thôn V, xã L, tỉnh Bắc Ninh. Hiện trú tại: KDC E, Ấp G P, xã Đ, tỉnh Đồng Nai; trong bản trình bày ông H đồng ý để Tòa án nhân dân khu vực 9 – Bắc Ninh thụ lý giải quyết vụ án nên theo quy định tại Điều 28, 35, 39, 40 Bộ luật tố tụng dân sự; luật số 85/2025/QH15 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hoà giải đối thoại tại Toà án thì quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình” thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực 9 - Bắc Ninh.
Theo nội dung đơn khởi kiện thì bà Nguyễn Thị S đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1964. Tuy nhiên, ông H lại có năm sinh 1969 theo Căn cước công dân số [...] do Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 10/8/2021. Do có sự sai lệch về năm sinh nên Tòa án đã yêu cầu đương sự cung cấp xác nhận của chính quyền địa phương thể hiện ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1964 theo đơn khởi kiện của nguyên đơn và theo nhân thân người trong đăng ký kết hôn với bà Nguyễn Thị S với ông Nguyễn Văn H, sinh ngăm 1969 có đặc điểm nhân thân trong vụ án là một người. Do đó, Hội đồng xác định ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1969 theo biên bản trình bày gửi về cho Tòa án với ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1964 bị đơn trong vụ án là một người.
Trong quá trình giải quyết vụ án ông H đã có ý kiến trình bày và đề nghị giải quyết vắng mặt ở tất cả các buổi làm việc, phiên họp và phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án. Do vậy, Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt ông H theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự là phù hợp với quy định của pháp luật.
[2]. Về nội dung vụ án: Ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị S có đủ điều kiện kết hôn, khi kết hôn ông bà tự nguyện tìm hiểu, đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên hôn nhân của ông bà là hợp pháp cần được xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
Sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống ngay, thời gian ban đầu vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc và sinh với nhau 02 con chung. Đến năm 1990 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn lý do của mâu thuẫn là hai vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, cũng như trong làm ăn kinh tế. Mâu thuẫn của hai vợ chồng cũng được hai gia đình hoà giải nhiều lần nhưng không có kết quả, vợ chồng đã ly thân từ năm từ năm 1990 đến nay. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà S và ông H cũng đã tự thỏa thuận về việc thuận tình ly hôn và cùng đề nghị Tòa án xem xét giải quyết cho ly hôn với nhau.
Hội đồng xét xử xét thấy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nếu tiếp tục duy trì hôn nhân có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của các bên; khi giải quyết vụ án bà S và ông H đều có ý kiến đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn. Do đó, yêu cầu bà S đề nghị Tòa án tuyên xử cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Văn H là thỏa đáng, có căn cứ, cần được xem xét chấp nhận.
[3]. Về con chung: Bà Nguyễn Thị S và ông Nguyễn Văn Học S1 được 02 con chung là anh Nguyễn Văn T, sinh ngày 25/10/1985 và anh Nguyễn Văn T1, sinh ngày 18/02/1990. Hiện các con chung đã trưởng thành, khoẻ mạnh bình thường, cả hai anh đều đã lập ra đình ra ở riêng. Sau khi ly hôn bà S và ông H đều không yêu cầu gì về con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[4]. Đối với tài sản chung, công nợ: Đương sự không đề nghị Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[5]. Về án phí sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1961, hiện nay đã trên 60 tuổi, thuộc trường hợp là người cao tuổi theo Luật người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên bà S không phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Bởi các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 40, 146, 147, 227, 228, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; luật số 85/2025/QH15 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hoà giải đối thoại tại Toà án; Điều 51, 56, 57 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị S.
- [1]. Quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị S được ly hôn với ông Nguyễn Văn H.
- [2]. Con chung: Không xem xét giải quyết.
- [3]. Tài sản chung, công nợ và các nội dung khác: Không xem xét giải quyết.
- [4]. Án phí sơ thẩm: Miễn án phí ly hôn sơ thẩm cho bà Nguyễn Thị S.
- [5]. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Thạch Thiên Hà |
Bản án số 12/2025/HNGĐ-ST ngày 01/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - BẮC NINH về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 12/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 01/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
